Thu hút vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 17:31 | 29/09/2026
Nhật Bản tiếp tục là một trong những đối tác đầu tư nước ngoài chiến lược hàng đầu của Việt Nam, với dòng vốn đang dịch chuyển mạnh mẽ từ sản xuất công nghiệp truyền thống sang thị trường tiêu dùng nội địa và hạ tầng bán lẻ.

ThS. Trương Thị Hoàng Yến

Khoa Kinh tế chính trị, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nhật Bản tiếp tục là một trong những đối tác đầu tư nước ngoài chiến lược hàng đầu của Việt Nam, với dòng vốn đang dịch chuyển mạnh mẽ từ sản xuất công nghiệp truyền thống sang thị trường tiêu dùng nội địa và hạ tầng bán lẻ. Bài viết khái quát thực trạng thu hút vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp trong thời gian tới, nhằm thu hút dòng vốn nước ngoài chất lượng cao vào nước ta theo hướng thực chất và bền vững.

Từ khóa: Thu hút FDI, Nhật Bản, vốn FDI, vốn đầu tư chất lượng cao

Abstract

Japan continues to be one of Viet Nam’s leading strategic foreign investment partners, with investment flows shifting significantly from traditional industrial manufacturing toward the domestic consumer market and retail infrastructure. The article provides an overview of the current state of Japanese FDI attraction in Viet Nam and proposes several solutions for the coming period to attract high-quality foreign investment into the country in a substantive and sustainable manner.

Keywords: FDI attraction, Japan, FDI capital, high-quality investment capital

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Với hơn 30 năm đồng hành cùng nền kinh tế Việt Nam, dòng vốn FDI từ Nhật Bản đang chuyển dịch mạnh mẽ - không chỉ dừng lại ở sản xuất, mà còn vươn sâu vào thị trường tiêu dùng nội địa đầy tiềm năng. Để tiếp tục thúc đẩy thu hút nguồn vốn đầu tư chất lượng cao từ quốc gia này, Việt Nam cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp trọng tâm về thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực và chuyển đổi xanh.

THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM

Theo Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính), trong giai đoạn 2017-2021, Nhật Bản luôn nằm trong top 5 những quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam. Đặc biệt, năm 2017 và 2018, Nhật Bản xếp thứ nhất trong các quốc gia đầu tư vào Việt Nam. Cụ thể, năm 2017, Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư lên tới 9.112 triệu USD và 367 dự án cấp mới. Cùng với đó, năm 2018, Nhật Bản đầu tư 8.599 triệu USD với 429 dự án cấp mới vào Việt Nam.

Năm 2019-2020, mặc dù vốn đầu tư giảm do dịch COVID-19 nhưng Nhật Bản vẫn thuộc top 5 những quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam, với 4.138 triệu USD, 435 dự án cấp mới năm 2019 và 2.368 triệu USD với 272 dự án cấp mới vào năm 2020 (đều xếp thứ tư trong danh sách các quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam).

Từ năm 2021 đến năm 2025, vốn đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam bắt đầu tăng trở lại. Trong đó, năm 2021, tổng vốn đăng ký đạt 3.897 triệu USD và 199 dự án cấp mới (xếp thứ ba trong danh sách những quốc gia đầu tư nhiều nhất, chỉ đứng sau Singapore và Hàn Quốc). Trong đó, tổng vốn đầu tư năm 2022 đạt khoảng 2,5 tỷ USD; năm 2023, đạt gần 6,57 tỷ USD, tăng 37,3% so với năm 2022. Tính đến năm 2025, Nhật Bản tiếp tục củng cố vị thế là một đối tác kinh tế chiến lược hàng đầu của Việt Nam, với khoảng 5.635 dự án FDI đang hoạt động và tổng vốn lũy kế vượt 79,4 tỷ, duy trì vị trí nhà đầu tư lớn thứ ba tại thị trường (Cục Đầu tư nước ngoài, 2021-2105).

Sự hiện diện của cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản vẫn đặc biệt mạnh mẽ, với hơn 2.000 công ty đang hoạt động, chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực chế biến và sản xuất. Những thương hiệu như Honda, Toyota, Canon, Panasonic hay Nidec từ lâu đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống người Việt. Hiện các doanh nghiệp Nhật tham gia đầu tư tại 33/34 tỉnh thành, từng bước mở rộng các khoản đầu tư quy mô lớn vào sản xuất, hệ thống phân phối và chuỗi cung ứng, trải dài trên nhiều địa phương. Nguồn vốn FDI từ Nhật Bản tập trung vào công nghệ chế biến chế tạo (61%), sản xuất phân phối điện (15%) và kinh doanh bất động sản (12%) (Bạch Huy Thanh, 2026). Các địa phương thu hút vốn nhiều nhất lần lượt là TP. Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng và Đồng Nai.

Việt Nam không chỉ là điểm đến đầu tư mà còn là thị trường mang lại hiệu quả kinh doanh rõ nét. Kết quả Khảo sát về tình hình doanh nghiệp Nhật đầu tư tại nước ngoài năm tài chính 2025 của JETRO cho thấy, năm 2025 có khoảng 67,5% doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam báo cáo kinh doanh có lãi - mức cao nhất trong 15 năm và đứng thứ ba tại Đông Nam Á. Đáng chú ý, 35% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam có hoạt động xuất khẩu sang Mỹ, chủ yếu trong lĩnh vực điện tử và vận tải, cao hơn mức 28,9% của toàn khu vực ASEAN - khẳng định vai trò của Việt Nam như một trung tâm sản xuất quan trọng trong chiến lược toàn cầu của các doanh nghiệp Nhật. Bên cạnh sản xuất, làn sóng đầu tư Nhật Bản đang chuyển dịch rõ rệt sang thị trường tiêu dùng nội địa. Theo nhận định của Công ty tư vấn thị trường B&Company (Nhật Bản), các khoản đầu tư Nhật Bản trong năm 2025 được phân bổ trên nhiều lĩnh vực bao gồm năng lượng tái tạo, logistics, dịch vụ và phát triển hạ tầng. Báo cáo của JETRO cũng xác nhận, có 60,1% doanh nghiệp Nhật có kế hoạch mở rộng tại Việt Nam coi “sự gia tăng nhu cầu của thị trường nội địa” là động lực chính - cho thấy Việt Nam đang dịch chuyển từ cứ điểm sản xuất phục vụ xuất khẩu sang thị trường tiêu dùng đầy tiềm năng. Tỷ lệ doanh nghiệp Nhật dự định mở rộng hoạt động trong một đến hai năm tới đạt 56,9%, cao hơn đáng kể so với mức trung bình khu vực ASEAN là 46,8% (JETRO, 2026).

Hiện nay, các tên tuổi lớn của Nhật Bản đang hiện diện ngày càng đậm nét trên thị trường bán lẻ Việt Nam. AEON Việt Nam hiện vận hành 8 trung tâm thương mại, 15 cửa hàng bách hóa tổng hợp và siêu thị, 45 siêu thị quy mô vừa và nhỏ, 180 cửa hàng tiện lợi, 29 cửa hàng chuyên doanh cùng 1 cửa hàng dược phẩm và mỹ phẩm trên khắp cả nước. Tập đoàn này dự kiến đầu tư thêm 1,5 tỷ USD, đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu hằng năm khoảng 30% và mở rộng quy mô gấp ba lần vào năm 2030 (Ngọc Diễm, 2026).

Tháng 3/2026, Showa Sangyo - doanh nghiệp Nhật Bản được xem là phát minh bột tempura đầu tiên trên thế giới - chính thức vận hành nhà máy sản xuất bột trộn sẵn trị giá 21 triệu USD tại TP. Hồ Chí Minh, định vị đây là trung tâm sản xuất trọng điểm của doanh nghiệp tại ASEAN (Bông Mai, 2026).

Tuy nhiên, nhà đầu tư tại Nhật Bản còn gặp một số vấn đề khó khăn, vướng mắc tại Việt Nam, như: thủ tục hành chính phức tạp. Theo kết quả “Khảo sát thực trạng của các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại nước ngoài năm 2024” của Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO, 2025), 62% doanh nghiệp Nhật Bản cho rằng việc xin giấy phép và thực hiện thủ tục hành chính tại Việt Nam rất phức tạp - tỷ lệ này cao hơn nhiều so với mức trung bình 38% của khu vực ASEAN. JETRO thường xuyên tiếp nhận phản ánh từ các doanh nghiệp về các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính. Một số doanh nghiệp Nhật cho biết, phải mất tới một năm để xin giấy phép đầu tư, trong khi các thủ tục liên quan đến xây dựng hoặc sửa chữa nhà xưởng cũng có thể kéo dài tới 6 tháng.

Ngoài ra, chất lượng lao động còn thấp là một trong những “điểm nghẽn” lớn khiến Việt Nam giảm lợi thế cạnh tranh khi muốn thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ các doanh nghiệp Nhật Bản.

Bên cạnh đó, ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn hạn chế, làm giảm sức hút đối với các tập đoàn FDI công nghệ cao và dòng vốn thế hệ mới. Hiện nay, ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam có khoảng 1.500 doanh nghiệp, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực cơ khí, điện và điện tử, nhựa, cao su và hóa chất (Hoàng Văn Thuận, 2025). Tuy nhiên, thời gian qua, hoạt động của doanh nghiệp suy giảm mạnh khi doanh thu đi xuống, mất đơn hàng ở nhiều thị trường và đối mặt 2 trở ngại lớn về vốn và chi phí. Việc triển khai các chính sách ưu đãi để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, nhất là phục vụ trong chế biến nông, lâm, thủy sản, phát triển nông nghiệp, nông thôn, còn hạn chế. Nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nước ngoài ngay trên thị trường trong nước. Mặt khác, một số quy định về điều kiện để hưởng ưu đãi cũng ngặt nghèo, chưa thật sự phù hợp, khiến cho các doanh nghiệp rất khó tiếp cận và khó đáp ứng được yêu cầu để hưởng chính sách. Một hạn chế khác trong chính sách thu hút FDI của Việt Nam là chưa ràng buộc và cũng chưa khuyến khích để các doanh nghiệp FDI tăng tính lan tỏa cho các doanh nghiệp trong nước.

GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI THU HÚT FDI CỦA NHẬT BẢN TRONG THỜI GIAN TỚI

Thu hút FDI Nhật Bản trong bối cảnh mới đòi hỏi chuyển trọng tâm từ số lượng vốn sang chất lượng, công nghệ cao, chuyển đổi xanh và liên kết chuỗi cung ứng. Cụ thể cần lưu ý một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện xây dựng chính sách thu hút đầu tư nước ngoài phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của quốc gia để đảm bảo nguồn lực này phục vụ tốt cho phát triển sản xuất trong nước. Đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao, dành các ưu đãi đầu tư đặc biệt cho các loại dự án này. Đối với Nhật Bản, chiến lược cần xác định đây là đối tác chiến lược trọng tâm trong thu hút FDI chất lượng cao của Việt Nam. Việc xác định rõ vai trò của Nhật Bản sẽ tạo cơ sở để xây dựng các chương trình hợp tác đầu tư công nghệ cao dài hạn trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, bán dẫn, điện tử xanh, sản xuất thiết bị tiết kiệm năng lượng, logistics xanh và kinh tế tuần hoàn.

Thứ hai, thu hút vốn FDI vào những lĩnh vực cần ưu tiên theo từng giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế. Việt Nam có thể tích cực theo đuổi chính sách xây dựng các cụm công nghiệp, các đặc khu kinh tế có thể chế luật vượt ra ngoài thể chế quốc gia thống nhất tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài phát triển.

Thứ ba, cải cách mạnh mẽ về chất lượng đào tạo nhân lực. Theo đó, cần đổi mới giáo dục nghề nghiệp thông qua đẩy mạnh mô hình hợp tác công - tư, áp dụng “đào tạo kép” (học lý thuyết gắn liền thực hành tại xưởng) theo đơn đặt hàng trực tiếp từ doanh nghiệp Nhật; Nâng cao tác phong công nghiệp: Đưa kỷ luật lao động, văn hóa làm việc và chuẩn ngoại ngữ vào chương trình đào tạo cốt lõi từ sớm; Phát triển hạ tầng xã hội: Gắn chính sách đào tạo nghề với phúc lợi xã hội, nhà ở cho lao động ngoại tỉnh để tạo nguồn cung ổn định cho các khu công nghiệp.

Thứ tư, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư. Theo đó, Việt Nam tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, minh bạch hóa khung khổ pháp lý theo chuẩn mực quốc tế; Duy trì cơ chế trao đổi thường xuyên giữa Chính phủ, các bộ ngành (như Bộ Tài chính) và cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản để tháo gỡ vướng mắc kịp thời. Đẩy mạnh các diễn đàn kết nối giữa doanh nghiệp Nhật Bản với các tỉnh thành trên cả nước nhằm khai thác dư địa hợp tác mới.

Thứ năm, tận dụng hiệu quả các khuôn khổ hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản. Trong thời gian tới, Việt Nam cần tận dụng hiệu quả hơn các khuôn khổ hợp tác như Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và đặc biệt là Cộng đồng Phát thải ròng bằng 0 châu Á (AZEC) để thu hút các dự án đầu tư xanh từ Nhật Bản. Cần xây dựng các chương trình hợp tác đầu tư theo ngành, theo chuỗi giá trị và theo vùng lãnh thổ nhằm phát huy tối đa hiệu ứng cộng hưởng giữa hội nhập kinh tế và phát triển thị trường. Đồng thời, cần phối hợp với Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) để xây dựng danh mục dự án ưu tiên, hỗ trợ doanh nghiệp Nhật Bản tiếp cận thông tin đầu tư và triển khai các dự án năng lượng sạch, hạ tầng xanh và công nghệ môi trường tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Bạch Huy Thanh (2026). Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae sắp thăm Việt Nam. https://dantri.com.vn/thoi-su/thu-tuong-nhat-ban-takaichi-sanae-sap-tham-viet-nam-20260428204335128.htm

2. Bông Mai (2026). “Đại gia” Nhật Bản rót vốn lớn, chọn Việt Nam để xây nhà máy bột Tempura trứ danh. https://tuoitre.vn/dai-gia-nhat-ban-rot-von-lon-chon-viet-nam-de-xay-nha-may-bot-tempura-tru-danh-20260422133849715.htm

3. Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) (2021-2025). Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài các năm 2021-2025.

4. Hoàng Văn Thuận (2025). Công nghiệp hỗ trợ - Thực trạng và giải pháp phát triển. https://vietnamhoinhap.vn/vi/cong-nghiep-ho-tro-thuc-trang-va-giai-phap-phat-trien-51138.htm

5. Ngọc Diễm (2026). Aeon Mall làm dự án gần 150 triệu USD ở Bắc Ninh. https://vnexpress.net/aeon-mall-lam-du-an-gan-150-trieu-usd-o-bac-ninh-5068344.html

6. Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) (2025). Kết quả khảo sát thực trạng của các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại nước ngoài năm 2024.

7. Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) (2026). Kết quả khảo sát về tình hình doanh nghiệp Nhật đầu tư tại nước ngoài năm tài chính 2025.

Ngày nhận bài: 1/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/9/2026; Ngày duyệt đăng: 29/9/2026

Các tin khác

Thiết kế thang đo đánh giá mối quan hệ giữa phân khúc thị trường và hiệu quả kinh doanh bất động sản

Thiết kế thang đo đánh giá mối quan hệ giữa phân khúc thị trường và hiệu quả kinh doanh bất động sản

Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh và xu hướng phát triển bền vững, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có ý nghĩa quan trọng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tiền gửi tại quầy của SACOMBANK - Chi nhánh Tây Ninh - Phòng giao dịch Hòa Thành

Tiền gửi của khách hàng cá nhân là nguồn vốn quan trọng đối với ngân hàng thương mại, đồng thời đáp ứng nhu cầu bảo toàn và tích lũy tài sản của người gửi tiền. Khi lãi suất và sản phẩm có thể được điều chỉnh tương đối nhanh, chất lượng dịch vụ trở thành một tiêu chí quan trọng trong lựa chọn ngân hàng.
Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Quyết định về cấu trúc vốn phản ánh sự lựa chọn của doanh nghiệp giữa nợ và vốn chủ sở hữu nhằm tài trợ cho hoạt động kinh doanh và các cơ hội tăng trưởng. Việc sử dụng nợ tạo ra lợi ích từ lá chắn thuế và có thể góp phần hạn chế chi phí đại diện
Tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện trên nền tảng số đến ý định du lịch di sản tại tỉnh Quảng Ninh

Tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện trên nền tảng số đến ý định du lịch di sản tại tỉnh Quảng Ninh

Trong quảng bá du lịch di sản tại Quảng Ninh, câu chuyện trên nền tảng số có thể gia tăng sức hấp dẫn và khả năng thuyết phục của thông điệp điểm đến. Nghiên cứu làm rõ tác động của sự cuốn hút vào câu chuyện đến ý định du lịch di sản, đồng thời xem xét vai trò trung gian của mức độ thuyết phục cảm nhận.
Các thuộc tính Omnichannel ảnh hưởng đến trải nghiệm khách hàng trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam

Các thuộc tính Omnichannel ảnh hưởng đến trải nghiệm khách hàng trong bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam

Thương mại điện tử Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng và trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế số.
Nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Năng suất lao động là nền tảng quan trọng của tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc đánh giá thực trạng năng suất lao động giai đoạn 2020-2024 là cơ sở để đề xuất các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững tại Phú Thọ: Thực trạng và hàm ý chính sách

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững tại Phú Thọ: Thực trạng và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gia tăng, chính sách đầu tư tại nhiều quốc gia đang chuyển từ nhấn mạnh quy mô dòng vốn sang chú trọng chất lượng và phát triển bền vững.
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh: Nghiên cứu thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng logistics xanh: Nghiên cứu thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, logistics đã trở thành ngành dịch vụ giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tại Việt Nam, ngành logistics đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Khoảng cách thế hệ trong đội dự án tại doanh nghiệp: Thách thức lãnh đạo nhân sự Gen Z

Khoảng cách thế hệ trong đội dự án tại doanh nghiệp: Thách thức lãnh đạo nhân sự Gen Z

Trong các đội dự án, nơi yêu cầu cao về tốc độ, phối hợp đa chức năng và khả năng thích ứng, khác biệt về giá trị nghề nghiệp, kỳ vọng và cách thức giao tiếp giữa Gen Z với các thế hệ đi trước có thể tạo ra khoảng cách trong lãnh đạo và phối hợp.
Ảnh hưởng của marketing dựa trên trí tuệ nhân tạo đến ý định tiếp tục sử dụng thương hiệu của khách hàng

Ảnh hưởng của marketing dựa trên trí tuệ nhân tạo đến ý định tiếp tục sử dụng thương hiệu của khách hàng

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kinh tế số, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong marketing ngày càng phổ biến và được xem là chiến lược quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao lợi thế cạnh tranh.