Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững tại Phú Thọ: Thực trạng và hàm ý chính sách

Nghiên cứu - Trao đổi 17:24 | 29/09/2026
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gia tăng, chính sách đầu tư tại nhiều quốc gia đang chuyển từ nhấn mạnh quy mô dòng vốn sang chú trọng chất lượng và phát triển bền vững.

Nguyễn Xuân Quang

Email: [email protected]

Nguyễn Văn Định

Email: [email protected]

Đặng Quốc Việt

Email: [email protected]

Trường Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt

Nghiên cứu đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo hướng phát triển bền vững tại tỉnh Phú Thọ trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê mô tả dựa trên dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước và các nguồn thống kê chính thức. Kết quả cho thấy, FDI góp phần thúc đẩy đầu tư, phát triển công nghiệp, mở rộng sản xuất, hoạt động kinh doanh, việc làm và thu nhập tại địa phương. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của dòng vốn FDI vẫn cần được nâng cao, đặc biệt về công nghệ, giá trị gia tăng, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chất lượng nguồn nhân lực và yêu cầu về môi trường. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm chuyển từ thu hút FDI theo quy mô sang thu hút FDI có chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng cao, phù hợp với định hướng phát triển bền vững của tỉnh Phú Thọ.

Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển bền vững, Phú Thọ, thu hút FDI

Abstract

This study assesses the current state of foreign direct investment (FDI) attraction in Phu Tho Province from a sustainable development perspective across three dimensions: economic, social, and environmental. The study employs analytical, synthesis, and descriptive statistical methods based on secondary data from government agencies and official statistical sources. The results show that FDI has contributed to investment, industrial development, expansion of production, business activities, employment, and income in the province. However, the quality and effectiveness of FDI inflows still need to be improved, particularly in terms of technology, value added, linkages with domestic enterprises, human resource quality, and environmental requirements. Based on these findings, the study proposes policy implications to shift from attracting FDI based primarily on scale toward attracting high-quality, efficient, and high-value-added FDI, in line with Phu Tho Province's sustainable development orientation.

Keywords: FDI attraction, foreign direct investment, Phu Tho Province, sustainable development

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gia tăng, chính sách đầu tư tại nhiều quốc gia đang chuyển từ nhấn mạnh quy mô dòng vốn sang chú trọng chất lượng và phát triển bền vững. Theo đó, tác động của FDI đối với năng suất, đổi mới sáng tạo, chất lượng việc làm, kỹ năng và giảm phát thải ngày càng được quan tâm (OECD, 2022). Cách tiếp cận này phù hợp với Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển bền vững của Liên hợp quốc, trong đó đầu tư được xem là nguồn lực quan trọng để thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (United Nations, 2015).

Tại Việt Nam, FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp đáng kể vào xuất khẩu, sản xuất và hội nhập vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, việc nâng cao tác động lan tỏa của FDI, đặc biệt thông qua liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, và phát triển nguồn nhân lực, vẫn một thách thức lớn (OECD, 2026). Vì vậy, chính sách FDI của Việt Nam ngày càng hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính lan tỏa thay vì chỉ gia tăng quy mô vốn và số dự án. Định hướng này được thể hiện trong Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 và Quyết định số 667/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030.

Tỉnh Phú Thọ mới được hình thành trên cơ sở sắp xếp tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình (cũ) từ tháng 7/2025. Việc hình thành tỉnh mới tạo ra một không gian kinh tế có quy mô lớn hơn, với sự kết hợp giữa các khu vực có thế mạnh về công nghiệp, dịch vụ, hạ tầng và nguồn nhân lực; đồng thời tạo ra những điều kiện mới cho việc thu hút và phân bổ FDI, nhưng cũng đặt ra yêu cầu đánh giá lại chất lượng và hiệu quả của dòng vốn đầu tư trên phạm vi toàn tỉnh (UBND tỉnh Phú Thọ, 2026). Trong nghiên cứu này, dữ liệu được cộng gộp trên cơ sở số liệu tương ứng của 3 địa phương Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình trước khi sắp xếp. Do đó, các chỉ tiêu về FDI, doanh nghiệp, lao động và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nghiên cứu phản ánh quy mô và đặc điểm của không gian kinh tế tương ứng với tỉnh Phú Thọ mới. Cách tiếp cận này cho phép hình thành một chuỗi số liệu thống nhất phục vụ đánh giá thực trạng thu hút FDI của Tỉnh trên phạm vi địa giới mới. Trên không gian kinh tế mới, FDI có vai trò quan trọng đối với hoạt động đầu tư, phát triển công nghiệp, sản xuất, xuất khẩu và việc làm. Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả thu hút FDI không nên chỉ dựa trên số lượng dự án và vốn đăng ký mà cần xem xét khả năng tạo giá trị gia tăng, mở rộng sản xuất, tạo việc làm và thu nhập, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước và đáp ứng các yêu cầu về môi trường (OECD, 2022, 2026).

