Tăng cường thu hút đầu tư tư nhân và hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
ThS. Nguyễn Thị Huyền Thu
Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững; Email: huyenthu.ihgeo@gmail.com
TS. Nguyễn Thị Bích Nguyệt
Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
Trần Nguyên Chương
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư cho xử lý chất thải rắn sinh hoạt ngày càng lớn, trong khi nguồn lực ngân sách nhà nước còn hạn chế, thu hút đầu tư tư nhân và hợp tác công tư là giải pháp quan trọng nhằm bổ sung vốn, công nghệ và năng lực quản trị. Bài viết phân tích thực trạng tham gia của khu vực tư nhân và triển khai hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù đầu tư tư nhân ngày càng mở rộng, đặc biệt trong lĩnh vực đốt rác phát điện, việc triển khai các dự án theo phương thức hợp tác công tư vẫn còn hạn chế do những điểm nghẽn về cơ chế giá, phân bổ rủi ro, chuẩn bị dự án, tính đồng bộ của chuỗi quản lý chất thải và khả năng thu xếp vốn dài hạn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hoàn thiện cơ chế chuyên ngành, nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án, sử dụng hiệu quả nguồn lực công để dẫn dắt vốn tư nhân và gắn hợp tác công tư với phát triển kinh tế tuần hoàn.
Từ khoá: Hợp tác công tư, đầu tư tư nhân, chất thải rắn sinh hoạt, điện rác
Abstract
In the context of increasing demand for investment in municipal solid waste treatment, while state budget resources remain limited, attracting private investment and promoting public-private partnerships are important solutions to supplement capital, technology, and management capacity. The paper analyzes the current situation of private-sector participation and the implementation of public-private partnerships in municipal solid waste treatment in Viet Nam. The research results show that, although private investment has increasingly expanded, particularly in the field of waste-to-energy incineration, the implementation of projects under the public-private partnership model remains limited due to bottlenecks related to pricing mechanisms, risk allocation, project preparation, the coordination of the waste management chain, and the ability to arrange long-term financing. Based on these findings, the paper proposes improving sector-specific mechanisms, enhancing the quality of project preparation, effectively using public resources to attract and leverage private capital, and linking public-private partnerships with the development of a circular economy.
Keywords: Public-private partnerships, private investment, municipal solid waste, waste-to-energy
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt (chất thải rắn sinh hoạt) đang là một trong những thách thức lớn đối với phát triển bền vững. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên cả nước khoảng 62.967 tấn/ngày, trong đó chất thải được xử lý bằng phương pháp chôn lấp chiếm 59,32%, đốt phát điện chiếm 15,54% (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026a). Đến năm 2050, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh được dự báo có thể đạt khoảng 95.721 tấn/ngày. Thực tế này đặt ra yêu cầu đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn và tận dụng tối đa nguồn tài nguyên từ chất thải (Bộ Nông nghiệp và môi trường, 2026c).
Quá trình chuyển đổi này đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn cho hệ thống thu gom, vận chuyển và công nghệ xử lý hiện đại. Tuy nhiên, kết quả triển khai trên thực tế chưa tương xứng với nhu cầu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026a). Kể từ khi Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 (sau đây gọi tắt là Luật PPP) được ban hành, phần lớn các dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo phương thức PPP vẫn ở giai đoạn chuẩn bị, lập hoặc phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026c). Nhiều dự án còn gặp vướng mắc liên quan đến giá dịch vụ, thời hạn hợp đồng, chất lượng và khối lượng chất thải đầu vào, phân bổ rủi ro, giao đất và cho thuê đất (Nguyễn Thế Chinh, 2026).
Từ cách tiếp cận trên, bài viết phân tích cơ sở chính sách và yêu cầu huy động nguồn lực tư nhân; đánh giá thực trạng đầu tư tư nhân và hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam; nhận diện những điểm nghẽn trong cơ chế thực hiện; đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm khơi thông nguồn lực tư nhân, nâng cao hiệu quả xử lý chất thải và thúc đẩy chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn.
CƠ SỞ CHÍNH SÁCH VÀ YÊU CẦU HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TƯ NHÂN CHO XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Chính sách quản lý chất thải rắn sinh hoạt đang chuyển từ thu gom, xử lý đơn thuần sang quản lý tổng hợp, tăng cường xã hội hóa và phát triển kinh tế tuần hoàn (Nguyễn Thị Hồng Liễu và Dương Thị Thanh Xuyến, 2026). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cùng các quy định về đầu tư, đấu thầu và PPP đã tạo cơ sở để khu vực tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ môi trường, từ thu gom, vận chuyển đến đầu tư, vận hành cơ sở xử lý, tái chế và đốt rác phát điện (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026a; Quốc hội, 2020b).
Việc giảm chôn lấp, tăng tái chế và thu hồi năng lượng đòi hỏi công nghệ hiện đại cùng nguồn vốn đầu tư, vận hành lớn. Trong khi ngân sách nhà nước còn hạn chế, huy động nguồn lực tư nhân trở thành yêu cầu cấp thiết để nâng cấp đồng bộ hạ tầng xử lý chất thải rắn sinh hoạt (World Bank Group, 2017; Cointreau và cộng sự, 2000). Tuy nhiên, doanh nghiệp tham gia đầu tư hoặc cung ứng dịch vụ xử lý chất thải không đồng nghĩa với việc dự án được thực hiện theo phương thức PPP (World Bank Group, 2017).
Luật PPP đã xác lập khuôn khổ pháp lý cho hợp tác công tư trong lĩnh vực xử lý chất thải. Các chính sách chuyên ngành đang tiếp tục được hoàn thiện nhằm làm rõ phương án tài chính, cơ chế thanh toán, đánh giá hiệu quả và phân bổ rủi ro. Đồng thời, việc coi chất thải là nguồn nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu có thể thu hồi, tái chế đang mở ra cơ hội hình thành thị trường dịch vụ môi trường và tạo giá trị kinh tế từ chất thải (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026a; Nguyễn Thế Chinh, 2026).
Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực chất thải rắn sinh hoạt, các dự án PPP khó vận hành hoàn toàn theo cơ chế thương mại. Doanh thu phụ thuộc lớn vào giá dịch vụ xử lý, khả năng thanh toán dài hạn của khu vực công, khối lượng và thành phần chất thải đầu vào; trong khi nguồn thu từ điện, vật liệu tái chế và sản phẩm thu hồi chưa ổn định (Kaza và cộng sự, 2018). Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính và khả năng thu hút đầu tư của dự án.
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TƯ NHÂN, HỢP TÁC CÔNG TƯ TRONG XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Thực trạng
Sự tham gia của khu vực tư nhân vào xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam ngày càng mở rộng trong bối cảnh lượng chất thải gia tăng và yêu cầu chuyển đổi công nghệ xử lý (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026c). Theo số liệu tổng hợp của Cục Môi trường, năm 2025, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên cả nước khoảng 72.315 tấn/ngày, gồm 39.153 tấn/ngày tại khu vực đô thị và 33.162 tấn/ngày tại khu vực nông thôn; tỷ lệ được thu gom, xử lý tương ứng đạt khoảng 97,58% và 84,22%.
Cả nước có khoảng 1.550 cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt, gồm 1.176 cơ sở chôn lấp, 333 cơ sở đốt không phát điện, 30 cơ sở xử lý thành mùn/phân hữu cơ và 11 cơ sở đốt phát điện (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026a). Xét theo khối lượng được xử lý, chôn lấp vẫn chiếm khoảng 59%. Những số liệu này cho thấy, nhu cầu đầu tư không chỉ xuất phát từ sự gia tăng lượng chất thải rắn sinh hoạt mà còn từ yêu cầu chuyển đổi cơ cấu công nghệ theo hướng giảm chôn lấp, tăng tái chế, thu hồi tài nguyên và năng lượng.
Cùng với quá trình xã hội hóa dịch vụ môi trường, khu vực tư nhân đã tham gia vào nhiều công đoạn của chuỗi quản lý chất thải rắn sinh hoạt. Trong thu gom và vận chuyển, doanh nghiệp chủ yếu tham gia thông qua đấu thầu, đặt hàng hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ công. Ở khâu xử lý, sự tham gia của tư nhân sâu hơn thông qua đầu tư xây dựng cơ sở xử lý, lựa chọn công nghệ, tổ chức vận hành và khai thác nguồn thu từ dịch vụ xử lý, năng lượng, vật liệu tái chế và các sản phẩm sau xử lý. Qua đó, lĩnh vực xử lý chất thải rắn sinh hoạt đang từng bước chuyển từ mô hình chủ yếu dựa vào các đơn vị công ích sang mô hình có sự tham gia ngày càng rõ của doanh nghiệp và thị trường dịch vụ môi trường.
