Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng kênh thu gom rác thải điện tử chính thức của người dân nội thành Hà Nội
Nguyễn Thị Thu Uyên
Học viện Ngoại giao
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đưa rác thải điện tử vào kênh thu gom chính thức của người tiêu dùng tại khu vực nội thành Hà Nội. Dựa trên bộ dữ liệu khảo sát gồm 169 quan sát, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy OLS để đánh giá mức độ tác động của các yếu tố hành vi sử dụng kênh thu gom chính thức. Kết quả phân tích cho thấy, nhận thức về hệ thống thu gom chính thức, cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất là yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi xử lý rác thải điện tử đúng cách, trong khi thu nhập cá nhân có tác động cùng chiều ở mức độ hạn chế. Các yếu tố còn lại không cho thấy mức độ ảnh hưởng đáng kể trong mô hình nghiên cứu.
Từ khóa: Rác thải điện tử, EPR, thu gom chính thức, hành vi người tiêu dùng, Hà Nội
Summary
This study aims to analyze the factors influencing consumers’ behavior in disposing of electronic waste through formal collection channels in the inner districts of Ha Noi. Based on a survey dataset of 169 observations, the study employs an OLS regression model to evaluate the impact of behavioral factors on the use of formal collection systems. The results indicate that awareness of formal collection systems and the Extended Producer Responsibility (EPR) mechanism significantly influence proper e-waste disposal behavior, while personal income has a positive but limited effect. Other factors do not have statistically significant effects in the research model.
Keywords: Electronic waste, EPR, formal collection, consumer behavior, Ha Noi
GIỚI THIỆU
Sự gia tăng nhanh chóng của rác thải điện tử đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (Extended Producer Responsibility - EPR) đã được thể chế hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Nghị định 08/2022/NĐ-CP, yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu thiết bị điện tử tham gia vào hoạt động xử lý chất thải điện tử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy tỷ lệ tái chế thu gom chính thức còn rất thấp, dưới 10% với phần lớn rác thải điện tử vẫn nằm ngoài hệ thống quản lý chính thức (Open Development Mekong, 2024). Trong bối cảnh đó, hành vi sử dụng kênh thu gom của người tiêu dùng được xem là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả vận hành của hệ thống thu gom chính thức.
Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng kênh thu gom rác thải điện tử chính thức của người tiêu dùng tại khu vực nội thành Hà Nội. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hành vi thu gom rác thải điện tử trong bối cảnh chính sách mới, mà còn cung cấp thông tin tham khảo cho các cơ quan quản lý và các chủ thể liên quan trong việc tổ chức và hoàn thiện hệ thống thu gom rác thải điện tử tại khu vực đô thị Hà Nội.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Hành vi đưa rác thải điện tử vào kênh thu gom chính thức có thể được giải thích dựa trên các lý thuyết nền tảng về hành vi và công nghệ. Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) cho rằng hành vi chịu ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong khi Mô hình kích hoạt chuẩn mực (NAM) của Schwartz (1977) và Mô hình Giá trị - Niềm tin - Chuẩn mực (VBN) của Stern và cộng sự (1999) lại nhấn mạnh vai trò của nhận thức hậu quả và trách nhiệm cá nhân trong việc thúc đẩy hành vi môi trường. Trong bối cảnh chuyển đổi số, Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1989) và Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) của Venkatesh và cộng sự (2003) cung cấp khung lý thuyết giải thích cách nền tảng số tác động đến hành vi tiếp nhận thông tin của người tiêu dùng.
Dựa trên các lý thuyết này, nhiều nghiên cứu quốc tế như Islam và cộng sự (2021), Aboelmaged (2021) và Mohamad và cộng sự (2022) đã chỉ ra vai trò của nhận thức môi trường, sự thuận tiện, kiến thức về hệ thống thu gom và yếu tố công nghệ trong việc thúc đẩy hành vi tái chế.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Hong Nguyen Thi Thu và cộng sự (2019), Thao Le Thi Kim và Trang Nguyen Ha (2024) cho thấy hành vi tái chế chịu ảnh hưởng bởi nhận thức môi trường, kiến thức về điểm thu gom và mức độ chấp nhận công nghệ.
Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Dựa vào các nghiên cứu trước đây và những lý thuyết nền tảng, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến Mức độ sử dụng kênh thu gom rác thải điện tử chính thức của người tiêu dùng nội thành Hà Nội, gồm: Nhận thức về tác hại moi trường của rác thải điện tử (ENV), Nhận thức về hệ thống thu gom chính thức và EPR (EPR), Mức độ thuận tiện của kênh thu gom chính thức (CONV), Mức độ sử dụng nền tảng số (DIG); Thu nhập cá nhân là biến kiểm soát như Hình 1.
