Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng kênh thu gom rác thải điện tử chính thức của người dân nội thành Hà Nội

Nghiên cứu - Trao đổi 21:06 | 26/03/2026
Kết quả phân tích cho thấy, nhận thức về hệ thống thu gom chính thức, cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất là yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi xử lý rác thải điện tử đúng cách, trong khi thu nhập cá nhân có tác động cùng chiều ở mức độ hạn chế.

Nguyễn Thị Thu Uyên

Học viện Ngoại giao

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đưa rác thải điện tử vào kênh thu gom chính thức của người tiêu dùng tại khu vực nội thành Hà Nội. Dựa trên bộ dữ liệu khảo sát gồm 169 quan sát, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy OLS để đánh giá mức độ tác động của các yếu tố hành vi sử dụng kênh thu gom chính thức. Kết quả phân tích cho thấy, nhận thức về hệ thống thu gom chính thức, cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất là yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi xử lý rác thải điện tử đúng cách, trong khi thu nhập cá nhân có tác động cùng chiều ở mức độ hạn chế. Các yếu tố còn lại không cho thấy mức độ ảnh hưởng đáng kể trong mô hình nghiên cứu.

Từ khóa: Rác thải điện tử, EPR, thu gom chính thức, hành vi người tiêu dùng, Hà Nội

Summary

This study aims to analyze the factors influencing consumers’ behavior in disposing of electronic waste through formal collection channels in the inner districts of Ha Noi. Based on a survey dataset of 169 observations, the study employs an OLS regression model to evaluate the impact of behavioral factors on the use of formal collection systems. The results indicate that awareness of formal collection systems and the Extended Producer Responsibility (EPR) mechanism significantly influence proper e-waste disposal behavior, while personal income has a positive but limited effect. Other factors do not have statistically significant effects in the research model.

Keywords: Electronic waste, EPR, formal collection, consumer behavior, Ha Noi

GIỚI THIỆU

Sự gia tăng nhanh chóng của rác thải điện tử đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (Extended Producer Responsibility - EPR) đã được thể chế hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Nghị định 08/2022/NĐ-CP, yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu thiết bị điện tử tham gia vào hoạt động xử lý chất thải điện tử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy tỷ lệ tái chế thu gom chính thức còn rất thấp, dưới 10% với phần lớn rác thải điện tử vẫn nằm ngoài hệ thống quản lý chính thức (Open Development Mekong, 2024). Trong bối cảnh đó, hành vi sử dụng kênh thu gom của người tiêu dùng được xem là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả vận hành của hệ thống thu gom chính thức.

Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng kênh thu gom rác thải điện tử chính thức của người tiêu dùng tại khu vực nội thành Hà Nội. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hành vi thu gom rác thải điện tử trong bối cảnh chính sách mới, mà còn cung cấp thông tin tham khảo cho các cơ quan quản lý và các chủ thể liên quan trong việc tổ chức và hoàn thiện hệ thống thu gom rác thải điện tử tại khu vực đô thị Hà Nội.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Hành vi đưa rác thải điện tử vào kênh thu gom chính thức có thể được giải thích dựa trên các lý thuyết nền tảng về hành vi và công nghệ. Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) cho rằng hành vi chịu ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong khi Mô hình kích hoạt chuẩn mực (NAM) của Schwartz (1977) và Mô hình Giá trị - Niềm tin - Chuẩn mực (VBN) của Stern và cộng sự (1999) lại nhấn mạnh vai trò của nhận thức hậu quả và trách nhiệm cá nhân trong việc thúc đẩy hành vi môi trường. Trong bối cảnh chuyển đổi số, Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1989) và Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) của Venkatesh và cộng sự (2003) cung cấp khung lý thuyết giải thích cách nền tảng số tác động đến hành vi tiếp nhận thông tin của người tiêu dùng.

Dựa trên các lý thuyết này, nhiều nghiên cứu quốc tế như Islam và cộng sự (2021), Aboelmaged (2021) và Mohamad và cộng sự (2022) đã chỉ ra vai trò của nhận thức môi trường, sự thuận tiện, kiến thức về hệ thống thu gom và yếu tố công nghệ trong việc thúc đẩy hành vi tái chế.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Hong Nguyen Thi Thu và cộng sự (2019), Thao Le Thi Kim và Trang Nguyen Ha (2024) cho thấy hành vi tái chế chịu ảnh hưởng bởi nhận thức môi trường, kiến thức về điểm thu gom và mức độ chấp nhận công nghệ.

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Dựa vào các nghiên cứu trước đây và những lý thuyết nền tảng, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến Mức độ sử dụng kênh thu gom rác thải điện tử chính thức của người tiêu dùng nội thành Hà Nội, gồm: Nhận thức về tác hại moi trường của rác thải điện tử (ENV), Nhận thức về hệ thống thu gom chính thức và EPR (EPR), Mức độ thuận tiện của kênh thu gom chính thức (CONV), Mức độ sử dụng nền tảng số (DIG); Thu nhập cá nhân là biến kiểm soát như Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Đề xuất của tác giả

Dựa trên cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, các giả thuyết được đề xuất như sau:

H1: Nhận thức về tác hại của rác thải điện tử có tác động tích cực đến Mức độ sử dụng kênh thu gom chính thức của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội.

H2: Nhận thức về hệ thống thu gom chính thức và EPR có tác động tích cực đến Mức độ sử dụng kênh thu gom chính thức.

H3: Mức độ thuận tiện của kênh thu gom chính thức có tác động tích cực đến Mức độ sử dụng kênh thu gom chính thức.

H4: Mức độ sử dụng nền tảng số có tác động tích cực đến Mức độ sử dụng kênh thu gom chính thức.

H5: Thu nhập cá nhân có ảnh hưởng đến Mức độ sử dụng kênh thu gom chính thức.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát được thu thập bằng bảng hỏi trực tuyến trong tháng 11/2025 với đối tượng khảo sát là nhóm người tiêu dùng đang sinh sống trong khu vực nội thành Hà Nội, có thói quen thường xuyên sử dụng và thải bỏ thiết bị điện tử. Bảng câu hỏi khảo sát trong nghiên cứu này bao gồm 23 biến quan sát, do đó số mẫu tối thiểu là: n ≥ 7*23 = 161 mẫu. Nghiên cứu lựa chọn phát ra 191 phiếu hỏi và sau quá trình lọc dữ liệu, tổng cộng 169 phiếu khảo sát hợp lệ được sử dụng cho phân tích định lượng.

Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kiểm định Cronbach’s Alpha

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thấy các thang đo AWARE _ENV, AWARE_EPR và CONVEN đều đạt độ tin cậy tốt, với hệ số Alpha dao động từ 0.801 đến 0.937 và các hệ số tương quan biến - tổng đều lớn hơn 0.5. Đối với thang đo DIGITAL, biến DIG1 có hệ số tương quan biến tổng thấp (0.257 < 0.3) nên sẽ bị loại để đảm bảo tính nhất quán của thang đo (Bảng 1).

Bảng 1: Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo

Thang đo

Ký hiệu biến

Hệ số tương quan biến tổng

Cronbach’s Alpha nếu biến bị loại

Cronbach’s Alpha chung

Nhận thức về tác hại môi trường của rác thải điện tử

ENV1

0,821

0.925

0.937

ENV2

0.841

0.921

ENV3

0.791

0.930

ENV4

0.869

0.916

ENV5

0.838

0.922

Nhận thức về hệ thống thu gom chính thức và EPR

EPR1

0.664

0.808

0.843

EPR2

0.678

0.803

EPR3

0.603

0.823

EPR4

0.600

0.825

EPR5

0.703

0.796

Mức độ thuận tiện của kênh thu gom chính thức

CONV1

0.751

0.854

0.885

CONV2

0.797

0.843

CONV3

0.756

0.853

CONV4

0.607

0.885

CONV5

0.710

0.864

Mức độ sử dụng nền tảng số

DIG1

0.257

0.869

0.801

DIG2

0.755

0.709

DIG3

0.796

0.692

DIG4

0.577

0.765

DIG5

0.623

0.750

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 20

Phân tích nhân tố khám phá - EFA

Phân tích EFA cho thấy, Hệ số KMO đạt 0.882 (> 0.5) và kiểm định Bartlett có Sig. = 0.000 (< 0.05), xác nhận dữ liệu hoàn toàn phù hợp để phân tích nhân tố. Kết quả EFA đã rút trích được 4 nhân tố với Eigenvalue > 1, giải thích 72.636% tổng phương sai. Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố > 0.50 và được giữ lại cho các phân tích tiếp theo (Bảng 2).

Bảng 2: Kết quả kiểm định EFA

Mã hóa biến quan sát

Nhân tố 1

Nhân tố 2

Nhân tố 3

Nhân tố 4

ENV1

0.865

ENV2

0.884

ENV3

0.814

ENV4

0.876

ENV5

0.849

EPR1

0.819

EPR2

0.855

EPR3

0.810

EPR4

0.671

EPR5

0.751

CONV1

0.614

CONV2

0.607

CONV3

0.767

CONV4

0.601

CONV5

0.658

DIG2

0.867

DIG3

0.842

DIG4

0.704

DIG5

0.713

Giá trị riêng (Eigenvalue)

41.329

16.330

8.973

6.005

Phương sai tích lũy (%)

72.636

Giá trị Sig. của Barlett

0.000

Kiểm định KMO

0.882

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 20

Phân tích hồi quy tuyến tính bội

Kết quả hồi quy (Bảng 3) cho thấy biến Nhận thức về hệ thống thu gom chính thức và EPR (AWARE_EPR) là yếu tố có tác động mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê trong mô hình, với hệ số chuẩn hóa β = 0.448 và Sig. = 0.000. Điều này khẳng định giả thuyết H2 được chấp nhận, đồng thời cho thấy khi người tiêu dùng hiểu biết rõ về trách nhiệm thu hồi - tái chế của nhà sản xuất, quy trình thu gom chính thức hay sự tồn tại của các điểm thu gom, họ có xu hướng cao hơn trong việc đưa rác thải điện tử vào kênh thu gom chính thống.

Biến Nhận thức về tác hại môi trường của rác thải điện tử (AWARE_ENV) lại không có ý nghĩa thống kê với Sig. = 0.492 và hệ số β âm rất nhỏ (β = -0.056). Điều này cho thấy việc hiểu biết về rủi ro, tác động môi trường của rác thải điện tử không đủ để thúc đẩy hành vi mang rác đến các điểm thu gom chính thức.

Tương tự, biến Mức độ thuận tiện (CONVEN) cũng không có ý nghĩa thống kê với β = 0.013 và Sig. = 0.896, cho thấy mức độ thuận tiện của các điểm thu gom chưa tạo ra đủ sự khác biệt để ảnh hưởng đến hành vi.

Biến Mức độ sử dụng nền tảng số (DIGITAL) trong mô hình cũng không có ý nghĩa thống kê với β = 0.032 và Sig. = 0.702, chứng tỏ hành vi sử dụng kênh chính thức không phụ thuộc vào thời gian hay mức độ sử dụng internet.

Ngoài ra, đối với biến Thu nhập (INCOME), hệ số chuẩn hóa β = 0.126 và Sig. = 0.070 cho thấy biến này có tác động yếu với ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Điều này cho thấy những người có thu nhập cao hơn có thể sử dụng kênh thu gom chính thức nhiều hơn, nhưng tác động này không đủ mạnh để kết luận chắc chắn.

Ngoài ra, kiểm tra đa cộng tuyến chỉ ra rằng tất cả các biến độc lập đều có VIF < 10, khẳng định không tồn tại đa cộng tuyến nghiêm trọng và mô hình có độ tin cậy cao.

Bảng 3: Kết quả hồi quy tuyến tính bội

Model

Hệ số chưa chuẩn hóa

Hệ số chuẩn hóa

t

Sig.

Thống kê đa cộng tuyến

B

Sai số chuẩn

Beta

Hệ số Tolerance

Hệ số VIF

(Constant)

0.969

0.390

2.485

0.014

AWARE_ENV

-0.062

0.090

-0.056

-0.689

0.492

0.725

1.378

AWARE_EPR

0.473

0.106

0.448

4.468

0.000

0.475

2.105

CONVEN

0.013

0.099

0.013

0.131

0.896

0.516

1.937

DIGITAL

0.034

0.088

0.032

0.384

0.702

0.692

1.445

INCOME

0.128

0.070

0.126

1.821

0.070

0.998

1.002

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 20

Kiểm định phân phối sai số chuẩn (Normality)

Kiểm định Kolmogorov-Smirnov cho kết quả Sig. = 0.070 (> 0.05), khẳng định không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa phân phối phần dư và phân phối chuẩn. Tiếp theo, biểu đồ tần số (Histogram) phân bố gần đối xứng quanh giá trị trung bình và có dạng gần giống hình chuông, cho thấy phần dư xấp xỉ phân phối chuẩn. Bên cạnh đó, biểu đồ P-P chuẩn của phần dư chuẩn hóa trong mô hình hồi quy (Normal P-P Plot) cũng cho thấy các điểm dữ liệu nằm tương đối sát đường chéo kỳ vọng, giúp củng cố thêm giả định phân phối chuẩn của sai số. Cuối cùng, biểu đồ phân tán (Scatter Plot) minh họa phần dư phân bố ngẫu nhiên xung quanh trục hoành tại mức 0, chứng tỏ giả định tuyến tính và phương sai không đổi của mô hình được thỏa mãn.

Hình 2: Biểu đồ tần số, P-P chuẩn và biểu đồ phân tán

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 20

KẾT LUẬN

Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng kênh thu gom rác thải điện tử chính thức của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội trong bối cảnh triển khai cơ chế EPR. Kết quả phân tích cho thấy, chỉ có Nhận thức về hệ thống thu gom chính thức và EPR là yếu tố tác động mạnh và có ý nghĩa thống kê, trong khi các yếu tố còn lại không thể hiện ảnh hưởng đáng kể. Trên cơ sở đó, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm làm cơ sở tham khảo cho cơ quan quản lý và các bên liên quan trong việc thiết kế và hoàn thiện hệ thống thu gom rác thải điện tử chính thức tại khu vực đô thị Hà Nội.

Tài liệu tham khảo:

1. Aboelmaged, M. (2021). E-waste recycling behaviour: An integration of recycling habits into the Theory of Planned Behaviour. Journal of Cleaner Production, 278, 124-182. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2020.124182

2. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T

3. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340.

https://doi.org/10.2307/249008

4. Hong Thi Thu Nguyen, Hung, R. J., Lee, C. H., & Nguyen, H. T. T. (2019). Determinants of residents’ e-waste recycling behavioral intention: A case study from Vietnam. Sustainability, 11(1), 164. https://doi.org/10.3390/su11010164

5. Islam, M. T., Huda, N., & Golding, G. (2021). Global review on consumer behaviour toward e-waste recycling. Journal of Cleaner Production, 316, 128-297. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2021.128297

6. Mohamad, S. H., Md Yunos, R., & Md Nor, S. (2022). Determinants of consumers’ e-waste recycling behaviour through the lens of extended TPB. Sustainability, 14(15), 9031. https://doi.org/10.3390/su14159031

7. Schwartz, S. H. (1977). Normative influences on altruism. In L. Berkowitz (Ed.), Advances in experimental social psychology (Vol. 10, pp. 221-279). Academic Press. https://doi.org/10.1016/S0065-2601(08)60358-5

8. Stern, P. C., Dietz, T., Abel, T., Guagnano, G., & Kalof, L. (1999). A value-belief-norm theory of support for social movements: The case of environmentalism. Human Ecology Review, 6(2), 81-97.

9. Thao Le Thi Kim & Trang Nguyen Ha (2024). E-waste recycling behavior of customers in Vietnam: Insights from Ho Chi Minh City and Dong Nai. IOP Conference Series: Earth and Environmental Science, 1349(1), 012038. https://iopscience.iop.org/article/10.1088/1755-1315/1349/1/012038

10 Venkatesh, V., Morris, M. G., Davis, G. B., & Davis, F. D. (2003). User acceptance of information technology: Toward a unified view. MIS Quarterly, 27(3), 425-478. https://doi.org/10.2307/30036540

Ngày nhận bài: 14/2/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 17/3/2026; Ngày duyệt đăng: 23/3/2026

Các tin khác

Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi

Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi

Du lịch cộng đồng tạo sinh kế từ tài nguyên tự nhiên, văn hóa và tri thức địa phương, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của người dân vào tổ chức dịch vụ, bảo vệ tài nguyên và phân phối lợi ích.
Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam

Sự tham gia của khu vực tư nhân trong đầu tư và cung cấp dịch vụ cấp nước sạch nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội, song vẫn chịu nhiều rào cản liên quan đến rủi ro đầu tư và khả năng thu hồi vốn
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Nghiên cứu làm rõ yêu cầu cân bằng giữa bảo đảm an ninh quốc gia và thu hút FDI thông qua các tiêu chí kiểm soát minh bạch, rõ ràng và tương xứng với mức độ rủi ro, trên cơ sở phân tích cơ chế kiểm soát đầu tư nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam.
Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam

Bài viết phân tích các cơ hội và thách thức trong đổi mới mô hình kinh doanh dưới tác động của công nghệ số, từ đó đề xuất hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiệu quả đổi mới và xác định hướng nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.
Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro

Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro

Kinh tế số đang làm thay đổi căn bản cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh, phương thức giao dịch và khả năng kiểm soát của Nhà nước đối với dòng hàng hóa, dòng tiền và dữ liệu giao dịch. Trong mô hình truyền thống, hoạt động kinh doanh thường gắn với địa điểm cố định, giấy phép, hóa đơn chứng từ và hệ thống sổ sách tương đối hữu hình. Ngược lại, trong kinh tế nền tảng, một cá nhân hoặc tổ chức có thể bán hàng, cung cấp dịch vụ, nhận hoa hồng tiếp thị, livestream bán sản phẩm hoặc kinh doanh nội dung số trên nhiều nền tảng khác nhau mà không cần hiện diện vật lý rõ ràng. Điều này đã mở rộng cơ hội kinh doanh nhưng đồng thời làm phát sinh rủi ro thất thu thuế nếu phương thức quản lý không được chuyển đổi tương ứng.
Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) bổ sung cho lợi nhuận dồn tích về thanh khoản, khả năng tự tài trợ và chất lượng kết quả kinh doanh.
Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang

Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang

Dưới tác động của phát triển bền vững, vai trò của giáo dục đại học đã có sự thay đổi căn bản từ chức năng đào tạo chuyên môn sang yêu cầu gắn kết sâu hơn với các vấn đề xã hội và nhu cầu phát triển của địa phương.
Tác động của quản trị nguồn nhân lực xanh đến hành vi xanh tự nguyện của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam

Tác động của quản trị nguồn nhân lực xanh đến hành vi xanh tự nguyện của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam

Chính sách nhân sự gắn với mục tiêu môi trường được xem là đòn bẩy để tổ chức hiện thực hóa chiến lược xanh qua chính đội ngũ của mình. Tuy nhiên chính sách nhân sự xanh trên giấy không tự nhiên trở thành hành động xanh ngoài khuôn khổ nhiệm vụ.
​​​​​​​Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

​​​​​​​Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Đội ngũ giao dịch viên - những người tiếp xúc và giao dịch trực tiếp với khách hàng - được xem như “bộ mặt” của ngân hàng; là nhóm lao động có kết quả công việc gắn liền với năng lực cạnh tranh và uy tín thương hiệu của mỗi ngân hàng thương mại cổ phần.
Chiến lược bảo đảm nguồn cung năng lượng của Chính quyền Trump 2.0: Ba trụ cột, tác động và hàm ý đối với Việt Nam

Chiến lược bảo đảm nguồn cung năng lượng của Chính quyền Trump 2.0: Ba trụ cột, tác động và hàm ý đối với Việt Nam

Bảo đảm nguồn cung năng lượng không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu trong điều kiện bình thường mà còn nhằm hạn chế khả năng một cú sốc bên ngoài chuyển thành sự gián đoạn nghiêm trọng trong hệ thống năng lượng quốc gia của Hoa Kỳ.