Điện rác đang là một trong những phân khúc thể hiện rõ xu hướng thu hút đầu tư tư nhân và có tiềm năng áp dụng PPP. Đây là loại hình đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ và năng lực vận hành cao, thời gian hoàn vốn dài, đồng thời có khả năng kết hợp nguồn thu từ dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt với thu hồi năng lượng. Theo Cục Môi trường, hiện có 11 nhà máy đang hoạt động và phát điện với tổng công suất được cấp phép khoảng 10.432 tấn/ngày; 17 dự án dự kiến triển khai xây dựng với tổng công suất 16.594 tấn/ngày; và 10 dự án đang chuẩn bị thu hút đầu tư với tổng công suất khoảng 9.450 tấn/ngày. Tổng công suất của 38 nhà máy và dự án đạt khoảng 36.476 tấn/ngày, tương đương khoảng 50% lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên cả nước (Nguyễn Thị Hồng Liễu, Dương Thị Thanh Xuyến, 2026).
Bảng 1: Hiện trạng và danh mục dự án điện rác tại Việt Nam
|
Trạng thái dự án |
Số nhà máy/dự án |
Tổng công suất (tấn/ngày) |
Tỷ trọng công suất (%) |
|---|---|---|---|
|
Đang hoạt động và phát điện |
11 |
10.432 |
28,6 |
|
Dự kiến triển khai xây dựng |
17 |
16.594 |
45,5 |
|
Đang chuẩn bị thu hút đầu tư |
10 |
9.450 |
25,9 |
|
Tổng cộng |
38 |
36.476 |
100 |
Nguồn: Cục Môi trường, 2026
Danh mục các cơ sở đang hoạt động cho thấy sự tham gia của nhiều doanh nghiệp vào phân khúc điện rác, với quy mô công suất khá đa dạng (Bảng 2).
Bảng 2: Một số nhà máy đốt chất thải rắn sinh hoạt phát điện đang hoạt động tại Việt Nam
|
TT |
Nhà máy/dự án |
Địa phương |
Doanh nghiệp/nhà đầu tư |
Công suất xử lý (tấn/ngày) |
|---|---|---|---|---|
|
1 |
Nhà máy xử lý chất thải rắn (rác sinh hoạt) Cần Thơ |
Cần Thơ |
Công ty TNHH Năng lượng Môi trường EB (Cần Thơ) |
400 |
|
2 |
Nhà máy điện rác Sóc Sơn |
Hà Nội |
Công ty Cổ phần Năng lượng Môi trường Thiên Ý Hà Nội |
5.000 |
|
3 |
Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt công nghệ cao phát năng lượng |
Bắc Ninh |
Công ty CP Môi trường Năng lượng Thăng Long |
500 |
|
4 |
Nhà máy xử lý chất thải rắn Phú Sơn |
Huế |
Công ty TNHH Năng lượng Môi trường EB Huế |
600 |
|
5 |
Nhà máy điện rác Lương Tài |
Bắc Ninh |
Công ty TNHH Năng lượng mới EU-Conch Venture Bắc Ninh |
300 |
|
6 |
Khu liên hợp xử lý chất thải công nghiệp, chất thải rắn sinh hoạt phát điện |
Tây Ninh |
Công ty TNHH Môi trường Ngôi Sao Xanh |
180 |
|
7 |
Nhà máy đốt rác phát điện tại Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Bình Dương |
TP. Hồ Chí Minh |
Công ty TNHH MTV Liên hợp KH-CN-MT Biwase |
201,6 |
|
8 |
Nhà máy điện rác Seraphin |
Hà Nội |
Công ty CP Công nghệ Môi trường xanh Seraphin |
2.250 |
|
9 |
Nhà máy điện rác Thuận Thành |
Bắc Ninh |
Công ty TNHH Năng lượng xanh T&J |
350 |
|
10 |
Nhà máy điện rác Hậu Giang |
Cần Thơ |
Công ty TNHH MTV Greenity Hậu Giang |
Giai đoạn 1: 300 tấn/ngày; giai đoạn 2: 600 tấn/ngày |
|
11 |
Nhà máy xử lý chất thải rắn Trà Vinh |
Vĩnh Long |
Công ty TNHH Greenity Trà Vinh |
500 |
Nguồn: Tổng hợp từ Cục Môi trường, 2026
Tuy nhiên, sự tham gia của khu vực tư nhân không đồng nghĩa với việc các dự án này đều được thực hiện theo phương thức đối tác công tư. Trên thực tế, đầu tư xử lý chất thải rắn sinh hoạt hiện được triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau (từ doanh nghiệp tự đầu tư, dự án xã hội hóa, dự án đầu tư có sử dụng đất, đấu thầu hoặc đặt hàng cung cấp dịch vụ công đến dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư). Vì vậy, việc gia tăng số lượng cơ sở xử lý do doanh nghiệp đầu tư phản ánh xu hướng huy động nguồn lực ngoài nhà nước, nhưng chưa thể được xem trực tiếp là kết quả theo khuôn khổ pháp luật về hợp tác công tư.
Xét tổng thể, sự tham gia ngày càng rộng của khu vực tư nhân đã góp phần bổ sung nguồn lực đầu tư, mở rộng năng lực xử lý và thúc đẩy ứng dụng các công nghệ hiện đại, đặc biệt là điện rác. Quy mô các dự án đang hoạt động, dự kiến xây dựng và chuẩn bị đầu tư cho thấy, thị trường đầu tư xử lý chất thải đang từng bước hình thành và còn dư địa đáng kể cho khu vực tư nhân.
Những điểm nghẽn
Thứ nhất, cơ chế giá dịch vụ chưa bảo đảm nguồn thu ổn định cho dự án
Doanh thu của dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt phụ thuộc chủ yếu vào giá dịch vụ và nghĩa vụ thanh toán của khu vực công. Tuy nhiên, giá dịch vụ tại nhiều địa phương còn thấp, chưa phản ánh đầy đủ chi phí đầu tư, vận hành và công nghệ; thời hạn hợp đồng chưa tương xứng với vòng đời dự án. Đối với dự án điện rác, nguồn thu từ bán điện chỉ mang tính bổ sung. Vì vậy, sự thiếu ổn định về giá, cơ chế điều chỉnh và cam kết thanh toán dài hạn khiến nhà đầu tư khó dự báo dòng tiền, đồng thời hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng.
Thứ hai, cơ chế phân bổ và chia sẻ rủi ro chưa phù hợp với đặc thù của dự án
Dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt chịu nhiều rủi ro về khối lượng và thành phần chất thải đầu vào, đất đai, giải phóng mặt bằng, giá dịch vụ và thị trường đầu ra. Trong đó, nhiều yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của nhà đầu tư nhưng chưa có cơ chế chia sẻ rõ ràng. Nếu phần lớn rủi ro được chuyển sang khu vực tư nhân, chi phí vốn sẽ tăng và sức hấp dẫn của dự án giảm; ngược lại, nếu Nhà nước gánh quá nhiều rủi ro, hiệu quả của PPP khó được bảo đảm. Do đó, cần phân bổ từng nhóm rủi ro cho bên có khả năng quản lý tốt nhất và xây dựng cơ chế chia sẻ đối với những rủi ro vượt ngoài khả năng kiểm soát của mỗi bên.
Thứ ba, chất lượng chuẩn bị dự án và lựa chọn mô hình PPP còn hạn chế
Dự án PPP trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt đòi hỏi dữ liệu tương đối chính xác về khối lượng và thành phần chất thải; công nghệ, công suất phù hợp; phương án giá, nguồn thu, chi phí vòng đời, phân bổ rủi ro và khả năng thu xếp vốn. Tuy nhiên, phần lớn dự án được ghi nhận sau khi Luật PPP năm 2020 có hiệu lực vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị. Bên cạnh đó, thủ tục đầu tư, đất đai và giải phóng mặt bằng tại một số địa phương còn kéo dài. Điều này cho thấy năng lực chuẩn bị dự án của khu vực công, nhất là xây dựng phương án kỹ thuật, tài chính và hợp đồng, chưa đáp ứng yêu cầu.
Thứ tư, cơ sở xử lý chưa được đầu tư đồng bộ với toàn bộ chuỗi quản lý chất thải
Hiệu quả của cơ sở xử lý phụ thuộc vào phân loại tại nguồn, hệ thống thu gom, vận chuyển, khối lượng và thành phần chất thải đầu vào, cũng như thị trường cho sản phẩm sau xử lý. Theo Cục Môi trường, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, mới có 26/34 địa phương triển khai thí điểm phân loại chất thải. Tiến độ phân loại chưa đồng đều làm tăng chi phí tiền xử lý, giảm hiệu suất công nghệ và ảnh hưởng đến doanh thu của các dự án điện rác, tái chế và sản xuất phân hữu cơ.
Thứ năm, khả năng huy động vốn dài hạn còn hạn chế
Các dự án xử lý chất thải hiện đại, đặc biệt là đốt rác phát điện, đòi hỏi vốn đầu tư lớn và thời gian hoàn vốn dài. Tuy nhiên, giá dịch vụ thiếu ổn định, thời hạn hợp đồng chưa phù hợp, rủi ro đầu vào chưa được phân bổ rõ ràng và nghĩa vụ thanh toán của khu vực công chưa đủ tin cậy khiến dự án khó đáp ứng yêu cầu của các tổ chức tài chính. Các nguồn lực như tín dụng xanh, quỹ bảo vệ môi trường, vốn khí hậu và thị trường carbon mới chỉ mang tính bổ sung, còn khả năng tiếp cận phụ thuộc vào chất lượng và cấu trúc tài chính của từng dự án.
Nhìn chung, điểm nghẽn không chỉ nằm ở sự thiếu hụt vốn tư nhân mà còn ở việc chưa hình thành đầy đủ các điều kiện kỹ thuật, pháp lý và tài chính để xây dựng những dự án khả thi, có khả năng thu hút nhà đầu tư và tổ chức tín dụng tham gia lâu dài.
GIẢI PHÁP
Từ những điểm nghẽn nêu trên, việc thúc đẩy hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt cần chuyển từ tư duy “khuyến khích xã hội hóa” sang thiết kế các dự án có cấu trúc pháp lý, tài chính và hợp đồng đủ rõ để khu vực tư nhân có thể tham gia dài hạn. Trọng tâm không chỉ là tạo thêm ưu đãi, mà là hoàn thiện các điều kiện bảo đảm tính khả thi của dự án và khả năng huy động vốn.
Một là, hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý và chuẩn hóa cơ chế chuyên ngành chất thải rắn sinh hoạt
Cần bảo đảm sự liên thông giữa pháp luật về bảo vệ môi trường, hợp tác công tư, đầu tư, đấu thầu, đất đai, giá và điện lực; đồng thời làm rõ loại hợp đồng, cơ chế thanh toán, trách nhiệm của các bên và nguyên tắc lựa chọn nhà đầu tư phù hợp với đặc thù dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
Định hướng sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường hiện nay theo hướng phân định rõ việc lựa chọn nhà đầu tư xây dựng dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo pháp luật về đầu tư, đầu tư công hoặc PPP là bước cần thiết để giảm chồng chéo và tăng tính minh bạch trong thực hiện.
Hai là, hoàn thiện cơ chế giá, thanh toán, phân bổ rủi ro để tạo dòng tiền ổn định cho dự án
Giá dịch vụ xử lý cần được xác định theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí hợp lý trong vòng đời dự án và có cơ chế điều chỉnh phù hợp khi điều kiện đầu vào, tiêu chuẩn môi trường hoặc chính sách thay đổi. Đồng thời, hợp đồng PPP cần quy định rõ trách nhiệm đối với các rủi ro về khối lượng và chất lượng chất thải rắn sinh hoạt, mặt bằng, thay đổi chính sách, thanh toán và thị trường đầu ra. Đối với các dự án có thời gian hoàn vốn dài, cam kết thanh toán của khu vực công phải đủ ổn định để tạo cơ sở cho nhà đầu tư và tổ chức tín dụng đánh giá dòng tiền dài hạn. Các tài liệu chuyên môn đều coi giá dịch vụ, hợp đồng dài hạn và cơ chế chia sẻ rủi ro là những điều kiện then chốt để nâng cao sức hấp dẫn của PPP.
Ba là, nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án và năng lực tổ chức thực hiện của địa phương
Dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt cần được xây dựng trên cơ sở dữ liệu đáng tin cậy về khối lượng, thành phần chất thải, hiện trạng phân loại tại nguồn, quỹ đất, hạ tầng kết nối, công suất xử lý và thị trường đầu ra.
Việc lựa chọn công nghệ phải phù hợp điều kiện thực tế và đánh giá trên cơ sở chi phí vòng đời, tránh tình trạng chạy theo công nghệ quy mô lớn nhưng không phù hợp với lượng rác và khả năng tài chính của địa phương. Cùng với đó, cần chuẩn hóa hồ sơ và hợp đồng mẫu, tăng năng lực phân tích tài chính, đánh giá rủi ro, đấu thầu, đàm phán và quản trị hợp đồng.