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Đề xuất của tác giả
Dựa trên cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, các giả thuyết được đề xuất như sau:
H1: Nhận thức về tác hại của rác thải điện tử có tác động tích cực đến Mức độ sử dụng kênh thu gom chính thức của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội.
H2: Nhận thức về hệ thống thu gom chính thức và EPR có tác động tích cực đến Mức độ sử dụng kênh thu gom chính thức.
H3: Mức độ thuận tiện của kênh thu gom chính thức có tác động tích cực đến Mức độ sử dụng kênh thu gom chính thức.
H4: Mức độ sử dụng nền tảng số có tác động tích cực đến Mức độ sử dụng kênh thu gom chính thức.
H5: Thu nhập cá nhân có ảnh hưởng đến Mức độ sử dụng kênh thu gom chính thức.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát được thu thập bằng bảng hỏi trực tuyến trong tháng 11/2025 với đối tượng khảo sát là nhóm người tiêu dùng đang sinh sống trong khu vực nội thành Hà Nội, có thói quen thường xuyên sử dụng và thải bỏ thiết bị điện tử. Bảng câu hỏi khảo sát trong nghiên cứu này bao gồm 23 biến quan sát, do đó số mẫu tối thiểu là: n ≥ 7*23 = 161 mẫu. Nghiên cứu lựa chọn phát ra 191 phiếu hỏi và sau quá trình lọc dữ liệu, tổng cộng 169 phiếu khảo sát hợp lệ được sử dụng cho phân tích định lượng.
Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm định Cronbach’s Alpha
Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thấy các thang đo AWARE _ENV, AWARE_EPR và CONVEN đều đạt độ tin cậy tốt, với hệ số Alpha dao động từ 0.801 đến 0.937 và các hệ số tương quan biến - tổng đều lớn hơn 0.5. Đối với thang đo DIGITAL, biến DIG1 có hệ số tương quan biến tổng thấp (0.257 < 0.3) nên sẽ bị loại để đảm bảo tính nhất quán của thang đo (Bảng 1).
Bảng 1: Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo
|
Thang đo |
Ký hiệu biến |
Hệ số tương quan biến tổng |
Cronbach’s Alpha nếu biến bị loại |
Cronbach’s Alpha chung |
|
Nhận thức về tác hại môi trường của rác thải điện tử
|
ENV1 |
0,821 |
0.925 |
0.937 |
|
ENV2 |
0.841 |
0.921 |
||
|
ENV3 |
0.791 |
0.930 |
||
|
ENV4 |
0.869 |
0.916 |
||
|
ENV5 |
0.838 |
0.922 |
||
|
Nhận thức về hệ thống thu gom chính thức và EPR
|
EPR1 |
0.664 |
0.808 |
0.843 |
|
EPR2 |
0.678 |
0.803 |
||
|
EPR3 |
0.603 |
0.823 |
||
|
EPR4 |
0.600 |
0.825 |
||
|
EPR5 |
0.703 |
0.796 |
||
|
Mức độ thuận tiện của kênh thu gom chính thức
|
CONV1 |
0.751 |
0.854 |
0.885 |
|
CONV2 |
0.797 |
0.843 |
||
|
CONV3 |
0.756 |
0.853 |
||
|
CONV4 |
0.607 |
0.885 |
||
|
CONV5 |
0.710 |
0.864 |
||
|
Mức độ sử dụng nền tảng số |
DIG1 |
0.257 |
0.869 |
0.801 |
|
DIG2 |
0.755 |
0.709 |
||
|
DIG3 |
0.796 |
0.692 |
||
|
DIG4 |
0.577 |
0.765 |
||
|
DIG5 |
0.623 |
0.750 |
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 20
Phân tích nhân tố khám phá - EFA
Phân tích EFA cho thấy, Hệ số KMO đạt 0.882 (> 0.5) và kiểm định Bartlett có Sig. = 0.000 (< 0.05), xác nhận dữ liệu hoàn toàn phù hợp để phân tích nhân tố. Kết quả EFA đã rút trích được 4 nhân tố với Eigenvalue > 1, giải thích 72.636% tổng phương sai. Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố > 0.50 và được giữ lại cho các phân tích tiếp theo (Bảng 2).
