Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh: Nghiên cứu thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 17:20 | 29/09/2026
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, logistics đã trở thành ngành dịch vụ giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tại Việt Nam, ngành logistics đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Hoàng Sĩ Nam

Trường Đại học Tài chính - Marketing; Email: [email protected]

Phan Ngọc Trang, Nguyễn Ngọc Xuân Nhi

Trường Đại học Tài chính - Marketing

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

Chi cục Phát triển nông thôn - Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và phát triển bền vững, xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh ngày càng trở thành yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp logistics. Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh tại TP. Hồ Chí Minh. Dựa trên khung Công nghệ - Tổ chức - Môi trường (TOE) và Lý thuyết thể chế, nghiên cứu đề xuất 4 yếu tố gồm: Quy định, chính sách của chính phủ; Công nghệ sẵn có; Năng lực tài chính; và Cam kết của lãnh đạo. Dữ liệu khảo sát 336 doanh nghiệp được phân tích bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám và và hồi quy đa biến. Kết quả cho thấy cả 4 yếu tố đều tác động tích cực. Trong đó Quy định, chính sách của chính phủ và Công nghệ sẵn có có mức độ ảnh hưởng lớn hơn. Nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm và hàm ý cho việc thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng logistics xanh.

Từ khóa: Logistics xanh, cơ sở hạ tầng logistics xanh, mô hình TOE, phát triển bền vững

Abstract

In the context of green transformation and sustainable development, developing green logistics infrastructure is increasingly a requirement for logistics enterprises. This study aims to identify the factors influencing the development of green logistics infrastructure in Ho Chi Minh City. Based on the Technology-Organization-Environment (TOE) framework and Institutional Theory, the study proposes four factors: government regulations and policies; available technology; financial capacity; and leadership commitment. Survey data from 336 enterprises were analyzed using Cronbach’s Alpha, exploratory factor analysis (EFA), and multiple linear regression. The results show that all four factors have positive effects, with government regulations and policies and available technology having relatively stronger effects. The study provides empirical evidence and implications for promoting the development of green logistics infrastructure.

Keywords: Green logistics, green logistics infrastructure, TOE framework, sustainable development

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, logistics đã trở thành ngành dịch vụ giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tại Việt Nam, ngành logistics đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền kinh tế, sự phát triển nhanh chóng của ngành logistics cũng tạo ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường. Hoạt động vận tải hàng hóa, lưu kho và phân phối sản phẩm tiêu thụ lượng lớn nhiên liệu hóa thạch, phát thải khí nhà kính và gây ô nhiễm môi trường.

Trước áp lực từ biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, logistics xanh đã trở thành xu hướng tất yếu đối với các doanh nghiệp logistics trên thế giới. Logistics xanh không chỉ hướng đến tối ưu hóa hiệu quả hoạt động logistics mà còn tập trung giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường thông qua việc ứng dụng công nghệ xanh, sử dụng năng lượng tái tạo và tối ưu hóa vận tải.

Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh của doanh nghiệp logistics tại TP. Hồ Chí Minh và đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được xây dựng trên khung Công nghệ - Tổ chức - Môi trường (TOE) của Tornatzky và Fleischer (1990) và Lý thuyết thể chế với nền tảng từ Meyer và Rowan (1977), DiMaggio và Powell (1983). Khung TOE cho rằng, việc chấp nhận và triển khai đổi mới trong doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của 3 bối cảnh gồm: công nghệ, tổ chức và môi trường. Trong khi đó, Lý thuyết thể chế giải thích cách các tổ chức chịu tác động của những áp lực từ môi trường thể chế. DiMaggio và Powell (1983) phân biệt 3 cơ chế chủ yếu gồm áp lực cưỡng chế, mô phỏng và chuẩn tắc.

Từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu đề xuất 4 giả thuyết nghiên cứu như sau:

H1: Quy định và chính sách của chính phủ tác động tích cực đến Xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh.

H2: Công nghệ sẵn có tác động tích cực đến Xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh.

H3: Năng lực tài chính tác động tích cực đến Xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh.

H4: Sự cam kết của nhà lãnh đạo tác động tích cực đến Xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Giai đoạn nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua thảo luận nhóm tập trung và tổng hợp các nghiên cứu trước nhằm điều chỉnh và bổ sung thang đo.

Nghiên cứu định lượng được tiến hành thông qua khảo sát 336 doanh nghiệp logistics đang hoạt động tại TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS với các kỹ thuật kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích EFA và hồi quy đa biến.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thống kê mô tả mẫu

Nghiên cứu tiến hành khảo sát 336 doanh nghiệp logistics đang hoạt động tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả khảo sát (Bảng 1) cho thấy, các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu có sự đa dạng về quy mô hoạt động, lĩnh vực kinh doanh và thời gian hoạt động. Điều này góp phần gia tăng tính đại diện của mẫu nghiên cứu và nâng cao độ tin cậy của kết quả phân tích.

Bảng 1: Thống kê đặc điểm mẫu nghiên cứu

Tiêu chí

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Quy mô doanh nghiệp

Doanh nghiệp nhỏ

138

41,1

Doanh nghiệp vừa

124

36,9

Doanh nghiệp lớn

74

22,0

Lĩnh vực hoạt động

Vận tải

115

34,2

Kho bãi

68

20,2

Giao nhận vận tải

94

28,0

Logistics tổng hợp

59

17,6

Thời gian hoạt động

Dưới 5 năm

86

25,6

Từ 5–10 năm

141

42,0

Trên 10 năm

109

32,4

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả

Kết quả thống kê cho thấy, phần lớn doanh nghiệp logistics tại TP. Hồ Chí Minh thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này phản ánh đúng thực trạng ngành logistics Việt Nam hiện nay khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong chuỗi cung ứng logistics.

Kiểm định độ tin cậy thang đo

Nghiên cứu sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để đánh giá mức độ tin cậy của các thang đo. Theo Hair và cộng sự (2010), hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,7 được xem là đạt yêu cầu.

Bảng 2: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha

Thang đo

Số biến quan sát

Cronbach’s Alpha

Quy định, chính sách Chính phủ (CSCP)

4

0,865

Công nghệ sẵn có (CNSC)

4

0,881

Năng lực tài chính (NLTC)

4

0,842

Cam kết của lãnh đạo (CKLĐ)

4

0,857

Xây dựng hạ tầng logistics xanh (LOGIS)

4

0,894

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả

Kết quả kiểm định (Bảng 2) cho thấy, tất cả các thang đo đều đạt độ tin cậy cao với hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,8. Điều này chứng tỏ các biến quan sát có sự tương quan chặt chẽ và phù hợp để đưa vào phân tích EFA.

Phân tích EFA

Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s Test cho thấy dữ liệu phù hợp để tiến hành phân tích EFA.

Bảng 3: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s Test

Chỉ tiêu

Giá trị

KMO

0,891

Bartlett’s Test Sig.

0,000

Tổng phương sai trích

67,324%

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả

Theo kết quả phân tích tại Bảng 3, giá trị KMO = 0,891 (> 0,5) cho thấy dữ liệu đủ điều kiện để thực hiện EFA. Đồng thời, kiểm định Bartlett có Sig. = 0,000 (< 0,05) chứng minh các biến có tương quan tuyến tính với nhau. Tổng phương sai trích đạt 67,324%, cho thấy mô hình giải thích tốt dữ liệu nghiên cứu.

Bảng 4: Ma trận xoay nhân tố EFA

Biến quan sát

CSCP

CNSC

NLTC

CKLĐ

CSCP1

0,812

CSCP2

0,847

CSCP3

0,825

CSCP4

0,791

CNSC1

0,846

CNSC2

0,854

CNSC3

0,817

CNSC4

0,801

NLTC1

0,788

NLTC2

0,825

NLTC3

0,834

NLTC4

0,816

CKLĐ1

0,864

CKLĐ2

0,846

CKLĐ3

0,821

CKLĐ4

0,807

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả

Kết quả EFA (Bảng 4) cho thấy, tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,5 và không xảy ra hiện tượng tải chéo lớn. Điều này khẳng định tính hội tụ và phân biệt của các thang đo trong mô hình nghiên cứu.

Phân tích tương quan

Bảng 5: Ma trận tương quan Pearson

Biến

CSCP

CNSC

NLTC

CKLĐ

LOGIS

CSCP

1

CNSC

0,512**

1

NLTC

0,487**

0,544**

1

CKLĐ

0,451**

0,476**

0,429**

1

LOGIS

0,689**

0,661**

0,574**

0,532**

1

Ghi chú: (**Sig < 0,01)

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả

Kết quả phân tích tương quan (Bảng 5) cho thấy, các biến độc lập đều có mối tương quan thuận chiều với biến phụ thuộc Xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh. Trong đó, yếu tố Quy định, chính sách của chính phủ có tương quan mạnh nhất với LOGIS.

Phân tích hồi quy đa biến

Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình

Bảng 6: Kết quả đánh giá mô hình hồi quy

Chỉ tiêu

Giá trị

R

0,715

R²

0,511

R² hiệu chỉnh

0,503

Durbin-Watson

1,923

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả

Kết quả Bảng 6 cho thấy, hệ số R² hiệu chỉnh đạt 0,503, nghĩa là mô hình giải thích được khoảng 50,3% sự biến thiên của biến phụ thuộc LOGIS. Giá trị Durbin-Watson = 1,923 nằm trong khoảng chấp nhận được, cho thấy không có hiện tượng tự tương quan giữa các phần dư.

Kết quả hồi quy

Bảng 7: Kết quả hồi quy đa biến

Biến độc lập

Beta chuẩn hóa

Sig.

Kết luận

CSCP

0,381

0,000

Chấp nhận H1

CNSC

0,342

0,000

Chấp nhận H2

NLTC

0,214

0,002

Chấp nhận H3

CKLĐ

0,176

0,008

Chấp nhận H4

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả

Phương trình hồi quy chuẩn hóa:

LOGIS = 0,381CSCP + 0,342CNSC + 0,214NLTC + 0,176CKLĐ

Kết quả hồi quy (Bảng 7) cho thấy, cả 4 yếu tố đều có tác động cùng chiều đến Xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh của doanh nghiệp logistics tại TP. Hồ Chí Minh với mức ý nghĩa thống kê Sig. < 0,05.

Trong đó: Quy định, chính sách của chính phủ (β = 0,381) có tác động mạnh nhất; Công nghệ sẵn có (β = 0,342) đứng thứ hai; Năng lực tài chính (β = 0,214); Cam kết của lãnh đạo (β = 0,176).

Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố Quy định, chính sách của chính phủ có tác động mạnh nhất đến việc Xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh. Điều này phản ánh vai trò định hướng và dẫn dắt của Nhà nước trong quá trình chuyển đổi xanh ngành logistics. Trong bối cảnh Việt Nam vẫn là nền kinh tế đang phát triển, phần lớn doanh nghiệp logistics là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên các chính sách hỗ trợ về tài chính, thuế, tiêu chuẩn môi trường và đầu tư hạ tầng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lin và Ho (2011) khi khẳng định rằng áp lực từ chính phủ và hỗ trợ chính sách là động lực thúc đẩy doanh nghiệp logistics áp dụng các hoạt động xanh.

Yếu tố Công nghệ sẵn có có ảnh hưởng lớn thứ hai. Điều này cho thấy doanh nghiệp logistics tại TP. Hồ Chí Minh đang ngày càng nhận thức được vai trò của công nghệ trong tối ưu hóa vận hành và giảm phát thải. Các công nghệ như IoT, ERP, AI, hệ thống quản lý kho WMS hay quản lý vận tải TMS đang trở thành công cụ cốt lõi trong chuyển đổi xanh ngành logistics.

Ngoài ra, Năng lực tài chính cũng được chứng minh có tác động tích cực. Điều này phản ánh thực tế rằng các dự án logistics xanh thường đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài và yêu cầu nguồn lực tài chính ổn định.

Cuối cùng, Sự cam kết của lãnh đạo tuy có tác động thấp hơn các yếu tố khác nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng. Ban lãnh đạo chính là lực lượng quyết định chiến lược phát triển xanh của doanh nghiệp thông qua việc hoạch định mục tiêu, phân bổ nguồn lực và xây dựng văn hóa doanh nghiệp hướng đến phát triển bền vững.

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh tại TP. Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng đồng thời bởi cả yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Điều này phù hợp với nền tảng Lý thuyết TOE và Lý thuyết thể chế được sử dụng trong nghiên cứu.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Nghiên cứu xác định 4 yếu tố ảnh hưởng đến Xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh của các doanh nghiệp logistics tại TP. Hồ Chí Minh gồm: Quy định, chính sách của chính phủ; Công nghệ sẵn có; Năng lực tài chính và Cam kết của lãnh đạo. Kết quả phân tích cho thấy, cả 4 yếu tố đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê, trong đó Quy định, chính sách của chính phủ có mức độ tác động lớn nhất, tiếp đến là Công nghệ sẵn có, Năng lực tài chính và Cam kết của lãnh đạo. Kết quả này góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho việc vận dụng khung TOE kết hợp với Lý thuyết thể chế trong nghiên cứu phát triển cơ sở hạ tầng logistics xanh tại Việt Nam.

Hàm ý quản trị

Từ kết quả nghiên cứu, doanh nghiệp logistics cần ưu tiên đầu tư và ứng dụng công nghệ số, công nghệ xanh trong quản lý kho, vận tải và sử dụng năng lượng; đồng thời nâng cao năng lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực và vai trò cam kết của lãnh đạo đối với mục tiêu phát triển bền vững. Mục tiêu xanh cần được tích hợp vào chiến lược kinh doanh, hoạt động đầu tư và hệ thống đánh giá kết quả, gắn với tăng cường hợp tác giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng.

Ở góc độ quản lý nhà nước, cần tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn và cơ chế chính sách về logistics xanh; phát triển các công cụ hỗ trợ như tín dụng xanh, ưu đãi thuế và nguồn vốn cho đầu tư xanh. Đồng thời, tăng cường đầu tư hạ tầng giao thông thông minh, cảng xanh và trung tâm logistics xanh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chuyển đổi theo hướng bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. DiMaggio, P. J., & Powell, W. W. (1983). The iron cage revisited: Institutional isomorphism and collective rationality in organizational fields. American Sociological Review, 48(2), 147–160. https://doi.org/10.2307/2095101

2. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2010). Multivariate data analysis (7th ed.). Pearson.

3. Lin, C.-Y., & Ho, Y.-H. (2011). Determinants of green practice adoption for logistics companies in China. Journal of Business Ethics, 98(1), 67–83. https://doi.org/10.1007/s10551-010-0535-9

4. Meyer, J. W., & Rowan, B. (1977). Institutionalized organizations: Formal structure as myth and ceremony. American Journal of Sociology, 83(2), 340–363. https://doi.org/10.1086/226550

5. Tornatzky, L. G., & Fleischer, M. (1990). The processes of technological innovation. Lexington Books.

Ngày nhận bài: 26/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 21/9/2026; Ngày duyệt đăng: 28/9/2026

Các tin khác

Thiết kế thang đo đánh giá mối quan hệ giữa phân khúc thị trường và hiệu quả kinh doanh bất động sản

Thiết kế thang đo đánh giá mối quan hệ giữa phân khúc thị trường và hiệu quả kinh doanh bất động sản

Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh và xu hướng phát triển bền vững, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có ý nghĩa quan trọng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành

Tiền gửi của khách hàng cá nhân là nguồn vốn quan trọng đối với ngân hàng thương mại, đồng thời đáp ứng nhu cầu bảo toàn và tích lũy tài sản của người gửi tiền. Khi lãi suất và sản phẩm có thể được điều chỉnh tương đối nhanh, chất lượng dịch vụ trở thành một tiêu chí quan trọng trong lựa chọn ngân hàng.
Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Quyết định về cấu trúc vốn phản ánh sự lựa chọn của doanh nghiệp giữa nợ và vốn chủ sở hữu nhằm tài trợ cho hoạt động kinh doanh và các cơ hội tăng trưởng. Việc sử dụng nợ tạo ra lợi ích từ lá chắn thuế và có thể góp phần hạn chế chi phí đại diện
Tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện trên nền tảng số đến ý định du lịch di sản tại tỉnh Quảng Ninh

Tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện trên nền tảng số đến ý định du lịch di sản tại tỉnh Quảng Ninh

Trong quảng bá du lịch di sản tại Quảng Ninh, câu chuyện trên nền tảng số có thể gia tăng sức hấp dẫn và khả năng thuyết phục của thông điệp điểm đến. Nghiên cứu làm rõ tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện đến ý định du lịch di sản, đồng thời xem xét vai trò trung gian của mức độ thuyết phục cảm nhận.
Thu hút vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam

Thu hút vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam

Nhật Bản tiếp tục là một trong những đối tác đầu tư nước ngoài chiến lược hàng đầu của Việt Nam, với dòng vốn đang dịch chuyển mạnh mẽ từ sản xuất công nghiệp truyền thống sang thị trường tiêu dùng nội địa và hạ tầng bán lẻ.
Các thuộc tính Omnichannel ảnh hưởng đến trải nghiệm khách hàng trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam

Các thuộc tính Omnichannel ảnh hưởng đến trải nghiệm khách hàng trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam

Thương mại điện tử Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng và trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế số.
Nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Năng suất lao động là nền tảng quan trọng của tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc đánh giá thực trạng năng suất lao động giai đoạn 2020-2024 là cơ sở để đề xuất các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững tại Phú Thọ: Thực trạng và hàm ý chính sách

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững tại Phú Thọ: Thực trạng và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gia tăng, chính sách đầu tư tại nhiều quốc gia đang chuyển từ nhấn mạnh quy mô dòng vốn sang chú trọng chất lượng và phát triển bền vững.
Khoảng cách thế hệ trong đội dự án tại doanh nghiệp: Thách thức lãnh đạo nhân sự Gen Z

Khoảng cách thế hệ trong đội dự án tại doanh nghiệp: Thách thức lãnh đạo nhân sự Gen Z

Trong các đội dự án, nơi yêu cầu cao về tốc độ, phối hợp đa chức năng và khả năng thích ứng, khác biệt về giá trị nghề nghiệp, kỳ vọng và cách thức giao tiếp giữa Gen Z với các thế hệ đi trước có thể tạo ra khoảng cách trong lãnh đạo và phối hợp.
Ảnh hưởng của marketing dựa trên trí tuệ nhân tạo đến ý định tiếp tục sử dụng thương hiệu của khách hàng

Ảnh hưởng của marketing dựa trên trí tuệ nhân tạo đến ý định tiếp tục sử dụng thương hiệu của khách hàng

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kinh tế số, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong marketing ngày càng phổ biến và được xem là chiến lược quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao lợi thế cạnh tranh.