Các nghiên cứu về FDI chủ yếu tập trung vào các yếu tố quyết định dòng vốn và tác động của FDI đối với nền kinh tế tiếp nhận. Kết quả cho thấy, lợi ích từ FDI phụ thuộc đáng kể vào năng lực của doanh nghiệp trong nước, chất lượng nguồn nhân lực và môi trường thể chế (Tocar, 2018). Gần đây, nghiên cứu về chất lượng FDI ngày càng quan tâm đến năng suất, đổi mới sáng tạo, chất lượng việc làm, kỹ năng và phát triển bền vững (OECD, 2022). Tại Việt Nam, mặc dù FDI có đóng góp quan trọng cho phát triển và hội nhập kinh tế, việc nâng cao tác động về năng suất, đổi mới công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước vẫn là thách thức lớn (OECD, 2026). Ở cấp địa phương, các nghiên cứu đánh giá FDI đồng thời trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường còn hạn chế. Đối với không gian kinh tế mới, việc đánh giá tổng thể thực trạng thu hút FDI trên cả 3 phương diện này càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế bền vững của địa phương.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu này đánh giá thực trạng thu hút FDI tại tỉnh Phú Thọ mới theo hướng phát triển bền vững trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường. Từ kết quả đánh giá, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thu hút FDI, phù hợp với định hướng phát triển bền vững của tỉnh Phú Thọ.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Các nghiên cứu về FDI có thể khái quát thành 2 hướng chính. Hướng thứ nhất tập trung xác định các nhân tố quyết định khả năng thu hút FDI, bao gồm quy mô thị trường, độ mở thương mại, chất lượng cơ sở hạ tầng, chi phí lao động, ổn định kinh tế vĩ mô và nguồn nhân lực (Quang và cộng sự, 2022; Islam và Beloucif, 2024). Hướng thứ hai tập trung đánh giá tác động của FDI đối với nền kinh tế tiếp nhận. FDI có thể góp phần bổ sung vốn, nâng cao năng suất, tạo điều kiện tiếp cận công nghệ, kỹ năng và mạng lưới sản xuất quốc tế. Tuy nhiên, các lợi ích này không tự động xuất hiện mà phụ thuộc vào điều kiện của nền kinh tế tiếp nhận, mức độ hội nhập và năng lực hấp thụ công nghệ, kỹ năng của doanh nghiệp trong nước (OECD, 2022, 2026).

Cùng với yêu cầu thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, thay vì chỉ xem xét quy mô dòng vốn, nghiên cứu về chính sách đầu tư quốc tế ngày càng quan tâm đến chất lượng và tác động của FDI. OECD (2022) phát triển khung chất lượng FDI tập trung vào các tác động của FDI đối với năng suất và đổi mới, chất lượng việc làm và kỹ năng, bình đẳng giới và giảm phát thải carbon. UNCTAD (2023) cũng nhấn mạnh vai trò của đầu tư quốc tế trong thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt là đầu tư vào năng lượng sạch và quá trình chuyển đổi năng lượng.

Tại Việt Nam, nghiên cứu về FDI đã tập trung vào các nhân tố quyết định dòng vốn đầu tư và tác động của FDI đối với tăng trưởng, thương mại, năng suất và việc làm (Quang và cộng sự, 2022; Linh và Duy, 2026; OECD, 2026). Tuy nhiên, khi đánh giá chất lượng thu hút FDI theo hướng phát triển bền vững, cần xem xét các tác động về năng suất và đổi mới, chất lượng việc làm và kỹ năng, cũng như môi trường. Cách tiếp cận này phù hợp với khung chất lượng FDI của OECD (2022). Đối với tỉnh Phú Thọ, các báo cáo và tài liệu quản lý nhà nước cung cấp thông tin quan trọng về tình hình thu hút FDI, như số lượng dự án, vốn đầu tư, ngành và địa bàn đầu tư. Tuy nhiên, việc đánh giá FDI đồng thời trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường vẫn còn rất hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu này tập trung đánh giá hoạt động thu hút FDI tại tỉnh Phú Thọ trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng thu hút FDI trong thời gian tới.

THỰC TRẠNG THU HÚT FDI THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI TỈNH PHÚ THỌ

Khái quát thực trạng thu hút FDI

Trong những năm gần đây, thu hút FDI được tỉnh Phú Thọ xác định là một nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỉnh đã triển khai các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, cải cách thủ tục hành chính, phát triển hạ tầng khu công nghiệp và tăng cường xúc tiến đầu tư (Thủ tướng Chính phủ, 2023; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, 2026). Số liệu thống kê tại Bảng 1 cho thấy, FDI tại Phú Thọ giai đoạn 2020-2024 duy trì vai trò quan trọng trong hoạt động đầu tư của Tỉnh. Vốn FDI theo giá hiện hành tăng từ 21.528,9 tỷ đồng năm 2020 lên 30.082,3 tỷ đồng năm 2024, trong khi tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội duy trì ở mức cao, khoảng 19,4-23,5%. Số doanh nghiệp FDI tăng từ 526 doanh nghiệp năm 2020 lên 585 doanh nghiệp năm 2022, sau đó giảm nhẹ còn 581 doanh nghiệp năm 2023 (Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2025).

Bảng 1: Tình hình thu hút FDI tại Phú Thọ

Năm

2020

2021

2022

2023

2024

Vốn FDI theo giá hiện hành (tỉ đồng)

21.528,9

21.413,7

23.904,2

23.263,6

30.082,3

Tỉ lệ FDI (%)

23,5

22,9

21,6

19,4

23,1

Số doanh nghiệp FDI

526

570

585

581

-

Số dự án

53

51

39

36

59

Vốn đăng ký

718.850

1.319.260

683.200

528.320

476.055

Nguồn: Thống kê tỉnh Phú Thọ (2025)

Về thu hút mới, số dự án FDI có biến động khá rõ, đạt cao nhất 59 dự án năm 2024, trong khi vốn đăng ký đạt mức cao nhất 1.319,26 triệu USD năm 2021 và giảm dần xuống 476,055 triệu USD năm 2024. Điều này cho thấy, số lượng dự án có xu hướng phục hồi nhưng quy mô vốn đăng ký bình quân có dấu hiệu giảm, hàm ý rằng Phú Thọ đang duy trì khả năng thu hút dự án nhưng cần chú trọng hơn đến chất lượng của từng dự án.

Về cơ cấu FDI theo đối tác đầu tư, tính lũy kế đến tháng 12/2025, Phú Thọ có 734 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 12,8 tỷ USD (UBND tỉnh Phú Thọ, 2026). Về cơ cấu đối tác, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất, với 404 dự án, chiếm khoảng 55,3% tổng số dự án, và 4.491,757 triệu USD, tương đương khoảng 38,6% tổng vốn đăng ký. Tiếp theo là Nhật Bản với 82 dự án và 2.541,569 triệu USD, Đài Loan (Trung Quốc) với 58 dự án và 1.343,116 triệu USD, Trung Quốc với 81 dự án và 729,484 triệu USD. Một số đối tác khác như Thái Lan, Singapore và Hồng Kông (Trung Quốc) có quy mô nhỏ hơn (Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2025).