Bảng 2: Kết quả kiểm định EFA
|
Mã hóa biến quan sát |
Nhân tố 1 |
Nhân tố 2 |
Nhân tố 3 |
Nhân tố 4 |
|
ENV1 |
0.865 |
|
|
|
|
ENV2 |
0.884 |
|
|
|
|
ENV3 |
0.814 |
|
|
|
|
ENV4 |
0.876 |
|
|
|
|
ENV5 |
0.849 |
|
|
|
|
EPR1 |
|
0.819 |
|
|
|
EPR2 |
|
0.855 |
|
|
|
EPR3 |
|
0.810 |
|
|
|
EPR4 |
|
0.671 |
|
|
|
EPR5 |
|
0.751 |
|
|
|
CONV1 |
|
|
0.614 |
|
|
CONV2 |
|
|
0.607 |
|
|
CONV3 |
|
|
0.767 |
|
|
CONV4 |
|
|
0.601 |
|
|
CONV5 |
|
|
0.658 |
|
|
DIG2 |
|
|
|
0.867 |
|
DIG3 |
|
|
|
0.842 |
|
DIG4 |
|
|
|
0.704 |
|
DIG5 |
|
|
|
0.713 |
|
Giá trị riêng (Eigenvalue) |
41.329 |
16.330 |
8.973 |
6.005 |
|
Phương sai tích lũy (%) |
72.636 |
|||
|
Giá trị Sig. của Barlett |
0.000 |
|||
|
Kiểm định KMO |
0.882 |
|||
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 20
Phân tích hồi quy tuyến tính bội
Kết quả hồi quy (Bảng 3) cho thấy biến Nhận thức về hệ thống thu gom chính thức và EPR (AWARE_EPR) là yếu tố có tác động mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê trong mô hình, với hệ số chuẩn hóa β = 0.448 và Sig. = 0.000. Điều này khẳng định giả thuyết H2 được chấp nhận, đồng thời cho thấy khi người tiêu dùng hiểu biết rõ về trách nhiệm thu hồi - tái chế của nhà sản xuất, quy trình thu gom chính thức hay sự tồn tại của các điểm thu gom, họ có xu hướng cao hơn trong việc đưa rác thải điện tử vào kênh thu gom chính thống.
Biến Nhận thức về tác hại môi trường của rác thải điện tử (AWARE_ENV) lại không có ý nghĩa thống kê với Sig. = 0.492 và hệ số β âm rất nhỏ (β = -0.056). Điều này cho thấy việc hiểu biết về rủi ro, tác động môi trường của rác thải điện tử không đủ để thúc đẩy hành vi mang rác đến các điểm thu gom chính thức.
Tương tự, biến Mức độ thuận tiện (CONVEN) cũng không có ý nghĩa thống kê với β = 0.013 và Sig. = 0.896, cho thấy mức độ thuận tiện của các điểm thu gom chưa tạo ra đủ sự khác biệt để ảnh hưởng đến hành vi.
Biến Mức độ sử dụng nền tảng số (DIGITAL) trong mô hình cũng không có ý nghĩa thống kê với β = 0.032 và Sig. = 0.702, chứng tỏ hành vi sử dụng kênh chính thức không phụ thuộc vào thời gian hay mức độ sử dụng internet.
Ngoài ra, đối với biến Thu nhập (INCOME), hệ số chuẩn hóa β = 0.126 và Sig. = 0.070 cho thấy biến này có tác động yếu với ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Điều này cho thấy những người có thu nhập cao hơn có thể sử dụng kênh thu gom chính thức nhiều hơn, nhưng tác động này không đủ mạnh để kết luận chắc chắn.
Ngoài ra, kiểm tra đa cộng tuyến chỉ ra rằng tất cả các biến độc lập đều có VIF < 10, khẳng định không tồn tại đa cộng tuyến nghiêm trọng và mô hình có độ tin cậy cao.
Bảng 3: Kết quả hồi quy tuyến tính bội
|
Model |
Hệ số chưa chuẩn hóa |
Hệ số chuẩn hóa |
t |
Sig. |
Thống kê đa cộng tuyến |
||
|
B |
Sai số chuẩn |
Beta |
Hệ số Tolerance |
Hệ số VIF |
|||
|
(Constant) |
0.969 |
0.390 |
|
2.485 |
0.014 |
|
|
|
AWARE_ENV |
-0.062 |
0.090 |
-0.056 |
-0.689 |
0.492 |
0.725 |
1.378 |
|
AWARE_EPR |
0.473 |
0.106 |
0.448 |
4.468 |
0.000 |
0.475 |
2.105 |
|
CONVEN |
0.013 |
0.099 |
0.013 |
0.131 |
0.896 |
0.516 |
1.937 |
|
DIGITAL |
0.034 |
0.088 |
0.032 |
0.384 |
0.702 |
0.692 |
1.445 |
|
INCOME |
0.128 |
0.070 |
0.126 |
1.821 |
0.070 |
0.998 |
1.002 |
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 20
Kiểm định phân phối sai số chuẩn (Normality)
Kiểm định Kolmogorov-Smirnov cho kết quả Sig. = 0.070 (> 0.05), khẳng định không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa phân phối phần dư và phân phối chuẩn. Tiếp theo, biểu đồ tần số (Histogram) phân bố gần đối xứng quanh giá trị trung bình và có dạng gần giống hình chuông, cho thấy phần dư xấp xỉ phân phối chuẩn. Bên cạnh đó, biểu đồ P-P chuẩn của phần dư chuẩn hóa trong mô hình hồi quy (Normal P-P Plot) cũng cho thấy các điểm dữ liệu nằm tương đối sát đường chéo kỳ vọng, giúp củng cố thêm giả định phân phối chuẩn của sai số. Cuối cùng, biểu đồ phân tán (Scatter Plot) minh họa phần dư phân bố ngẫu nhiên xung quanh trục hoành tại mức 0, chứng tỏ giả định tuyến tính và phương sai không đổi của mô hình được thỏa mãn.
Hình 2: Biểu đồ tần số, P-P chuẩn và biểu đồ phân tán


Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 20
KẾT LUẬN
Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng kênh thu gom rác thải điện tử chính thức của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội trong bối cảnh triển khai cơ chế EPR. Kết quả phân tích cho thấy, chỉ có Nhận thức về hệ thống thu gom chính thức và EPR là yếu tố tác động mạnh và có ý nghĩa thống kê, trong khi các yếu tố còn lại không thể hiện ảnh hưởng đáng kể. Trên cơ sở đó, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm làm cơ sở tham khảo cho cơ quan quản lý và các bên liên quan trong việc thiết kế và hoàn thiện hệ thống thu gom rác thải điện tử chính thức tại khu vực đô thị Hà Nội.
Tài liệu tham khảo:
1. Aboelmaged, M. (2021). E-waste recycling behaviour: An integration of recycling habits into the Theory of Planned Behaviour. Journal of Cleaner Production, 278, 124-182. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2020.124182
2. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T
3. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340.
https://doi.org/10.2307/249008
4. Hong Thi Thu Nguyen, Hung, R. J., Lee, C. H., & Nguyen, H. T. T. (2019). Determinants of residents’ e-waste recycling behavioral intention: A case study from Vietnam. Sustainability, 11(1), 164. https://doi.org/10.3390/su11010164
5. Islam, M. T., Huda, N., & Golding, G. (2021). Global review on consumer behaviour toward e-waste recycling. Journal of Cleaner Production, 316, 128-297. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2021.128297
6. Mohamad, S. H., Md Yunos, R., & Md Nor, S. (2022). Determinants of consumers’ e-waste recycling behaviour through the lens of extended TPB. Sustainability, 14(15), 9031. https://doi.org/10.3390/su14159031
7. Schwartz, S. H. (1977). Normative influences on altruism. In L. Berkowitz (Ed.), Advances in experimental social psychology (Vol. 10, pp. 221-279). Academic Press. https://doi.org/10.1016/S0065-2601(08)60358-5
8. Stern, P. C., Dietz, T., Abel, T., Guagnano, G., & Kalof, L. (1999). A value-belief-norm theory of support for social movements: The case of environmentalism. Human Ecology Review, 6(2), 81-97.
9. Thao Le Thi Kim & Trang Nguyen Ha (2024). E-waste recycling behavior of customers in Vietnam: Insights from Ho Chi Minh City and Dong Nai. IOP Conference Series: Earth and Environmental Science, 1349(1), 012038. https://iopscience.iop.org/article/10.1088/1755-1315/1349/1/012038
10 Venkatesh, V., Morris, M. G., Davis, G. B., & Davis, F. D. (2003). User acceptance of information technology: Toward a unified view. MIS Quarterly, 27(3), 425-478. https://doi.org/10.2307/30036540
| Ngày nhận bài: 14/2/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 17/3/2026; Ngày duyệt đăng: 23/3/2026 |
Các tin khác
Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi
Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư
Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam
Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro
Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam
Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang
Tác động của quản trị nguồn nhân lực xanh đến hành vi xanh tự nguyện của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam