Mối quan hệ giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp: Bằng chứng từ các quốc gia OECD
Nguyễn Hải Lộc Giao
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Ngoại thương
Email: nguyenhailocgiao@gmail.com
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích mối quan hệ phi tuyến giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp tại các quốc gia OECD. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng của 37 quốc gia trong giai đoạn 2006-2024 được phân tích bằng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS), kết hợp kiểm định mối quan hệ chữ U ngược và các phân tích về tính vững và khả năng nội sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp có mối quan hệ chữ U ngược; khi thay tỷ lệ thất nghiệp bằng tỷ lệ việc làm, kết quả vẫn nhất quán về mặt định tính. Từ đó, nghiên cứu khuyến nghị chính sách khởi nghiệp không chỉ chú trọng gia tăng số lượng doanh nghiệp mà còn cần nâng cao khả năng tồn tại, mở rộng và tạo việc làm của doanh nghiệp mới.
Từ khoá: FGLS, mật độ doanh nghiệp mới, mối quan hệ phi tuyến tính, OECD, tỷ lệ thất nghiệp
Abstract
The study analyzes the nonlinear relationship between new business density and the unemployment rate across OECD countries. The study uses an unbalanced panel dataset of 37 countries covering the period from 2006 to 2024, which is analyzed using the feasible generalized least squares (FGLS) method, combined with an inverted U-shaped relationship test and analyses of robustness and endogeneity. The results indicate that new business density and the unemployment rate have an inverted U-shaped relationship. When the employment rate is used instead of the unemployment rate, the results remain qualitatively consistent. Based on these findings, the study recommends that entrepreneurship policies should not only focus on increasing the number of new businesses but also on improving their survival, expansion, and job-creation capacity.
Keywords: FGLS, new business density, nonlinear relationship, OECD, unemployment rate
Giới thiệu
Thất nghiệp là thách thức lớn với thị trường lao động toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2025), năm 2024, tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu duy trì ở mức 5%, song sự ổn định này chưa phản ánh đầy đủ chất lượng việc làm và khả năng phục hồi của thị trường lao động. Vì vậy, các quốc gia OECD chú trọng bảo vệ thu nhập, đào tạo lại kỹ năng và mở rộng cơ hội việc làm bền vững, phùhợp với điều kiện của từng quốc gia (OECD, 2024).
Bên cạnh những chính sách hỗ trợ chuyển đổi lao động, việc thúc đẩy thành lập và phát triển doanh nghiệp mới được xem là một kênh quan trọng để mở rộng cơ hội việc làm, hỗ trợ đổi mới và tăng khả năng hấp thụ lao động của nền kinh tế (Fritsch và Mueller, 2004). Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây về tác động thực tế của mật độ doanh nghiệp mới đến tỷ lệ thất nghiệp không hoàn toàn đồng nhất, đặc biệt về tính tuyến tính hay phi tuyến trong mối quan hệ này.
Do đó, nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng của 37 quốc gia OECD giai đoạn 2006-2024 và phương pháp FGLS, kết hợp kiểm định U, để phân tích mối quan hệ giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ việc làm được sử dụng làm biến phụ thuộc thay thế nhằm kiểm tra tính vững của kết quả.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Mật độ doanh nghiệp mới được xác định bằng số công ty TNHH đăng ký mới trong năm trên 1.000 người từ 15 đến 64 tuổi, phản ánh mức độ hình thành doanh nghiệp chính thức và cho phép so sánh giữa các quốc gia có quy mô dân số khác nhau. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ người không có việc làm, sẵn sàng làm việc và đang tìm việc trong tổng lực lượng lao động, phản ánh mức độ chưa sử dụng hết nguồn cung lao động của nền kinh tế (ILO, 2026).
Mối quan hệ giữa mật độ doanh nghiệp mới và thất nghiệp được giải thích dựa trên Lý thuyết phá hủy sáng tạo. Theo Schumpeter (1942), sự xuất hiện của doanh nghiệp mới thúc đẩy đổi mới và tái phân bổ nguồn lực, nhưng đồng thời có thể khiến các doanh nghiệp kém hiệu quả hơn thu hẹp hoặc rời khỏi thị trường. Vì vậy, quá trình thành lập doanh nghiệp có thể đồng thời tạo ra việc làm và phá huỷ các việc làm hiện hữu. Lập luận này cũng được Mortensen và Pissarides (1994) ủng hộ, theo đó tạo việc làm và phá huỷ việc làm là 2 quá trình diễn ra song song trên thị trường lao động. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng ghi nhận cả tác động tích cực và tiêu cực của doanh nghiệp mới đối với việc làm, tùy thuộc vào bối cảnh khu vực (Fritsch và Mueller, 2004; Van Stel và Storey, 2004).
Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết: Mật độ doanh nghiệp mới có quan hệ phi tuyến dạng chữ U với tỷ lệ thất nghiệp tại các quốc gia OECD.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng của 37 quốc gia OECD giai đoạn 2006-2024, thu thập từ World Development Indicators của Ngân hàng Thế giới.
Bảng 1: Mô tả biến và nguồn dữ liệu
| Loại biến | Tên biến | Ký hiệu |
|---|---|---|
| Biến phụ thuộc | Tỷ lệ thất nghiệp | Unemp |
| Biến độc lập | Mật độ doanh nghiệp mới | NBD |
| Mật độ doanh nghiệp mới bình phương | NBD² | |
| Biến kiểm soát | Tăng trưởng GDP | GDPgrowth |
| Tỷ lệ tổng số người nhập học bậc đại học/cao đẳng | Edu | |
| Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Dòng vốn FDI ròng (% GDP), được biến đổi bằng hàm inverse hyperbolic sine) | FDIasinh |
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Biến đổi inverse hyperbolic sine giúp giữ lại các giá trị FDI âm và hạn chế ảnh hưởng của các giá trị quá lớn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp FGLS để ước lượng mô hình; đồng thời thay tỷ lệ thất nghiệp bằng tỷ lệ việc làm trên dân số từ 15 tuổi trở lên để kiểm tra tính vững của kết quả.
Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Phân tích tương quan
Bảng 2 cho thấy, NBD và Unemp có tương quan âm ở mức thấp, với hệ số tương quan là -0.171 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Tương quan giữa các biến giải thích đều thấp, bước đầu cho thấy nguy cơđa cộng tuyến không đáng kể.
Bảng 2: Ma trận tương quan
|
| Unemp | NBD | GDPgrowth | Edu | FDI (asinh) |
|---|---|---|---|---|---|
| Unemp | 1.000 |
|
|
|
|
| NBD | -0.171*** | 1.000 |
|
|
|
| GDPgrowth | -0.139*** | 0.036 | 1.000 |
|
|
| Edu | 0.217*** | -0.098** | 0.004 | 1.000 |
|
| FDI (asinh) | 0.071* | 0.046 | 0.237*** | -0.056 | 1.000 |
Chú thích: *, ** và *** lần lượt biểu thị mức ý nghĩa thống kê ở ngưỡng 10%, 5% và 1%.
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Kiểm định mô hình
Kết quả Bảng 3 cho thấy, hệ số VIF dao động từ 1.012-1.064; VIF trung bình là 1.037. Các giá trị VIF của các biến giải thích đều < 2, cho thấy chưa có dấu hiệu đa cộng tuyến nghiêm trọng
Bảng 3: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến
| Variable | VIF | 1/VIF |
|---|---|---|
| NBD | 1.012 | 0.988035 |
| GDPgrowth | 1.061 | 0.942886 |
| Edu | 1.013 | 0.987407 |
| FDI (asinh) | 1.064 | 0.939671 |
| Mean VIF | 1.037 |
|
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Kết quả phân tích bằng phần mềm R tại Bảng 4 cho thấy, mô hình tác động cố định (FE) và mô hình tác động ngẫu nhiên (RE) phù hợp hơn mô hình bình phương tối thiểu gộp (Pooled OLS). Kiểm định Hausman có p-value = 0.2633 > 0.05, do đó không bác bỏ H0 và mô hình RE được lựa chọn thay cho FE.
Bảng 4: Kết quả của các kiểm định mô hình
| Mô hình so sánh | Phương thức kiểm định | Giá trị thống kê | P-value | Kết luận |
|---|---|---|---|---|
| Pooled OLS và FE | F-test | 28.011 | < 0.0001 | FE phù hợp hơn Pooled OLS |
| Pooled OLS và RE | Breusch-Pagan LM test | 1,469.614 | < 0.0001 | RE phù hợp hơn Pooled OLS |
| FE và RE | Hausman test | 6.468 | 0.2633 | Không bác bỏ H0 RE phù hợp hơn FE |
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Các kiểm định cho thấy mô hình tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và phụ thuộc chéo giữa các quốc gia. Do đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp FGLS để xử lý phương sai sai số thay đổi và tự tương quan; đồng thời lưu ý hiện tượng phụ thuộc chéo khi diễn giải kết quả.
Bảng 5: Kết quả kiểm định khuyết tật mô hình
| Nội dung kiểm định | Phương thức kiểm định | Giá trị thống kê | P-value | Kết quả |
|---|---|---|---|---|
| Phương sai sai số thay đổi | Breusch-Pagan test | 45.296 | < 0.0001 | Tồn tại phương sai thay đổi |
| Tự tương quan trong nội bộ quốc gia | Wooldridge test | 1,576.428 | < 0.0001 | Tồn tại tự tương quan |
| Phụ thuộc chéo giữa các quốc gia | Pesaran CD test | 26.269 | < 0.0001 | Tồn tại phụ thuộc chéo |
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Kết quả hồi quy cơ sở
Bảng 6 trình bày kết quả hồi quy cơ sở theo mô hình RE và FGLS, với 2 đặc tả không có và có các biến kiểm soát.
Bảng 6: Kết quả hồi quy cơ sở
| Biến | RE (1) | RE (2) | FGLS (3) | FGLS (4) |
|---|---|---|---|---|
| NBD | -0.0209 | -0.0356 | 0.0924*** | 0.1715*** |
|
| (0.1111) | (0.1095) | (0.0154) | (0.0083) |
| NBD² | -0.0009 | -0.0000 | -0.0021*** | |
|
| (0.0037) | (0.0037) | (0.0005) | (0.0003) |
| GDP growth |
| -0.1822*** |
| -0.0950*** |
|
|
| (0.0355) |
| (0.0019) |
| Edu |
| 0.0256** |
| 0.0086*** |
|
|
| (0.0103) |
| (0.0011) |
| FDI (asinh) |
| 0.0318 |
| 0.0398*** |
|
|
| (0.0580) |
| (0.0028) |
| Biến kiểm soát | Không | Có | Không | Có |
| Số quan sát | 583 | 583 | 583 | 583 |
| R² | 0.319 |
|
|
Chú thích: *, ** và *** lần lượt biểu thị mức ý nghĩa thống kê ở ngưỡng 10%, 5% và 1%.
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Trong mô hình FGLS có biến kiểm soát, NBD mang dấu dương và NBD² mang dấu âm; cả 2 đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Kết quả xác nhận mối quan hệ chữ U ngược giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp, qua đó ủng hộ giả thuyết nghiên cứu.
Bên cạnh đó, đối với các biến kiểm soát, tăng trưởng GDP có tác động âm đến tỷ lệ thất nghiệp ở mức ý nghĩa 1%, cho thấy sự mở rộng của nền kinh tế góp phần nâng cao khả năng hấp thụ lao động. Ngược lại, tỷ lệ nhập học bậc đại học và FDI sau biến đổi có tác động dương và đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%.
Kiểm định U xác định điểm ngoặt tại 18.179, nằm trong phạm vi quan sát của mẫu. Độ dốc tại cận dưới mang dấu dương, còn độ dốc tại cận trên mang dấu âm và đều có ý nghĩa thống kê, tiếp tục xác nhận mối quan hệ chữ U ngược.
Bảng 7: Kết quả kiểm định mối quan hệ “hình chữ U ngược” giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp
|
| Cận dưới | Cận trên |
|---|---|---|
| Khoảng giá trị | 0.188 | 29.405 |
| Độ dốc | 0.170 | -0.106 |
| Giá trị z | 20.686 | -11.724 |
| P-value | < 0.0001 | < 0.0001 |
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Hình 1 cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp tăng khi NBD thấp hơn điểm ngoặt 18.179 và có xu hướng giảm khi NBD vượt ngưỡng này.
Hình 1: Đồ thị quan hệ “hình chữ U ngược” giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp
![]() |
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Kiểm định tính vững
Nghiên cứu thay tỷ lệ thất nghiệp bằng tỷ lệ việc làm trên dân số từ 15 tuổi trở lên để kiểm tra tính vững của kết quả.
Bảng 8: Kết quả kiểm định tính vững của mô hình
| Biến | (1) Thay biến phụ thuộc: Tỷ lệ việc làm |
|---|---|
| NBD | -0.0675*** |
|
| (0.0141) |
| NBD² | 0.0031*** |
|
| (0.0006) |
| GDP growth | 0.0448*** |
|
| (0.0032) |
| Edu | -0.0044 |
|
| (0.0037) |
| FDI (asinh) | 0.0003 |
|
| (0.0057) |
| Số quan sát | 583 |
| Hiệu ứng quốc gia | Có |
Chú thích: *, ** và *** lần lượt biểu thị mức ý nghĩa thống kê ở ngưỡng 10%, 5% và 1%.
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Bảng 8 cho thấy, hệ số của NBD mang dấu âm, hệ số của NBD² mang dấu dương; cả 2 đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Như vậy, mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ việc làm có quan hệ chữ U. Do tỷ lệ việc làm phản ánh thị trường lao động theo chiều ngược với tỷ lệ thất nghiệp, kết quả này nhất quán với mối quan hệ chữ U ngược trong mô hình cơ sở.
Sau khi thay thế biến phụ thuộc, kiểm định U về mối quan hệ giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp được trình bày ở Bảng 9.
Bảng 9: Kết quả kiểm định mối quan hệ chữ U sau khi thay thế biến phụ thuộc
|
| Cận dưới | Cận trên |
|---|---|---|
| Khoảng giá trị | 0.188 | 29.405 |
| Độ dốc | -0.066 | 0.116 |
| Giá trị z | -4.757 | 4.894 |
| P-value | <0.0001 | <0.0001 |
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Nhằm minh hoạ trực quan hơn mối quan hệ phi tuyến dạng chữ U giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ việc làm trong kiểm định tính vững, nghiên cứu đã xây dựng biểu đồ trực quan dựa trên kiểm định tính vững. Chi tiết thể hiện ở Hình 2.
Hình 2: Biểu đồ trực quan hóa kết quả kiểm định tính vững
![]() |
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Khi NBD tăng từ giá trị nhỏ nhất đến điểm ngoặt 10.784, tỷ lệ việc làm dự báo có xu hướng giảm; sau điểm ngoặt, tỷ lệ này tăng trở lại. Kết quả kiểm định tính vững phù hợp về mặt định tính với mối quan hệ chữ U ngược giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp trong mô hình cơ sở.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ phi tuyến dạng chữ U ngược giữa mật độ doanh nghiệp mới và tỷ lệ thất nghiệp. Ở giai đoạn đầu, mật độ doanh nghiệp mới gia tăng đi kèm tỷ lệ thất nghiệp cao hơn; song khi đạt ngưỡng nhất định, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm. Kiểm định tính vững bằng tỷ lệ việc làm cho kết quả phù hợp với mô hình cơ sở: ở mức mật độ doanh nghiệp mới thấp, tỷ lệ việc làm giảm, trong khi sau điểm ngoặt, tỷ lệ việc làm tăng trở lại.
Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị sau:
Thứ nhất, chính sách không nên chỉ tập trung gia tăng số lượng doanh nghiệp đăng ký mới mà cần nâng cao chất lượng, khả năng tồn tại và năng lực mở rộng của doanh nghiệp.
Thứ hai, các quốc gia có mật độ doanh nghiệp mới còn thấp, cần tăng cường khả năng tiếp cận vốn, đào tạo kỹ năng quản trị và kết nối thị trường nhằm hạn chế tác động thay thế việc làm trong ngắn hạn.
Thứ ba, hỗ trợ các doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng và tạo việc làm thông qua đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và liên kết với các doanh nghiệp hiện hữu.
Thứ tư, chính sách khởi nghiệp cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm của từng quốc gia và kết hợp đào tạo lại lao động, kết nối việc làm và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp.
Tài liệu tham khảo:
1. Fritsch, M., & Mueller, P. (2004). Effects of new business formation on regional development over time. Regional Studies, 38(8), 961-975. https://doi.org/10.1080/0034340042000280965
2. International Labour Organization (n.d.). Unemployment rate. ILOSTAT. https://ilostat.ilo.org/data/snapshots/unemployment-rate/
3. International Labour Organization (2025). World employment and social outlook: Trends 2025. https://doi.org/10.54394/IZLN1673
4. Mortensen, D. T., & Pissarides, C. A. (1994). Job creation and job destruction in the theory of unemployment. The Review of Economic Studies, 61(3), 397-415. https://doi.org/10.2307/2297896
5. OECD (2024). OECD employment outlook 2024. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/ac8b3538-en
6. Schumpeter, J. A. (1942). Capitalism, socialism and democracy. George Allen & Unwin.
7. Van Stel, A., & Storey, D. J. (2004). The link between firm births and job creation: Is there a upas tree effect? Regional Studies, 38(8), 893-909. https://doi.org/10.1080/0034340042000280929
| Ngày nhận bài: 26/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/8/2026; Ngày duyệt đăng: 4/9/2026 |
Các tin khác
Đề xuất mô hình nghiên cứu ý định mua ô tô điện của người tiêu dùng Việt Nam: Tiếp cận tích hợp TPB, TAM và các điều kiện thị trường
Năng suất lao động, đầu tư nước ngoài và thể chế trong năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam
Tăng cường thu hút đầu tư tư nhân và hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
Vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách: Nghiên cứu tại Nghệ An và hàm ý chính sách
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu suất công việc của nhân viên hành chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TP. Hồ Chí Minh
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hậu cần hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài: Vai trò trung gian của giá trị cảm nhận
Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Supertex, TP. Hà Nội
Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