Bảng 2: Cơ cấu lao động FDI

Năm

2020

2021

2022

2023

Tổng số lao động

426.368

462.244

464.370

476.085

Doanh nghiệp nhà nước

9.359

8.861

8.567

8.500

Doanh nghiệp FDI

231.518

243.395

237.900

242.476

Doanh nghiệp FDI - tỉ lệ (%)

54,30

52,66

51,23

50,93

Doanh nghiệp FDI - lao động nữ

155.452

161.905

157.761

150.012

Nguồn: Thống kê tỉnh Phú Thọ (2025)

Về cơ cấu lao động, khu vực FDI giữ vai trò rất lớn trong tạo việc làm. Tổng số lao động toàn Tỉnh tăng từ 426.368 người năm 2020 lên 476.085 người năm 2023, trong khi lao động trong các doanh nghiệp FDI tăng từ 231.518 lên 242.476 người (Bảng 2). Điều này cho thấy, tỷ trọng lao động FDI trong tổng số lao động doanh nghiệp vẫn duy trì ở mức cao, mặc dù giảm nhẹ từ 54,30% xuống 50,93%. Đáng chú ý, lao động nữ chiếm tỷ trọng đáng kể trong khu vực FDI, với 150.012 người năm 2023, cho thấy khu vực này có vai trò quan trọng đối với việc mở rộng cơ hội việc làm cho lao động nữ (Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2025).

Tuy nhiên, xu hướng giảm nhẹ tỷ trọng lao động FDI trong tổng số lao động doanh nghiệp cũng cho thấy mức độ đóng góp về việc làm của khu vực này không tăng tương ứng với quy mô lao động chung. Vì vậy, bên cạnh mở rộng số lượng việc làm, cần quan tâm hơn đến chất lượng việc làm, tiền lương, kỹ năng và cơ hội phát triển nghề nghiệp của lao động trong khu vực FDI.

Bảng 3: Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI

Năm

2020

2021

2022

2023

Vốn kinh doanh bình quân

(tỷ đồng)

Toàn tỉnh

600.864

707.304

790.814

837.410

FDI

243.360

266.044

317.029

331.402

Giá trị tìa sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn (tỷ đồng)

Toàn tỉnh

166.312

187.536

213.682

219.721

FDI

74.554

86.138

98.276

107.093

Doanh thu thuần

(tỷ đồng)

Toàn tỉnh

662.975

762.652

936.979

921.722

FDI

405.175

443.850

557.169

543.374

Thu nhập bình quân

(tháng/triệu đồng)

Toàn tỉnh

7.859

8.453

9.319

9.312

FDI

8.917

9.702

10.624

10.598

Lợi nhuận trước thuế (triệu đồng)

Toàn tỉnh

33.889.783

33.239.242

39.462.328

35.000.831

FDI

33.680.786

30.679.344

37.111.912

32.691.554

Tỷ suất lợi nhuận (%)

Toàn tỉnh

5,11

4,36

4,21

3,80

FDI

8,31

6,91

6,66

6,02

Nguồn: Thống kê tỉnh Phú Thọ (2025)

Đối với hoạt động kinh doanh, khu vực FDI cho thấy vai trò đáng kể đối với nền kinh tế Phú Thọ. Giai đoạn 2020-2023, vốn kinh doanh bình quân của doanh nghiệp FDI tăng từ 243.360 tỷ đồng lên 331.402 tỷ đồng, trong khi giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn tăng từ 74.554 tỷ đồng lên 107.093 tỷ đồng. Doanh thu thuần của khu vực FDI cũng tăng từ 405.175 tỷ đồng năm 2020 lên 543.374 tỷ đồng năm 2023, cho thấy năng lực sản xuất và quy mô hoạt động của khu vực này tiếp tục được mở rộng (Bảng 3).

Đáng chú ý, thu nhập bình quân của người lao động trong doanh nghiệp FDI luôn cao hơn mức bình quân chung của Tỉnh, đạt 10,598 triệu đồng/tháng năm 2023 so với 9,312 triệu đồng/tháng.

Bên cạnh đó, tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp FDI cũng cao hơn đáng kể so với mức chung, đạt 6,02% năm 2023 so với 3,80%. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận của khu vực FDI có xu hướng giảm từ 8,31% năm 2020 xuống 6,02% năm 2023, cho thấy hiệu quả kinh doanh có dấu hiệu giảm nhẹ mặc dù quy mô vốn và doanh thu tiếp tục tăng (Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2025).

Nhìn chung, khu vực FDI có đóng góp đáng kể vào vốn, tài sản, doanh thu, thu nhập người lao động và hiệu quả kinh doanh của khu vực doanh nghiệp tại Phú Thọ. Tuy nhiên, xu hướng giảm tỷ suất lợi nhuận cho thấy việc mở rộng quy mô đầu tư chưa nhất thiết đi kèm với cải thiện tương ứng về hiệu quả. Vì vậy, đánh giá chất lượng FDI cần quan tâm không chỉ đến quy mô vốn mà còn đến giá trị gia tăng, năng suất và hiệu quả sử dụng vốn.

Đánh giá thu hút FDI trên phương diện kinh tế

Trên phương diện kinh tế, FDI có đóng góp đáng kể vào hoạt động đầu tư và phát triển công nghiệp của tỉnh Phú Thọ. Tính đến ngày 31/12/2024, 655/730 dự án FDI thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, với 10.586,164 triệu USD vốn đăng ký, tương ứng khoảng 89,7% số dự án và 91,0% tổng vốn FDI. Năm 2024, trong tổng số 59 dự án FDI cấp mới và điều chỉnh vốn với 476,055 triệu USD, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 53 dự án và 387,425 triệu USD (Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2025).

Bên cạnh đó, vốn đầu tư thực hiện của khu vực FDI đạt khoảng 7.600 tỷ đồng, cho thấy vai trò của FDI trong mở rộng hoạt động sản xuất của Tỉnh.

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI cũng cho thấy, quy mô tiếp tục được mở rộng. Giai đoạn 2020-2023, vốn kinh doanh bình quân tăng từ 243.360 tỷ đồng lên 331.402 tỷ đồng, giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn tăng từ 74.554 tỷ đồng lên 107.093 tỷ đồng, trong khi doanh thu thuần tăng từ 405.175 tỷ đồng lên 543.374 tỷ đồng.

Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp FDI giảm từ 8,31% năm 2020 xuống 6,02% năm 2023, cho thấy hiệu quả kinh doanh có xu hướng giảm mặc dù quy mô hoạt động tăng (Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2025).

Nhìn chung, FDI đã đóng góp tích cực vào đầu tư, mở rộng sản xuất công nghiệp, doanh thu và thu nhập của người lao động tại Phú Thọ. Tuy nhiên, vốn đăng ký năm 2024 thấp hơn các năm 2021-2023 trong khi số dự án tăng, đồng thời tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm. Điều này cho thấy, gia tăng số lượng dự án chưa đồng nghĩa với gia tăng quy mô và hiệu quả kinh tế của FDI. Vì vậy, bên cạnh duy trì khả năng thu hút đầu tư, Phú Thọ cần chú trọng hơn đến chất lượng và hiệu quả kinh tế của từng dự án FDI.

Đánh giá thu hút FDI trên phương diện xã hội

Trên phương diện xã hội, khu vực FDI có đóng góp đáng kể vào tạo việc làm và mở rộng nhu cầu lao động tại Phú Thọ. Năm 2023, doanh nghiệp FDI sử dụng 242.476 lao động, chiếm 50,93% tổng số lao động trong các doanh nghiệp, trong đó có 150.012 lao động nữ. Mặc dù tỷ trọng lao động FDI giảm nhẹ so với mức 54,30% năm 2020, khu vực FDI vẫn chiếm hơn một nửa số lao động trong khu vực doanh nghiệp, cho thấy vai trò quan trọng trong thị trường lao động của tỉnh Phú Thọ.

Sự mở rộng của khu vực FDI, đặc biệt trong ngành điện tử, cũng đi kèm với gia tăng việc làm. Số doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực điện tử tăng từ 180 doanh nghiệp năm 2023 lên 184 doanh nghiệp năm 2024, trong khi số lao động tăng từ 97.053 lên 99.830 người (Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2025).

Đồng thời, thu nhập bình quân của người lao động trong doanh nghiệp FDI tăng từ 8,917 triệu đồng/tháng năm 2020 lên 10,598 triệu đồng năm 2023 và luôn cao hơn mức bình quân chung của tỉnh. Điều này cho thấy, khu vực FDI không chỉ tạo việc làm mà còn có mức thu nhập lao động tương đối cao.

Tuy nhiên, các số liệu hiện có chủ yếu phản ánh quy mô việc làm và thu nhập, chưa cho phép đánh giá đầy đủ chất lượng việc làm, cơ cấu lao động theo trình độ kỹ năng và cơ hội phát triển nghề nghiệp trong khu vực FDI. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 36,2% trong 6 tháng đầu năm 2024 phản ánh nguồn nhân lực của toàn Tỉnh nhưng chưa thể hiện trực tiếp mức độ đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp FDI (Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2025).

Nhìn chung, FDI có đóng góp tích cực vào việc làm, thu nhập và sử dụng lao động nữ tại Phú Thọ. Tuy nhiên, để nâng cao đóng góp xã hội của FDI theo hướng bền vững, cần quan tâm hơn đến chất lượng việc làm và chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời gắn thu hút FDI với phát triển nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp.

Đánh giá thu hút FDI trên phương diện môi trường

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0vào năm 2050, yếu tố môi trường ngày càng trở thành tiêu chí quan trọng trong thu hút và quản lý FDI. Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022, đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp. Vì vậy, đánh giá FDI theo hướng phát triển bền vững cần xem xét cả tuân thủ môi trường, xử lý chất thải, sử dụng tài nguyên và khả năng phát triển hạ tầng xanh.

Tại Phú Thọ, yêu cầu bảo vệ môi trường được gắn với quá trình phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư thông qua đánh giá tác động môi trường và đầu tư hệ thống xử lý chất thải. Khu công nghiệp Thụy Vân có hệ thống xử lý nước thải công suất 5.000 m³/ngày đêm, trong khi Khu công nghiệp Trung Hà có công suất giai đoạn I 3.500 m³/ngày đêm nhưng tại thời điểm báo cáo vẫn đang chuẩn bị đầu tư nhà máy xử lý (Thùy Trang, 2024). Điều này cho thấy, mức độ hoàn thiện hạ tầng môi trường giữa các khu công nghiệp chưa đồng đều.

Bên cạnh đó, hạ tầng xanh và các giải pháp tuần hoàn tài nguyên tại Phú Thọ chưa phổ biến (UBND tỉnh Phú Thọ, 2026). Việc ứng dụng năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải carbon trong các khu, cụm công nghiệp còn hạn chế. Đây là vấn đề đáng lưu ý trong bối cảnh các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia, ngày càng quan tâm đến các yêu cầu về môi trường và ESG. Nếu các tiêu chuẩn môi trường và hạ tầng xanh không được cải thiện, khả năng thu hút các dự án FDI xanh và công nghệ cao có thể gặp khó khăn.

Nhìn chung, Phú Thọ đã từng bước tăng cường quản lý môi trường và phát triển hạ tầng phục vụ thu hút đầu tư, nhưng hạ tầng xanh và các giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên vẫn còn hạn chế. Vì vậy, bên cạnh kiểm soát tuân thủ pháp luật và hoàn thiện hạ tầng xử lý chất thải, tỉnh cần từng bước nâng cao tiêu chuẩn môi trường và bổ sung các tiêu chí về công nghệ sạch, sử dụng năng lượng và tài nguyên hiệu quả, giảm phát thải và khả năng đáp ứng yêu cầu ESG trong lựa chọn và đánh giá dự án FDI.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kết quả phân tích cho thấy, FDI đóng góp tích cực vào đầu tư, phát triển công nghiệp, hoạt động kinh doanh, việc làm và thu nhập tại Phú Thọ. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề về quy mô và hiệu quả đầu tư, chất lượng việc làm, nguồn nhân lực và đánh giá môi trường. Vì vậy, chính sách FDI tại Phú Thọ cần chuyển từ chú trọng quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả của dòng vốn.

Thứ nhất, cần nâng cao chất lượng các dự án FDI. Bên cạnh số lượng dự án và vốn đăng ký, Phú Thọ cần chú trọng các dự án có công nghệ và giá trị gia tăng cao, phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp của Tỉnh. Đây là điều đặc biệt cần thiết trong bối cảnh số dự án năm 2024 tăng nhưng vốn đăng ký giảm so với các năm trước.

Thứ hai, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong tỉnh/nước, qua đó nâng cao khả năng tham gia của doanh nghiệp địa phương vào hoạt động sản xuất và cung ứng của khu vực FDI (Ngô Doãn Vịnh và cộng sự, 2022).

Thứ ba, cần gắn thu hút FDI với phát triển nguồn nhân lực, thông qua việc tăng cường đào tạo và nâng cao kỹ năng của lao động phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp FDI, đồng thời quan tâm đến chất lượng việc làm, thu nhập và cơ hội phát triển nghề nghiệp.

Thứ tư, tăng cường yêu cầu môi trường trong thu hút FDI thông qua việc bảo đảm tuân thủ quy định và hoàn thiện hạ tầng xử lý chất thải, từng bước bổ sung các tiêu chí về công nghệ, sử dụng tài nguyên và phát thải trong lựa chọn và đánh giá dự án FDI.

Nhìn chung, Phú Thọ cần chuyển từ thu hút nhiều hơn sang thu hút tốt hơn, trong đó công nghệ, giá trị gia tăng, liên kết doanh nghiệp, chất lượng việc làm và hiệu quả môi trường trở thành những tiêu chí cốt lõi trong chính sách FDI.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đánh giá thực trạng thu hút FDI theo hướng phát triển bền vững tại tỉnh Phú Thọ trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường, dựa trên dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước và các nguồn thống kê chính thức. Kết quả cho thấy, FDI có đóng góp tích cực vào đầu tư, phát triển công nghiệp, hoạt động kinh doanh, việc làm và thu nhập tại địa phương. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của dòng vốn vẫn cần được nâng cao, đặc biệt về công nghệ và giá trị gia tăng, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chất lượng nguồn nhân lực và đánh giá tác động môi trường. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng nhằm nâng cao chất lượng dự án FDI, tăng cường liên kết doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và gắn thu hút FDI với yêu cầu bảo vệ môi trường.

Nghiên cứu chủ yếu sử dụng dữ liệu thứ cấp nên chưa thể đánh giá đầy đủ và định lượng chất lượng cũng như tác động của FDI trên từng phương diện. Các nghiên cứu tiếp theo có thể kết hợp dữ liệu doanh nghiệp và xây dựng hệ thống chỉ tiêu định lượng để đánh giá toàn diện hơn đóng góp kinh tế, xã hội và môi trường của FDI tại địa phương.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ (2026). Quyết định số 434-QĐ/TU ngày 28/5/2026 phê duyệt Đề án Tăng trưởng kinh tế “2 con số” của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 202- 2030, tầm nhìn 2045.

2. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

3. Islam, M. S., & Beloucif, A. (2024). Determinants of Foreign Direct Investment: A Systematic Review of the Empirical Studies. Foreign Trade Review, 59(2), 309-337.

4. Ngô Doãn Vịnh, Nguyễn Thế Vinh, Phạm Ngọc Trụ, và Lâm Thùy Dương. (2022). Đánh giá hiệu quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của cấp tỉnh ở Việt Nam qua ví dụ nghiên cứu trường hợp tỉnh Phú Thọ. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Hùng Vương, 28(3), 3-12.

5. Nguyen Thuy Linh, & Vu Duy (2026). Factors affecting FDI attraction into Vietnam’s manufacturing and processing sector: Theoretical research and proposed analytical framework. VNU Journal of Economics and Business, 6(3), 28. https://doi.org/10.57110/vnu-jeb.v6i3.710

6. OECD (2022). FDI Qualities Policy Toolkit. https://doi.org/10.1787/7ba74100-en

7. OECD (2026). FDI Qualities Review of Viet Nam: Powering the Next Growth Phase. https://doi.org/10.1787/a3c78dac-en

8. Quang PT, Rasoulinezhad E, Linh NN, Thao DP (2022). Investigating the determining factors of sustainable FDI in Vietnam. China Finance Review International, Vol. 12 No. 2 pp. 334-350. https://doi.org/10.1108/CFRI-10-2021-0207

9. Thống kê tỉnh Phú Thọ (2025). Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ 2024. Nxb Thống kê.

10. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 2/6/2022 về việc phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

11. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050.

12. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 5/12/2023 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

13. Thùy Trang (2024). Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu, cụm công nghiệp. https://baophutho.vn/xay-dung-he-thong-xu-ly-nuoc-thai-tap-trung-tai-cac-khu-cum-cong-nghiep-213955.htm

14. Tocar, S. (2018). Determinants of foreign direct investment: A review. Review of Economic and Business Studies, 11, 165-196. https://doi.org/10.1515/rebs-2018-0069

15. UBND tỉnh Phú Thọ (2026). Quyết định số 1396/QĐ-UBND ngày 6/5/2026 phê duyệt Đề án Định hướng thu hút FDI thế hệ mới tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026-2030.

16. UNCTAD (2023). World Investment Report 2023: Investing in Sustainable Energy for All. United Nations, Geneva.

17. United Nations (2015). Transforming Our World: The 2030 Agenda for Sustainable Development.

Ngày nhận bài: 5/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/9/2026; Ngày duyệt đăng: 29/9/2026

Các tin khác

Thiết kế thang đo đánh giá mối quan hệ giữa phân khúc thị trường và hiệu quả kinh doanh bất động sản

Thiết kế thang đo đánh giá mối quan hệ giữa phân khúc thị trường và hiệu quả kinh doanh bất động sản

Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh và xu hướng phát triển bền vững, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có ý nghĩa quan trọng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành

Tiền gửi của khách hàng cá nhân là nguồn vốn quan trọng đối với ngân hàng thương mại, đồng thời đáp ứng nhu cầu bảo toàn và tích lũy tài sản của người gửi tiền. Khi lãi suất và sản phẩm có thể được điều chỉnh tương đối nhanh, chất lượng dịch vụ trở thành một tiêu chí quan trọng trong lựa chọn ngân hàng.
Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Quyết định về cấu trúc vốn phản ánh sự lựa chọn của doanh nghiệp giữa nợ và vốn chủ sở hữu nhằm tài trợ cho hoạt động kinh doanh và các cơ hội tăng trưởng. Việc sử dụng nợ tạo ra lợi ích từ lá chắn thuế và có thể góp phần hạn chế chi phí đại diện
Tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện trên nền tảng số đến ý định du lịch di sản tại tỉnh Quảng Ninh

Tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện trên nền tảng số đến ý định du lịch di sản tại tỉnh Quảng Ninh

Trong quảng bá du lịch di sản tại Quảng Ninh, câu chuyện trên nền tảng số có thể gia tăng sức hấp dẫn và khả năng thuyết phục của thông điệp điểm đến. Nghiên cứu làm rõ tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện đến ý định du lịch di sản, đồng thời xem xét vai trò trung gian của mức độ thuyết phục cảm nhận.
Thu hút vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam

Thu hút vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam

Nhật Bản tiếp tục là một trong những đối tác đầu tư nước ngoài chiến lược hàng đầu của Việt Nam, với dòng vốn đang dịch chuyển mạnh mẽ từ sản xuất công nghiệp truyền thống sang thị trường tiêu dùng nội địa và hạ tầng bán lẻ.
Các thuộc tính Omnichannel ảnh hưởng đến trải nghiệm khách hàng trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam

Các thuộc tính Omnichannel ảnh hưởng đến trải nghiệm khách hàng trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam

Thương mại điện tử Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng và trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế số.
Nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Năng suất lao động là nền tảng quan trọng của tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc đánh giá thực trạng năng suất lao động giai đoạn 2020-2024 là cơ sở để đề xuất các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh: Nghiên cứu thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh: Nghiên cứu thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, logistics đã trở thành ngành dịch vụ giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tại Việt Nam, ngành logistics đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Khoảng cách thế hệ trong đội dự án tại doanh nghiệp: Thách thức lãnh đạo nhân sự Gen Z

Khoảng cách thế hệ trong đội dự án tại doanh nghiệp: Thách thức lãnh đạo nhân sự Gen Z

Trong các đội dự án, nơi yêu cầu cao về tốc độ, phối hợp đa chức năng và khả năng thích ứng, khác biệt về giá trị nghề nghiệp, kỳ vọng và cách thức giao tiếp giữa Gen Z với các thế hệ đi trước có thể tạo ra khoảng cách trong lãnh đạo và phối hợp.
Ảnh hưởng của marketing dựa trên trí tuệ nhân tạo đến ý định tiếp tục sử dụng thương hiệu của khách hàng

Ảnh hưởng của marketing dựa trên trí tuệ nhân tạo đến ý định tiếp tục sử dụng thương hiệu của khách hàng

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kinh tế số, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong marketing ngày càng phổ biến và được xem là chiến lược quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao lợi thế cạnh tranh.