Bốn là, sử dụng nguồn lực công để dẫn dắt vốn tư nhân và gắn PPP với kinh tế tuần hoàn
PPP không đồng nghĩa với việc Nhà nước rút hoàn toàn khỏi đầu tư. Đối với dự án có hiệu quả môi trường và xã hội cao nhưng khả năng hoàn vốn thương mại còn hạn chế, có thể xem xét sử dụng vốn nhà nước cho hạ tầng kết nối, giải phóng mặt bằng hoặc các cấu phần cần thiết để nâng tính khả thi tài chính.
Mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng xanh, trái phiếu xanh, quỹ môi trường và nguồn vốn khí hậu cho các dự án điện rác, tái chế và thu hồi tài nguyên. Đồng thời, việc đẩy mạnh phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, phát triển thị trường nguyên liệu tái chế, phân compost, nhiên liệu thay thế và tín chỉ carbon có thể tạo thêm nguồn thu, giảm phụ thuộc vào ngân sách và nâng cao hiệu quả tài chính của dự án.
Nhìn tổng thể, thúc đẩy hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt không chỉ là bài toán huy động thêm vốn tư nhân mà còn là quá trình kiến tạo một thị trường dịch vụ môi trường. Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường, vai trò của Nhà nước cần chuyển mạnh từ trực tiếp cung cấp dịch vụ sang kiến tạo thị trường, thiết lập chuẩn mực, hỗ trợ những rủi ro khu vực tư nhân khó kiểm soát và giám sát chất lượng đầu ra; khu vực tư nhân tập trung vào vốn, công nghệ, đổi mới và quản trị. Khi các điều kiện đó được bảo đảm, PPP mới có thể trở thành công cụ thực chất để hiện đại hóa hạ tầng xử lý chất thải rắn sinh hoạt, giảm áp lực ngân sách và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.
(*) Bài viết là kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học: “Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn đề xuất hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích, thu hút hợp tác công tư trong thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường” (mã số TNMT.01/21-25), Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững chủ trì thực hiện.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026a). Báo cáo tổng kết thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026b). Dự thảo Thông tư hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư lĩnh vực xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
3. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026c). Tờ trình về việc ban hành Thông tư hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư lĩnh vực xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
4. Chính phủ (2025). Nghị định số 312/2025/NĐ-CP ngày 6/12/2025 quy định cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư và cơ chế thanh toán, quyết toán đối với dự án áp dụng loại hợp đồng BT.
5. Cointreau, S., Gopalan, P., & Coad, A. (2000). Private sector participation in municipal solid waste management: Guidance pack. SKAT/World Bank.
6. Kaza, S., Yao, L. C., Bhada-Tata, P., & Van Woerden, F. (2018). What a waste 2.0: A global snapshot of solid waste management to 2050. World Bank.
7. Nguyễn Thế Chinh (2026). Khung chính sách thu hút đầu tư tư nhân, hợp tác công tư trong thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam. Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam.
8. Nguyễn Thị Hồng Liễu và Dương Thị Thanh Xuyến (2026). Hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện. Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
9. Quốc hội (2020a). Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17/11/2020.
10. Quốc hội (2020b). Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư số 64/2020/QH14 ngày 18/6/2020.
11. Quốc hội (2024). Luật số 57/2024/QH15 ngày 29/11/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu.
12. Quốc hội (2025). Luật số 90/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và một số luật có liên quan.
13. World Bank Group (2017). Public-private partnerships reference guide (Version 3.0).
| Ngày nhận bài: 14/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/8/2026; Ngày duyệt đăng: 5/9/2026 |
Các tin khác
Đề xuất mô hình nghiên cứu ý định mua ô tô điện của người tiêu dùng Việt Nam: Tiếp cận tích hợp TPB, TAM và các điều kiện thị trường
Năng suất lao động, đầu tư nước ngoài và thể chế trong năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam
Mối quan hệ giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp: Bằng chứng từ các quốc gia OECD
Vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách: Nghiên cứu tại Nghệ An và hàm ý chính sách
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu suất công việc của nhân viên hành chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TP. Hồ Chí Minh
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hậu cần hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài: Vai trò trung gian của giá trị cảm nhận
Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Supertex, TP. Hà Nội
Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu