Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia nền kinh tế chia sẻ: Góc nhìn từ người nhận chia sẻ tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 16:24 | 13/04/2026
Nghiên cứu này phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ trong nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam.

TS. Trần Thị Mai Hoa

Giảng viên Đại học Kinh tế Quốc dân

Tống Diệu Linh, Trần Thị Mai Hương,

Nguyễn Thị Hải Anh, Nguyễn Thị Huyền, Vũ Cẩm Lê

Sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân

Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ trong nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam. Phân tích được thực hiện bằng phương pháp định lượng. Kết quả cho thấy, có 8 nhân tố ảnh hưởng tích cực đến Ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ, trong đó Uy tín người chia sẻ có ảnh hưởng mạnh nhất thông qua Niềm tin; nh cách có ảnh hưởng trực tiếp mạnh nhất đến Ý định sử dụng dịch vụ. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế chia sẻ tại Việt Nam.

Từ khoá: Kinh tế chia sẻ, nhân tố ảnh hưởng, ý định sử dụng, người nhận chia sẻ

Abstract

The study analyzes the factors influencing the service usage intention of service receivers within the sharing economy in Viet Nam. The analysis was conducted using a quantitative research approach. The results indicate that eight factors positively influence the usage intention of service receivers. Among these, the reputation of the service provider exerts the strongest influence through trust, while personality has the strongest direct effect on the service usage intention. Based on the research findings, the authors propose several managerial implications to promote the development of the sharing economy in the country.

Keywords: Sharing economy, influencing factors, usage intention, service receivers

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, mô hình kinh tế chia sẻ nổi lên như một cấu phần quan trọng của nền kinh tế số tại Việt Nam. Dựa trên các nền tảng công nghệ như dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây và thanh toán số, kinh tế chia sẻ cho phép kết nối trực tiếp giữa người sở hữu tài sản và người có nhu cầu sử dụng. Bên cạnh đó, kinh tế chia sẻ còn được xem là một mắt xích quan trọng trong nền kinh tế tuần hoàn thông qua việc tối ưu hóa tài sản nhàn rỗi và kéo dài vòng đời sản phẩm.

Việc gia tăng sử dụng chung thay vì sở hữu riêng lẻ không chỉ nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực mà còn phù hợp với định hướng chuyển dịch sang mô hình tiêu dùng bền vững và tái sử dụng tài nguyên trong chu trình khép kín. Tuy nhiên, dù thị trường mở rộng nhanh, ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ vẫn chịu tác động bởi một số rào cản về tâm lý như niềm tin, rủi ro cảm nhận, bảo mật thông tin và mức độ bảo vệ pháp lý.

Do đó, việc phân tích có hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ trong kinh tế chia sẻ tại Việt Nam không chỉ bổ sung cơ sở lý luận về hành vi chấp nhận công nghệ trong môi trường số, mà còn cung cấp hàm ý quản trị và chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế chia sẻ theo hướng minh bạch, an toàn và bền vững.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp có chọn lọc 4 lý thuyết kinh điển nhằm kiến giải toàn diện ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số. Mô hình được hình thành từ sự giao thoa giữa: Lý thuyết Hành vi dự định (TPB), Mô hình Chấp nhận công nghệ (TAM), Mô hình Năm yếu tố (Big Five) và Lý thuyết Tương tác xã hội (SET). Trên cơ sở kế thừa và tích hợp các nền tảng này, nghiên cứu đề xuất một khung lý thuyết tổng hợp định hình ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ tại Việt Nam, cho phép tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn đa chiều và có tính giải thích cao.

Tổng quan nghiên cứu

Ý định sử dụng dịch vụ kinh tế chia sẻ

Ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ được định nghĩa là mức độ sẵn sàng và cam kết hành vi của cá nhân trong việc sử dụng các dịch vụ thuộc nền kinh tế chia sẻ trong tương lai.

Niềm tin của người dùng

Trong bối cảnh nền kinh tế chia sẻ, niềm tin thường được tiếp cận như là một trạng thái tâm lý, phản ánh mức độ sẵn lòng của một cá nhân trong việc tin tưởng và sẵn sàng hành động dựa trên lời nói, hành động và quyết định của người khác (McAllister, 1995). Trong nghiên cứu này, niềm tin là biến trung gian tác động tới ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ.

Chất lượng của nền tảng

Chất lượng của nền tảng được hiểu là mức độ mà nền tảng công nghệ đáp ứng được các yêu cầu về chức năng, độ tin cậy, khả năng sử dụng và cung cấp trải nghiệm tích cực cho người dùng trong quá trình tương tác (DeLone và McLean, 2003; McLean và cộng sự, 2016).

Uy tín của người chia sẻ

Uy tín của người chia sẻ là là sự kết hợp của phản hồi lịch sử (xếp hạng/đánh giá) và tín hiệu trực quan giúp người tham gia đánh giá rủi ro của giao dịch (Ert và cộng sự, 2016). Trong bối cảnh thiếu tiếp xúc trực tiếp và quy định pháp lý hạn chế, uy tín đóng vai trò như cơ chế sàng lọc và bảo đảm hành vi trong quá khứ.

Chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm trong các nền tảng số là một cấu trúc đa chiều, bao gồm chất lượng thông tin (mô tả, hình ảnh) và tính năng thực tế của tài sản (Ghasemaghaei và cộng sự, 2019). Khi tài sản đáp ứng hoặc vượt kỳ vọng, người dùng hình thành đánh giá tích cực về năng lực và sự đáng tin cậy của người cung cấp.

Truyền miệng điện tử

Trong nền kinh tế chia sẻ, truyền miệng điện tử (eWOM) được hiểu là tập hợp các đánh giá, chấm điểm, hình ảnh và thảo luận trực tuyến do người dùng tạo ra, được lưu trữ và lan truyền rộng rãi trên Internet (Hennig-Thurau và cộng sự, 2004; Litvin và cộng sự, 2008). Khác với truyền miệng truyền thống, eWOM có tính công khai, đa chiều và đóng vai trò như cơ chế tư vấn xã hội giúp người dùng định hình kỳ vọng dịch vụ trong điều kiện thiếu kiểm chứng trực tiếp.

nh cách

Theo Andreassen và cộng sự (2018), tính cách trong nền kinh tế chia sẻ được định nghĩa là tổ chức tâm lý bên trong của người tiêu dùng quyết định sự cởi mở của họ đối với tương tác xã hội và chấp nhận quyền sở hữu chung đối với sở hữu tư nhân.

Lợi ích cảm nhận

Lợi ích cảm nhận được hiểu là tổng hòa các giá trị về mặt tài chính, sự tiện lợi và các giá trị xã hội mà người dùng kỳ vọng đạt được (Möhlmann, 2015). Về mặt kinh tế, việc tham gia chia sẻ được xem là một "hành vi tối đa hóa lợi ích", song hành với nó, tính bền vững và kết nối cộng đồng đóng vai trò là giá trị cộng thêm quan trọng.

Chuẩn chủ quan

Chuẩn mực chủ quan là nhận thức của cá nhân về áp lực xã hội liên quan đến việc có nên thực hiện hay không thực hiện một hành vi nhất định. Trong một môi trường dựa trên sự tương tác giữa những người lạ, ý kiến tích cực từ cộng đồng không chỉ làm giảm bớt sự bất đối xứng thông tin mà còn tạo ra một áp lực tâm lý tích cực.

GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Giả thuyết nghiên cứu

H1: Niềm tin của người dùng có tác động cùng chiều đến Ý sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ trong nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam.

H2: Chất lượng nền tảng có tác động cùng chiều đến Niềm tin sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ trong nền kinh tế chia sẻ.

H3: Uy tín người chia sẻ có tác động cùng chiều đến Niềm tin sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ trong nền kinh tế chia sẻ.

H4: Chất lượng sản phẩm có tác động cùng chiều đến Niềm tin sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ trong nền kinh tế chia sẻ.

H5: Truyền miệng điện tử (eWOM) có tác động cùng chiều đến Niềm tin sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ trong nền kinh tế chia sẻ.

H6: Tính cách có tác động cùng chiều đến Ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ trong nền kinh tế chia sẻ.

H7: Lợi ích cảm nhận có tác động cùng chiều Ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ trong nền kinh tế chia sẻ.

H8: Chuẩn chủ quan có tác động cùng chiều Ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ trong nền kinh tế chia sẻ.

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia nền kinh tế chia sẻ: Góc nhìn từ người nhận chia sẻ tại Việt Nam

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính được thực hiện qua việc chọn lọc tài liệu và nghiên cứu các mô hình lý thuyết của các nghiên cứu trước đây, phiếu câu hỏi được tạo lập. Sau đó, nhóm khảo sát chính thức và thu về 249 phiếu hợp lệ. Dữ liệu được phân tích định lượng SPSS để phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố và ý định sử dụng dịch vụ của người nhận chia sẻ trong nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam.

Nghiên cứu này sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

Bảng 1: Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo Cronbach's Alpha

Thang đo

Tương quan biến tổng

Hệ số Cronbach’s Alpha nếu xóa biến

Ý định sử dụng dịch vụ kinh tế chia sẻ (YD) = 0.739

YD1

0.529

0.694

YD2

0.529

0.692

YD3

0.635

0.567

Niềm tin của người dùng (ND) = 0.807

ND1

0.660

0.727

ND2

0.655

0.734

ND3

0.646

0.744

Chất lượng nền tảng (NT) = 0.944

NT1

0.878

0.923

NT2

0.867

0.927

NT3

0.857

0.930

NT4

0.864

0.928

Uy tín của người chia sẻ (UT) = 0.929

UT1

0.847

0.903

UT2

0.854

0.897

UT3

0.862

0.891

Chất lượng sản phẩm (SP) = 0.911

SP1

0.836

0.860

SP2

0.809

0.882

SP3

0.819

0.874

Truyền miệng điện tử (TM) = 0.911

TM1

0.811

0.881

TM2

0.841

0.856

TM3

0.812

0.880

Tính cách (TC) = 0.732

TC1

0.554

0.647

TC2

0.573

0.624

TC3

0.539

0.665

Chuẩn chủ quan (CQ) = 0.878

CQ1

0.735

0.843

CQ2

0.795

0.820

CQ3

0.751

0.838

CQ4

0.667

0.871

Lợi ích cảm nhận (CN) = 0.869

CN1

0.746

0.818

CN2

0.772

0.794

CN3

0.729

0.833

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Bảng 1 cho thấy, các biến độc lập trong nghiên cứu có giá trị Cronbach’s Alpha dao động từ 0.732 đến 0.944, và hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát đều lớn hơn 0.3, cho thấy các thang đo lường đủ điều kiện và có thể sử dụng để tiếp tục phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM.

Kiểm định mô hình đo lường kết quả (Measurement model)

Đối chiếu với dữ liệu thực tế, kết quả phân tích cho thấy toàn bộ các biến quan sát trong mô hình đều sở hữu hệ số tải ngoài ở mức cao (trên 0.7). Kết quả này khẳng định các biến quan sát có độ tin cậy tốt. Điều này cũng tạo tiền đề vững chắc cho việc xác nhận giá trị hội tụ của thang đo, khi tổng phương sai mà khái niệm thu nhận được từ các biến quan sát là đáng kể và có ý nghĩa.

Bảng 2: Giá trị tổng phương sai rút trích (AVE)

Thang đo

thành phần

Average variance extracted (AVE)

CN

0.792

CQ

0.733

ND

0.721

NT

0.857

SP

0.849

TC

0.651

TM

0.849

UT

0.875

YD

0.658

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Dựa trên kết quả phân tích thực tế, chỉ số AVE thể hiện tại Bảng 2 cho thấy, tất cả các nhân tố trong mô hình đều nằm trong khoảng từ 0.651 đến 0.875. Các giá trị này đều vượt xa ngưỡng tối thiểu 0.5 theo khuyến nghị của Fornell và Larcker (1981). Khi kết hợp sự thỏa mãn của cả hệ số tải ngoài (Outer loadings) và chỉ số AVE, nhóm tác giả có đủ căn cứ khoa học để kết luận rằng, toàn bộ các thang đo trong nghiên cứu này đều đạt giá trị hội tụ ổn định.

Bảng 3: Chỉ số HTMT

CN

CQ

ND

NT

SP

TC

TM

UT

YD

CN

CQ

0.659

ND

0.564

0.556

NT

0.593

0.655

0.774

SP

0.331

0.412

0.785

0.571

TC

0.599

0.730

0.634

0.671

0.465

TM

0.326

0.438

0.696

0.495

0.590

0.411

UT

0.459

0.626

0.835

0.786

0.616

0.639

0.546

YD

0.779

0.811

0.712

0.794

0.543

0.866

0.496

0.714

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Dựa trên kết quả phân tích thực tế, tất cả các chỉ số HTMT trong mô hình đều đạt giá trị dưới 0.85. Do các giá trị đo lường đều nằm trong phạm vi an toàn và đạt chuẩn, nhóm tác giả không cần tiến hành thêm các bước kiểm tra Bootstrapping. Kết quả này là minh chứng vững chắc cho việc các biến tiềm ẩn trong mô hình đảm bảo được giá trị phân biệt và phản ánh các hiện tượng nghiên cứu riêng biệt, không trùng lặp (Bảng 3).

Kiểm định mô hình cấu (Structural model)

Bảng 4: Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Original sample (O)

Sample mean (M)

Standard deviation (STDEV)

T statistics (|O/STDEV|)

P-values

CN -> YD

0.261

0.256

0.062

4.178

0.000

CQ -> YD

0.263

0.261

0.070

3.782

0.000

ND -> YD

0.168

0.169

0.070

2.415

0.016

NT -> ND

0.207

0.206

0.054

3.818

0.000

SP -> ND

0.284

0.283

0.057

4.947

0.000

TC -> YD

0.277

0.283

0.074

3.751

0.000

TM -> ND

0.198

0.199

0.047

4.204

0.000

UT -> ND

0.310

0.310

0.052

5.991

0.000

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc bằng kỹ thuật Bootstrapping cho thấy 8/8 giả thuyết đều được chấp nhận ở mức ý nghĩa 5% (t > 1.96), với các hệ số ước lượng mang dấu dương, khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa các biến trong mô hình. Bốn nhân tố tác động trực tiếp đến Ý định sử dụng dịch vụ gồm: Niềm tin (β = 0.168), Lợi ích cảm nhận (β = 0.261), Chuẩn chủ quan (β = 0.263) và Tính cách (β = 0.277). Trong đó, Tính cách và Chuẩn chủ quan thể hiện mức độ ảnh hưởng mạnh hơn, cho thấy vai trò đáng kể của đặc điểm cá nhân và yếu tố xã hội trong việc hình thành ý định hành vi.

Bên cạnh đó, Niềm tin được xác nhận là biến trung tâm của mô hình khi chịu tác động tích cực từ Chất lượng nền tảng (β = 0.207), Uy tín người chia sẻ (β = 0.310), Chất lượng sản phẩm (β = 0.284) và Truyền miệng điện tử (β = 0.198). Đáng chú ý, Uy tín người chia sẻ là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến Niềm tin (Bảng 4).

Kết quả phân tích cho thấy mô hình có năng lực giải thích tốt. Cụ thể, biến Niềm tin đạt R² hiệu chỉnh = 0.669, cho thấy 66.9% sự biến thiên biến này được lý giải bởi các nhân tố trong mô hình. Đối với Ý định sử dụng, R² hiệu chỉnh đạt 0.598, nghĩa là mô hình giải thích được 59.8% sự thay đổi của biến phụ thuộc.

Kết quả ước lượng cho thấy các giá trị f² dao động từ 0.048 đến 0.143 và đều vượt ngưỡng ý nghĩa thực tiễn (f² > 0.02), phản ánh các nhân tố trong mô hình đều có đóng góp nhất định vào khả năng giải thích. Điều này khẳng định ý định sử dụng dịch vụ trong nền kinh tế chia sẻ được hình thành từ sự tương tác đa chiều của nhiều yếu tố, phù hợp với đặc trưng phức hợp của hành vi người tiêu dùng trong môi trường nền tảng số.

Đối với Ý định sử dụng, Tính cách (f² = 0.113) và Lợi ích cảm nhận (f² = 0.104) thể hiện vai trò nổi bật hơn so với Chuẩn chủ quan (0.093) và Niềm tin (0.048). Trong khi đó, đối với Niềm tin, Chất lượng sản phẩm (f² = 0.143) và Uy tín người chia sẻ (0.119) là 2 nhân tố có mức đóng góp cao nhất, vượt trội so với các yếu tố còn lại.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy trong nhóm các yếu tố tác động đến Niềm tin, Uy tín người chia sẻ có ảnh hưởng mạnh nhất (β = 0.31), tiếp theo là chất lượng sản phẩm (β = 0.284), Chất lượng nền tảng (β = 0.207) và Truyền miệng điện tử (β = 0.198), tất cả đều tác động cùng chiều và phù hợp với các nghiên cứu trước đây. Đối với Ý định sử dụng dịch vụ, Tính cách là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất (β = 0.277), tiếp đến là Chuẩn chủ quan (β = 0.263), Lợi ích cảm nhận (β = 0.261) và Niềm tin (β = 0.168). Nhìn chung, kết quả khẳng định vai trò trung tâm của Niềm tin trong mô hình, đồng thời cho thấy các yếu tố cá nhân và xã hội có mức độ chi phối đáng kể đến Ý định sử dụng dịch vụ trong bối cảnh kinh tế chia sẻ.

Khuyến nghị giải pháp

Đối với Nhà nước

Nhà nước cần sớm xây dựng và ban hành khung pháp lý chuyên biệt điều chỉnh hoạt động của các nền tảng kinh tế chia sẻ, trong đó quy định rõ ràng trách nhiệm pháp lý của các bên tham gia, ngoài ra, ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy chuẩn chất lượng bắt buộc áp dụng đối với các nền tảng kinh tế chia sẻ.

Đối với doanh nghiệp nền tảng

Doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng hệ thống, bảo mật thông tin và xây dựng cơ chế quản lý uy tín minh bạch, khai thác hiệu quả phản hồi người dùng và cá nhân hóa dịch vụ để củng cố niềm tin và mở rộng thị trường.

Đối với người cung cấp dịch vụ (bên chia sẻ)

Người cung cấp dịch vụ chia sẻ nên xây dựng hồ sơ minh bạch, duy trì chất lượng dịch vụ và tích lũy uy tín lâu dài, chủ động tiếp nhận phản hồi và cải thiện trải nghiệm để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Đối với người nhận chia sẻ (người tiêu dùng)

Người tiêu dùng nên chủ động tìm hiểu thông tin, đánh giá kỹ trước khi sử dụng dịch vụ và để lại phản hồi trung thực sau giao dịch, lan tỏa trải nghiệm tích cực nhằm góp phần xây dựng cộng đồng tiêu dùng chia sẻ có trách nhiệm.

Tài liệu tham khảo:

1. Andreassen, T. W., Lervik-Olsen, L., Snyder, H., Van Riel, A. C. R., Sweeney, J. C., & Van Vaerenbergh, Y. (2018). Business model innovation and value-creation: The triadic way. Journal of Service Management, 29(5), 883-906.

2. DeLone, W. H., & McLean, E. R. (2003). The DeLone and McLean model of information systems success: A ten-year update. Journal of Management Information Systems, 19(4), 9-30.

3. Ert, E., Fleischer, A., & Magen, N. (2016). Trust and reputation in the sharing economy: The role of personal photos in Airbnb. Tourism Management, 55, 62-73.

4. Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981).

Evaluating structural equation models with unobservable variables and measurement error. Journal of Marketing Research, 18(1), 39-50. https://doi.org/10.2307/3151312

5. Ghasemaghaei, M., & Hassanein, K. (2019).

Dynamic model of online information quality perceptions and impacts: A literature review. Behaviour & Information Technology, 38(3), 302-317. https://doi.org/10.1080/0144929X.2018.1531928

6. Hennig-Thurau, T., Gwinner, K. P., Walsh, G., & Gremler, D. D. (2004). Electronic word-of-mouth via consumer-opinion platforms. Journal of Interactive Marketing, 18(1), 38-52.

7. Litvin, S. W., Goldsmith, R. E., & Pan, B. (2008). Electronic word-of-mouth in hospitality and tourism management. Tourism Management, 29(3), 458-468.

8. McAllister, D. J. (1995). Affect- and cognition-based trust as foundations for interpersonal cooperation in organizations. Academy of Management Journal, 38(1), 24-59.

9. McLean, G., Al-Nabhani, K., & Wilson, A. (2016). Developing a mobile applications customer experience model. Journal of Business Research, 69(11), 5355-5362.

10. Möhlmann, M. (2015). Collaborative consumption: Determinants of satisfaction and the likelihood of using a sharing economy option again. Journal of Consumer Behaviour, 14(3), 193-207.

Ngày nhận bài: 25/2/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/4/2026; Ngày duyệt đăng: 14/4/2026

Các tin khác

Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Trên các sàn thương mại điện tử, khu vực đánh giá - nơi tập hợp điểm sao, lời bình luận, ảnh chụp thực tế và video phản hồi - là phần nội dung thường được tham khảo sau cùng trước khi khách hàng xác nhận đặt hàng.
Năng lực hạ tầng logistics nông nghiệp tại TP. Huế: Thực trạng và cơ hội trong bối cảnh mới

Năng lực hạ tầng logistics nông nghiệp tại TP. Huế: Thực trạng và cơ hội trong bối cảnh mới

Hạ tầng logistics nông nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng, giảm chi phí, hạn chế tổn thất và tăng khả năng kết nối thị trường.
Chuyển đổi số và việc làm phi chính thức ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024

Chuyển đổi số và việc làm phi chính thức ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024

Chuyển đổi số đang tái định hình việc làm phi chính thức, tạo cơ hội tiếp cận việc làm mới nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức.
Vai trò của IMF và World Bank đối với các quốc gia đang phát triển: Bài học từ quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Vai trò của IMF và World Bank đối với các quốc gia đang phát triển: Bài học từ quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Việc tìm hiểu về hoạt động của 2 định chế tài chính quốc tế là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) thông qua các trường hợp cụ thể có thể góp phần làm rõ thêm bối cảnh triển khai, các chi phí liên quan cũng như một số bài học kinh nghiệm tham khảo.
​​​​​​​Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024

​​​​​​​Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024

Việc có một cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ rõ ràng, nghiêm ngặt kết hợp cùng hạ tầng truyền thống số phát triển được kỳ vọng sẽ tạo ra điểm sáng cho đổi mới sáng tạo và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia ASEAN+3 (gồm 10 nước thuộc ASEAN cùng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc).
Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức

Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức

Hiệu quả chuyển đổi số tại các DNNVV không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn gắn chặt với năng lực lãnh đạo, cấu trúc tổ chức và khả năng phối hợp nguồn lực. Nghiên cứu làm rõ vai trò của quản trị đồng tâm và khả năng học tập tổ chức trong việc nâng cao hiệu quả chuyển đổi số của doanh nghiệp.
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Với tiềm năng phát triển, dân số đông và vị trí địa lý thuận lợi, TP. Hồ Chí Minh là nơi tập trung số lượng doanh nghiệp logistics lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 70% trong tổng số khoảng 4.000 doanh nghiệp logistics tại Việt Nam và đóng vai trò là cửa ngõ giao thương chính của khu vực phía Nam.
Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Trong những năm gần đây, công bố thông tin về quản trị doanh nghiệp trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng của hệ thống thông tin mà nhà đầu tư sử dụng để đánh giá chất lượng doanh nghiệp.
Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh

Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh

Những yêu cầu ngày càng khắt khe từ xã hội đòi hỏi công tác quản trị nguồn nhân lực không thể dừng lại ở hoạt động tuyển dụng và đào tạo, mà cần được tiếp cận theo hướng chiến lược, trong đó tạo động lực làm việc giữ vai trò trung tâm.
Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Là địa phương có vị trí chiến lược ở vùng Đông Bắc, Quảng Ninh hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển với hệ thống biển, đảo, cảng biển, cửa khẩu quốc tế, khu kinh tế ven biển và Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.