Cấu trúc sở hữu và chất lượng báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết và một số hàm ý quản trị
Mai Thị Hằng
Trường Kinh tế tài chính, Trường Đại học Thủ Dầu Một
PGS, TS. Trần Ngọc Hùng
Viện Tài chính - Kế toán, Trường đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
PGS, TS. Nguyễn Văn Chiến (Tác giả liên hệ)
Trường Kinh tế tài chính, Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: [email protected]
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đến chất lượng báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết. Sử dụng dữ liệu từ 60 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong 12 năm từ 2013-2024 và phương pháp định lượng, kết quả cho thấy, Sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến Chất lượng báo cáo tài chính. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số hàm ý quản trị cho doanh nghiệp niêm yết nhằm nâng cao hệ thống kiểm soát nội bộ và hiệu quả quản trị lợi nhuận.
Từ khóa: Cấu trúc sở hữu, chất lượng báo cáo tài chính, lợi nhuận
Summary
The study aims to analyzes the impact of ownership structure on the quality of financial reporting among listed non-financial firms. Using quantitative methods and panel data from 60 companies listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange and the Hanoi Stock Exchange from 2013 to 2024, the findings indicate that state ownership has a positive effect on financial reporting quality. Based on these results, the study proposes several managerial implications for listed firms to strengthen internal control systems and enhance the effectiveness of earnings management practices.
Keywords: Ownership structure, financial reporting quality, earnings
GIỚI THIỆU
Báo cáo tài chính (BCTC) là một công cụ quản trị không thể thiếu đối với các doanh nghiệp, cung cấp thông tin chi tiết về tình hình tài chính - kế toán cho các bên liên quan, từ ban quản lý nội bộ đến các nhà đầu tư và cơ quan quản lý bên ngoài (Qawqzeh, 2019) để hỗ trợ việc đưa ra các quyết định kinh doanh sáng suốt cho các nhà đầu tư (Ezelibe và cộng sự, 2017). Chất lượng BCTC phản ánh hiệu quả quá trình lập, xây dựng và kiểm soát hoạt động tài chính doanh nghiệp. Doanh nghiệp có chất lượng BCTC thấp có thể phản ánh hoạt động kém hiệu quả. Những vụ bê bối tài chính lớn trên thế giới (như Enron, WorldCom) và các sai phạm nghiêm trọng gần đây tại Việt Nam (như Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát) đã cảnh báo về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp và chất lượng BCTC (Mai Thị Hoa và cộng sự, 2024), làm xói mòn niềm tin thị trường. Những sự kiện này đã nhấn mạnh nhu cầu toàn cầu về một BCTC có tính toàn vẹn và đáng tin cậy.
Việt Nam là một nền kinh tế năng động, đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Do đó, nâng cao công tác quản trị tài chính, chất lượng BCTC để duy trì niềm tin của nhà đầu tư, thị trường là yêu cầu rất quan trọng. Các nghiên cứu trước đây cho rằng, cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng BCTC, sự đa dạng về sở hữu có khả năng cải thiện chất lượng báo cáo tài chính cao hơn. Tại Việt Nam, cấu trúc sở hữu tương đối đa dạng, bao gồm sở hữu nhà nước, gia đình hoặc sở hữu từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài (Mai Thị Hoa và cộng sự, 2024). Do đó, nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chất lượng BCTC, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng công bố thông tin, tăng cường niềm tin nhà đầu tư và thúc đẩy dòng vốn quốc tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững (Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế).
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Chất lượng BCTC (FRQ) là mức độ thông tin tài chính đáng tin cậy, phù hợp và hữu ích cho việc ra quyết định (Dechow và cộng sự, 2010). Các chuẩn mực quốc tế nhấn mạnh các đặc tính cơ bản (phù hợp, trung thực) và tăng cường để đảm bảo FRQ. Cấu trúc sở hữu theo nghĩa rộng mô tả sự phân phối quyền biểu quyết và quyền đối với dòng tiền (La Porta và cộng sự, 1999). Ayemere và cộng sự (2015) cho rằng, tỷ lệ sở hữu nhà nước cao giúp nâng cao FRQ nhờ cơ chế giám sát chặt chẽ của nhà nước, đảm bảo tuân thủ quy định và tăng tính minh bạch, qua đó giảm thiểu gian lận. Ở Việt Nam, quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đang thúc đẩy minh bạch hóa tài chính và tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực kế toán (VAS/IFRS). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được phát biểu như sau:
H1: Sở hữu nhà nước tác động tích cực đến Chất lượng BCTC.
Nghiên cứu của Aydin và cộng sự (2007), Chen và cộng sự (2006) khẳng định, sở hữu nước ngoài (FO) tác động tích cực đến FRQ. Thực vậy, doanh nghiệp có tỷ lệ FO cao chịu áp lực phải tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế về công bố thông tin. Hơn nữa, sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài đi kèm với việc chuyển giao công nghệ quản trị tiên tiến, hệ thống kiểm soát nội bộ và kinh nghiệm quản lý tài chính, từ đó nâng cao đáng kể độ tin cậy của BCTC. Giả thuyết nghiên cứu được phát biểu như sau:
H2: Sở hữu nước ngoài tác động tích cực đến Chất lượng BCTC.
Nghiên cứu Akbari (2013) cho rằng, công ty có quy mô lớn thường có chất lượng BCTC cao hơn do có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt hơn nên hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận và nâng cáo tính minh bạch của BCTC. Các doanh nghiệp lớn thường chịu sự giám sát chặt chẽ từ thị trường và cơ quan quản lý. Từ đó, giả thuyết được đề xuất như sau:
H3: Quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đến Chất lượng BCTC.
Nghiên cứu của Bassiouny (2016) cho rằng, khi doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao, nhà quản lý có xu hướng điều chỉnh BCTC để tránh vi phạm các điều khoản vay, dẫn đến gia tăng mức độ điều chỉnh bất thường và làm giảm chất lượng BCTC. Từ đó, giả thuyết được đề xuất như sau:
H4: Đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến Chất lượng BCTC.
Dựa trên Lý thuyết tín hiệu và một số nghiên cứu thực nghiệm (Trần Thị Xuân Anh và cộng sự, 2022), các công ty có khả năng sinh lời cao sẽ lựa chọn chính sách công bố thông tin phù hợp. Từ đó, giả thuyết được đề xuất như sau:
H5: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu có tác động tích cực đến Chất lượng BCTC.
Theo nghiên cứu của Moradi và cộng sự (2012), dòng tiền hoạt động kinh doanh có tác động làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận, giảm mức độ điều chỉnh những bất thường trong BCTC, làm cho chất lượng báo cáo tài chính càng tăng. Từ đó, giả thuyết được đề xuất như sau:
H6: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có tác động tích cực đến Chất lượng BCTC.
DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Dữ liệu được thu thập từ BCTC trong giai đoạn 12 năm (2013-2024). Mẫu nghiên cứu cuối cùng bao gồm 60 doanh nghiệp trong 12 năm, tạo thành bộ dữ liệu bảng 704 quan sát, được đánh giá là đủ lớn và toàn vẹn để thực hiện các phân tích thống kê và hồi quy.
Phương pháp nghiên cứu
Nhóm tác giả thực hiện mô hình nghiên cứu dự kiến như sau:
FRQ = β0 + β1*SO + β2*FO + β3*SIZE + β4*LEV + β5*ROE + β6*CFO + ε
Trong đó:
FRQ: Chất lượng BCTC của công ty;
β0: Hệ số chặn; β1-β6: Hệ số hồi quy của các biến độc lập và kiểm soát; ε: Sai số ngẫu nhiên.
Các biến được đo lường như trình bày tại Bảng 1.
Bảng 1: Đo lường biến
|
TT |
Thành phần |
Ký hiệu |
Kỳ vọng |
Cách tính |
Nguồn tài liệu tham khảo |
|
|
Biến phụ thuộc |
|
|
||
|
1 |
Chất lượng BCTC |
FRQ |
|
Chất lượng thông tin BCTC thông qua ước lượng phần dư (FRQMS) |
McNichols và Stubben (2008) |
|
|
Biến độc lập |
|
|
||
|
2 |
Cổ đông nhà nước |
SO |
+ |
Số cổ phần nhà nước nắm giữ/Tổng số cổ phần đang lưu hành |
Ayemere và cộng sự (2015) |
|
3 |
Cổ đông nước ngoài |
FO |
+ |
Số cổ phần nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ/ Tổng số cổ phần đang lưu hành |
Aydin và cộng sự (2007); Chen và cộng sự (2006) |
|
|
Biến kiểm soát |
|
|
||
|
1 |
Quy mô công ty |
SIZE |
+ |
Logarit của tổng tài sản |
Akbari và cộng sự (2013) |
|
2 |
Đòn bẩy tài chính |
LEV |
- |
Tỷ lệ nợ phải trả trên tổng tài sản |
Bassiouny (2016) |
|
3 |
Tỷ suất sinh lời trên tài sản |
ROE |
+ |
Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu |
Trần Thị Xuân Anh và cộng sự (2022); |
|
4 |
Dòng tiền thuần từ HĐKD |
CFO |
+ |
Tỷ số dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh/ tổng tài sản. |
Moradi và cộng sự (2012) |
Nguồn: Nghiên cứu của nhóm tác giả
Để đo lường lường chất lượng BCTC, sử dụng phương pháp đo lường theo mô hình của McNichols và Stubben (2008). Chất lượng BCTC (FRQMS) được đo lường thông qua phương pháp ước lượng phần dư từ mô hình hồi quy thay đổi khoản phải thu theo thay đổi doanh thu
- Bước 1: Ước lượng mô hình hồi quy
∆ = 0 + 1*∆ +
∆: Sự thay đổi hàng năm của các khoảng phải thu = (Khoản phải thu năm t - Khoản phải thu năm t-1)/tổng tài sản năm t-1
∆: Sự thay đổi hàng năm trong doanh thu bán hàng = (Doanh thu thuần năm t - Doanh thu thuần năm t-1)/ tổng tài sản năm t-1
- Bước 2: Tính phần dư (ϵit)
ϵit = ΔARit (thực tế) − ΔARit (ước lượng)
ΔARit (thực tế): là giá trị thu thập từ dữ liệu thực tế
ΔARit (ước lượng): là giá trị được tính toán từ mô hình ước lượng
- Bước 3: Tính biến phụ thuộc FRQMS
Biến phụ thuộc FRQMS được tính toán từ phần dư này theo công thức:
FRQMSit = ϵit * (-1)
ϵit (giá trị của phần dư): là thước đo mức độ của hành vi quản trị lợi nhuận.
Phép nhân (-1): được áp dụng để đảo ngược mối quan hệ. Mục đích là làm cho FRQMS trở thành chỉ tiêu đo lường thuận cho chất lượng BCTC (FRQ).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kiểm định đa cộng tuyến thông qua phân tích qua hệ số phóng đại phương sai (VIF) nhằm phát hiện tương quan mạnh giữa các biến độc lập. Kết quả cho thấy, VIF trung bình < 10, không gây vấn đề nghiêm trọng.
Đối với mô hình OLS, kết quả kiểm định White (Prob > chi2 = 0.0000), kiểm định Wooldridge (Prob > F = 0.0000) và kiểm định F-test (Prob > F = 0.0000) cho thấy, mô hình OLS là chưa tốt vì còn có hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan. Mô hình hồi quy theo FEM và REM được thực hiện, lựa chọn mô hình thông qua kiểm định Hausman và cho thấy Prob>chi2 = 0.0000. Điều này cho thấy, mô hình FEM tối ưu hơn REM. Nhằm chắc rằng mô hình FEM là tối ưu, nghiên cứu kiểm định Wald và Wooldridge và cho thấy mô hình hồi quy bị phương sai thay đổi nên để đảm bảo tính tin cậy trong nhận định nghiên cứu sử dụng mô hình FEM - ROBUST.
Bảng 2: Kết quả hồi quy
|
Mô hình |
OLS gộp |
FEM |
REM |
FE robust |
||||
|
FRQ |
Coef. |
p-value |
Coef. |
p-value |
Coef. |
p-value |
Coef. |
p-value |
|
SO |
-0.001647 |
0.315 |
0.0132** |
0.001 |
0.000281 |
0.917 |
0.0068428 |
0.059 |
|
FO |
0.000654 |
0.840 |
-0.00161 |
0.756 |
-0.00522 |
0.236 |
0.0046545 |
0.731 |
|
SIZE |
0.007197*** |
0.000 |
0.0202*** |
0.000 |
0.0102*** |
0.000 |
0.0104011 |
0.057 |
|
LEV |
0.007197** |
0.002 |
-0.00555 |
0.130 |
-0.00225 |
0.479 |
0.0031403 |
0.082 |
|
ROE |
0.000381 |
0.396 |
-0.0000877 |
0.803 |
0.0000231 |
0.949 |
0.0000435 |
0.048 |
|
CFO |
0.010578** |
0.004 |
0.00109 |
0.740 |
0.00248 |
0.452 |
0.0039744 |
0.785 |
|
_cons |
-0.026299*** |
0.000 |
-0.0666*** |
0.000 |
-0.0309*** |
0.000 |
0.0343616 |
0.057 |
|
Chú thích: p < 0.05, **p < 0.01, ***p < 0.001 |
||||||||
Nguồn: Nghiên cứu của nhóm tác giả
Kết quả hồi quy ở Bảng 2 cho thấy, hệ số của biến SO là dương (0.01316) và có ý nghĩa thống kê tại 10%, cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa SO và FRQ. Kết quả nghiên cứu này khẳng định các doanh nghiệp có sở hữu nhà nước cao tuân thủ nghiêm ngặt hơn các quy định về công bố thông tin và BCTC để đáp ứng yêu cầu minh bạch từ cơ quan quản lý và công chúng. Điều này trực tiếp hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận, giúp nâng cao chất lượng BCTC.
Biến sở hữu nước ngoài (FO) không có ý nghĩa thống kê đến chất lượng BCTC (FRQ) khi hệ số hồi quy của FO trong mô hình robust là âm (-0.0016), nhưng với p-value rất lớn (0.731). Kết quả này lý giải rằng, vốn nước ngoài chưa thực sự cải thiện chất lượng BCTC doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu thể hiện hệ số hồi quy của SIZE có dấu dương có ý nghĩa thống kê (p = 0.057). Điều này khẳng định rằng, các công ty lớn hơn thường có chất lượng BCTC tốt hơn. Kết quả này phù hợp với lý thuyết thông tin bất cân xứng khi các công ty lớn thường đối mặt với sự giám sát chặt chẽ hơn từ thị trường và cơ quan quản lý, buộc họ phải công bố thông tin minh bạch hơn.
Hệ số hồi quy của đòn bẩy tài chính LEV mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê (p = 0.082) cho thấy, đòn bẩy tài chính cao làm giảm chất lượng BCTC. Điều này được giải thích bởi lý thuyết đại diện, khi doanh nghiệp chịu áp lực tài chính từ các khoản nợ, ban quản lý có thể có động cơ quản trị lợi nhuận để tránh vi phạm các cam kết với chủ nợ hoặc duy trì mức tín nhiệm, dẫn đến BCTC kém tin cậy hơn.
Hệ số hồi quy của ROE mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê (p = 0.048). Kết quả này trái ngược với kỳ vọng ban đầu, nhưng có thể được giải thích bằng lý thuyết đại diện khi cho rằng các doanh nghiệp có ROE cao có thể có động cơ mạnh mẽ hơn để quản trị lợi nhuận, không phải để che giấu thua lỗ, duy trì mức lợi nhuận ổn định qua các năm và đáp ứng kỳ vọng của thị trường.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có tác động tích cực của sở hữu nhà nước đến chất lượng BCTC, nhưng không có tác động của sở hữu nước ngoài. Từ kết quả trên, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị như sau:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ bằng cách tự động hóa quy trình kế toán và thường xuyên đánh giá rủi ro gian lận, coi đây là lá chắn đầu tiên bảo vệ báo cáo tài chính.
Thứ hai, doanh nghiệp phải có định hướng chiến lược về cơ cấu sở hữu, tích cực thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có kinh nghiệm quản trị và danh tiếng tốt, sự tham gia của các cổ đông chất lượng cao sẽ thúc đẩy ban điều hành hoạt động chuyên nghiệp và tuân thủ chuẩn mực quốc tế.
Tài liệu tham khảo:
1. Akbari, M.A., (2013). Impact of firm size and capital structure on Earnings management: Evidence from Iran. World of Sciences Journal, 1(17), 59-71.
2. Aydin, N., Sayim, M., & Yalama, A. (2007). Foreign ownership and firm performance: Evidence from Turkey. International Research Journal of Finance and Economics, (11), 103-111.
3. Ayemere, I. L., & Elijah, A. (2015). Audit committee attributes and earnings management: Evidence from Nigeria. International Journal of Business and Social Research, 5(4), 14-23.
4. Bassiouny, S. W., (2016). The Impact of Firm Characteristics on Earnings Management: An Empirical Study on the Listed Firms in Egypt. The Business and Management Review, 7(2), 91-101.
5. Chen, G., Firth, M., Gao, D. N., & Rui, O. M. (2006). Ownership structure, corporate governance and fraud: Evidence from China. Journal of Corporate Finance, 12(3), 424-448.
6. Dechow, P., Ge, W., & Schrand, C. (2010). Understanding earnings quality: A review of the proxies, their determinants and their consequences. Journal of Accounting and Economics, 50(2-3), 344-401. https://doi.org/10.1016/j.jacceco.2010.09.001
7. La Porta, R., Lopez‐de‐Silanes, F., & Shleifer, A. (1999). Corporate ownership around the world. The Journal of Finance, 54(2), 471-517.
8. Mai Thị Hoa, Nguyễn Thị Phương Thanh, Nguyễn Thị Dung, & Đỗ Ngọc Phương Anh (2024). Xây dựng bộ tiêu chí đo lường chất lượng BCTCcủa các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Chính sách và Phát triển, 1(2024), 64-71.
9. McNichols, M.F. và Stubben, S.R. (2008). Does earnings management affect firms’ investment decisions. The accounting review, 83(6), 1571-1603.
10. Moradi, M.; Salehi, M.; Bighi, S.J.H. and Najari, M., (2012), A Study of Relationship between Board Characteristics and Earning Management: Iranian Scenario. Journal of Management and Social Sciences, 2(3), 12-29.
11. Trần Thị Xuân Anh, Dương Ngân Hà, Nguyễn Viết Long (2022). Đánh giá tác động của các nhân tố tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, 244, 14-25.
| Ngày nhận bài: 7/10/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/12/2025; Ngày duyệt đăng: 6/1/2026 |
Các tin khác
Thiết kế thang đo đánh giá mối quan hệ giữa phân khúc thị trường và hiệu quả kinh doanh bất động sản
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành
Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19
Tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện trên nền tảng số đến ý định du lịch di sản tại tỉnh Quảng Ninh
Thu hút vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
Các thuộc tính Omnichannel ảnh hưởng đến trải nghiệm khách hàng trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam
Nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững tại Phú Thọ: Thực trạng và hàm ý chính sách
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh: Nghiên cứu thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh