Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam: Tiếp cận từ mô hình nghiên cứu tích hợp

Nghiên cứu - Trao đổi 08:48 | 20/08/2026
Nghiên cứu đề xuất mô hình tích hợp giữa TPB, TAM và NAM, đồng thời bổ sung thêm một số nhân tố (Tính năng sản phẩm, Hệ thống trạm sạc và Chính sách khuyến khích) nhằm tăng khả năng tương thích với đối tượng nghiên cứu là ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

TS. Nguyễn Quốc Nghi (Tác giả liên hệ)

Email: [email protected]

ThS. Lê Kim Thanh

Trường Kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ

Tóm tắt

Trước áp lực ô nhiễm môi trường từ phương tiện giao thông truyền thống, nghiên cứu này thiết lập mô hình tích hợp đa lý thuyết (Lý thuyết hành vi có kế hoạch - TPB; Mô hình chấp nhận công nghệ - TAM và Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn - NAM) kết hợp với các biến bối cảnh (Tính năng sản phẩm, Hệ thống trạm sạc, Chính sách khuyến khích) để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng xe máy điện của giới trẻ Việt Nam. Thông qua 12 giả thuyết, nghiên cứu này không chỉ hoàn thiện khung lý thuyết về hành vi tiêu dùng xanh mà còn làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo và cung cấp gợi ý chính sách, chiến lược tiếp thị cho các doanh nghiệp sản xuất xe máy điện tại Việt Nam.

Từ khóa: Ý định hành vi, xe máy điện, giới trẻ, Việt Nam

Abstract

In response to growing environmental pollution caused by conventional transportation, this study develops an integrated multi-theoretical framework combining the Theory of Planned Behavior (TPB), Technology Acceptance Model (TAM), and Norm Activation Model (NAM), together with contextual factors including product features, charging infrastructure, and incentive policies, to examine the factors influencing young Vietnamese consumers’ intention to adopt electric motorcycles. Based on 12 research hypotheses, the study contributes to the theoretical understanding of green consumer behavior and provides a foundation for subsequent empirical research. It also offers practical implications for policymakers and marketing strategies for electric motorcycle manufacturers in Viet Nam.

Keywords: Behavioral intention, electric motorcycles, young consumers, Viet Nam

GIỚI THIỆU

Sự phát triển của các phương tiện giao thông truyền thống là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra ô nhiễm không khí và tăng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam. Hiện tại, người Việt Nam vẫn đang sử dụng phổ biến các loại phương tiện cá nhân sử dụng nhiên liệu hóa thạch có hại cho môi trường. Trong đó, xe máy là loại phương tiện phổ biến nhất với khoảng 43 triệu phương tiện, tiếp đó là ô tô với khoảng 3,2 triệu phương tiện (Trinh và Pham, 2019).

Thế hệ trẻ chiếm khoảng 23% tổng dân số ở Việt Nam, là nhóm dân số có khả năng tư duy nhạy bén, nắm bắt nhanh những tiến bộ và vấn đề toàn cầu (Nguyễn Đức Bảo và cộng sự, 2023). Giới trẻ Việt Nam luôn nhận thức và đóng góp tích cực vào các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính, ngăn chặn những tác động xấu của biến đổi khí hậu (Hien và cộng sự, 2023). Do đó, nghiên cứu ý định mua xe máy điện của giới trẻ không chỉ mang ý nghĩa học thuật mà còn là một nhu cầu cấp bách từ thực tiễn, có tác động sâu rộng đến cả kinh tế, xã hội và môi trường.

Phần lớn các nghiên cứu về ý định mua xe máy điện sử dụng Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB). Trong đó, thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi là 3 nhân tố thường được nghiên cứu. Tuy nhiên, để giải thích tốt hơn về ý định hành vi mua xe máy điện, một số nghiên cứu đã tích hợp các lý thuyết hành vi như TPB, Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM). Mặc dù vậy, tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu, nhà nghiên cứu nên linh hoạt điều chỉnh mô hình phù hợp nhất để tăng cường khả năng giải thích ý định hành vi mua xe máy điện của người tiêu dùng. Vì vậy, nghiên cứu này đề xuất mô hình tích hợp giữa TPB, TAM và NAM, đồng thời bổ sung thêm một số nhân tố (Tính năng sản phẩm, Hệ thống trạm sạc và Chính sách khuyến khích) nhằm tăng khả năng tương thích với đối tượng nghiên cứu là ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Để giải thích sự chấp nhận công nghệ của người tiêu dùng, các nhà nghiên cứu đã vận dụng nhiều lý thuyết hành vi khác nhau, bao gồm:

Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)

TPB được Ajzen (1991) phát triển từ Lý thuyết hành động hợp lý (TRA), cho rằng ý định hành vi chịu tác động bởi 3 yếu tố gồm: Thái độ, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi.

Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM)

TAM dựa trên nền tảng của lý thuyết TRA cho việc thiết lập các mối quan hệ giữa các biến để giải thích hành vi của con người về việc chấp nhận sử dụng hệ thống thông tin (Davis, 1989). Các nhân tố trong mô hình TAM, gồm: nhận thức hữu ích, nhận thức dễ sử dụng và thái độ đối với việc sử dụng, đại diện cho các thuộc tính hoặc đặc điểm của hệ thống.

Mô hình kích hoạt tiêu chuẩn (NAM)

NAM do Schwartz (1977) đề xuất cho rằng nhận thức về hậu quả, quy trách nhiệm và chuẩn mực đạo đức cá nhân là những thành phần cấu thành của kích hoạt tiêu chuẩn. Theo NAM, hành vi của cá nhân bao gồm các hoạt động tiêu dùng gây ra nhiều tác hại đến môi trường và họ có thể thực hành các hành vi vì xã hội/vì môi trường để giảm thiểu tác hại (Rosenthal và Ho, 2020).

PHÁT TRIỂN GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Nhận thức dễ sử dụng

Nhận thức dễ sử dụng là mức độ dễ dàng liên quan đến việc sử dụng một hệ thống cụ thể (Venkatesh và cộng sự, 2003). Theo lý thuyết TAM, nhận thức dễ sử dụng có mối quan hệ tích cực đến thái độ và ý định sử dụng công nghệ (Davis, 1989). Trong lĩnh vực nghiên cứu về ý định mua xe điện, một số nghiên cứu đã chứng minh rằng, nhận thức dễ sử dụng là nhân tố ảnh hưởng tích cực đến thái độ (Handarujati, 2024) và ý định mua xe điện (Hussain và Qureshi, 2024). Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết sau:

H1: Nhận thức dễ sử dụng ảnh hưởng tích cực đến Thái độ đối với xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

H2: Nhận thức dễ sử dụng ảnh hưởng tích cực đến Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

Nhận thức hữu ích

Nhận thức hữu ích là mức độ mà người sử dụng tin rằng việc chấp nhận công nghệ sẽ giúp họ đạt được hiệu quả công việc cao hơn (Venkatesh và cộng sự, 2003). Khi người dùng nhận thấy các công nghệ là hữu ích, họ sẽ có thái độ tích cực và xu hướng sử dụng công nghệ nhiều hơn (Wang và cộng sự, 2018). Trong lĩnh vực nghiên cứu ý định mua xe điện, nhận thức hữu ích được chứng minh là ảnh hưởng tích cực đến thái độ (Handarujati, 2024) và ý định mua xe điện của người tiêu dùng (Hussain và Qureshi, 2024; Yudistira và Aruan, 2025). Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết sau:

H3: Nhận thức hữu ích ảnh hưởng tích cực đến Thái độ đối với xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

H4: Nhận thức hữu ích ảnh hưởng tích cực đến Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

Thái độ

Theo TPB, thái độ đối với một hành vi là yếu tố chính quyết định ý định thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Theo Verplanken và Orbell (2003), thái độ là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định hành vi của một người. Thái độ đối với hành vi của một cá nhân càng tích cực thì ý định thực hiện hành vi của cá nhân đó càng mạnh (Hien và cộng sự, 2023). Nhiều nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng tích cực của thái độ đối với ý mua xe điện của người tiêu dùng (Ji và cộng sự, 2024; Yudistira và Aruan, 2025). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:

H5: Thái độ tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

Chuẩn chủ quan

Chuẩn chủ quan là nhận thức áp lực xã hội từ người khác để thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi cụ thể (Ajzen, 1991). Theo Chen và Chao (2011), ý định sử dụng xe điện trong tương lai của người dân chịu ảnh hưởng bởi người quan trọng và ý kiến từ cộng đồng mạng xã hội. Chuẩn chủ quan được xác định là nhân tố ảnh hưởng tích cực đến ý định mua xe điện của người tiêu dùng (Ji và cộng sự, 2024; Yudistira và Aruan, 2025). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:

H6: Chuẩn chủ quan tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

Nhận thức kiểm soát hành vi

Theo Ajzen (1991), nhận thức kiểm soát hành vi thể hiện nhận thức về việc dễ thực hiện hoặc khó thực hiện một hành vi nhất định. Theo Bosnjak và cộng sự (2020), nhận thức kiểm soát hành vi càng lớn thì ý định thực hiện hành vi đó càng mạnh. Trong lĩnh vực nghiên cứu sự chấp nhận công nghệ xanh, một số nhà khoa học đã chứng minh được sự ảnh hưởng tích cực của nhận thức kiểm soát hành vi đến ý mua xe điện của người tiêu dùng (Handarujati, 2024; Ji và cộng sự, 2024). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:

H7: Nhận thức kiểm soát hành vi tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

Chuẩn mực cá nhân

Chuẩn mực cá nhân được xác định là một trong những yếu tố dự báo trực tiếp về hành vi của cá nhân đó (Klöckner và Matthies, 2004). Chuẩn mực cá nhân cao sẽ thúc đẩy cá nhân thực hiện hành vi thân thiện với xã hội (Fornara và cộng sự, 2016). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh chuẩn mực cá nhân là nhân tố ảnh hưởng tích cực đến ý định mua xe điện của người tiêu dùng (Huang và Vongurai, 2024; Ji và cộng sự, 2024). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:

H8: Chuẩn mực cá nhân tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

Nhận thức về môi trường

Nhận thức về môi trường liên quan đến các nhận thức về ô nhiễm môi trường, kiến thức về môi trường và tiết kiệm năng lượng theo hành vi tiêu dùng (Yi-Chang và Gwo-Hshiung, 1999). Những khách hàng nhạy cảm với môi trường và tự nhận mình là người thân thiện với môi trường sẽ có nhiều khả năng sử dụng xe điện hơn (Barbarossa và cộng sự, 2017). Các nghiên cứu đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa nhận thức về môi trường và ý định mua xe điện (Khazaei và Tareq, 2021; Lee và cộng sự, 2021). Từ đó, nghiên cứu đặt ra giả thuyết sau:

H9: Nhận thức về môi trường tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

Tính năng sản phẩm

Tính năng sản phẩm tiết kiệm năng lượng góp phần thúc đẩy ý định hành vi thân thiện với môi trường (Hien và cộng sự, 2023). Các yếu tố kỹ thuật của xe điện như: tuổi thọ của pin, mức độ an toàn, độ tin cậy, quãng đường cho mỗi lần sạc và chi phí mua pin sạc là những yếu tố có tác động lớn đến việc sở hữu xe điện (Thananusak và cộng sự, 2017). Trong lĩnh vực nghiên cứu ý định mua xe điện của người tiêu dùng, các nhà nghiên cứu đã biện luận và chứng minh được sự ảnh hưởng tích cực của tính năng sản phẩm đến ý định mua xe điện (Wang và cộng sự, 2013). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:

H10: Tính năng sản phẩm tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

Hạ tầng trạm sạc

Theo Venkatesh và cộng sự (2003), các điều kiện thuận lợi sẽ thúc đẩy ý định chấp nhận công nghệ mới của người tiêu dùng. Nhược điểm lớn nhất của ô tô điện đó là quãng đường di chuyển, điều này đòi hỏi phải có số lượng trạm sạc được phân bố rộng rãi (Sang và Bekhet, 2015). Theo Khazaei (2019), sự sẵn có của các trạm sạc, cơ sở sửa chữa và dịch vụ bảo hành là điều kiện thuận lợi hỗ trợ cho sự phát triển xe điện. Nhiều nghiên cứu cho sự ảnh hưởng của hệ thống trạm sạc đến ý định mua xe điện của người tiêu dùng (Lee và cộng sự, 2021; Sriram và cộng sự, 2022). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:

H11: Hạ tầng trạm sạc tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

Chính sách khuyến khích

Các chính sách khuyến khích có tác động tích cực đến ý định mua xe điện của người tiêu dùng bao gồm: trợ cấp mua hàng, giảm phí đỗ xe, thuế ưu đãi và đặc quyền lái xe (Sang và Bekhet, 2015). Ý định mua xe điện cũng bị ảnh hưởng từ chính sách tạo điều kiện cho mọi người vay miễn phí hoặc được trợ cấp, cung cấp các khoản vay ngân hàng với lãi suất giảm, bảo hiểm miễn phí, đỗ xe miễn phí (Bhalla và cộng sự, 2018). Chính sách khuyến khích là nhân tố quan trọng, ảnh hưởng tích cực đến ý định mua xe điện của người tiêu dùng (Handarujati, 2024). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:

H12: Chính sách khuyến khích tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam.

Dựa vào tổng quan tài liệu và các giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra, mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam được thiết lập như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Ý định mua xe máy điện của giới trẻ Việt Nam: Tiếp cận từ mô hình nghiên cứu tích hợp

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất (2026)

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

Nghiên cứu đã đề xuất một khung lý thuyết tích hợp đa chiều, kết hợp giữa TPB, TAM và NAM. Bên cạnh các yếu tố tâm lý và nhận thức nền tảng, mô hình mở rộng còn bổ sung các nhân tố đặc thù mang tính thực tiễn cao bao gồm: Tính năng sản phẩm, Hệ thống hạ tầng trạm sạc và Chính sách khuyến khích. Việc xây dựng khung lý thuyết này cung cấp một cơ sở khoa học hệ thống, giúp các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp có cái nhìn sâu sắc hơn về động lực hành vi của đối tượng người tiêu dùng trẻ đối với dòng xe máy điện tại Việt Nam.

Mặc dù đóng góp về mặt hệ thống hóa lý thuyết, SONG nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định. Nghiên cứu hiện tại chỉ dừng lại ở bước đề xuất mô hình lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu, chưa tiến hành thu thập dữ liệu và kiểm định thực nghiệm. Các nghiên cứu tiếp theo cần triển khai khảo sát định lượng trên mẫu nghiên cứu đại diện cho giới trẻ Việt Nam để kiểm định tính phù hợp của mô hình. Về yếu tố tác động: Nghiên cứu mới dừng lại ở việc đánh giá Ý định mua. Các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng để đo lường hành vi mua thực tế, đồng thời bổ sung các biến điều tiết như: Thu nhập, Thương hiệu xe hoặc Rào cản chi phí ban đầu để gia tăng sức giải thích cho mô hình.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50(2), 179-211.

2. Barbarossa, C., De Pelsmacker, P., & Moons, I. (2017). Personal values, green self-identity and electric car adoption. Ecological Economics, 140, 190-200.

3. Bhalla, P., Ali, I. S., & Nazneen, A. (2018). A study of consumer perception and purchase intention of electric vehicles. European Journal of Scientific Research, 149(4), 362-368.

4. Bosnjak, M., Ajzen, I., & Schmidt, P. (2020). The theory of planned behavior: selected recent advances and applications. Europe’s Journal of Psychology, 16(3), 352-356.

5. Chen, C. F., & Chao, W. H. (2011). Habitual or reasoned? Using the theory of planned behavior, technology acceptance model, and habit to examine switching intentions toward public transit. Transportation research part F: traffic psychology and behaviour, 14(2), 128-137.

6. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS quarterly, 319-340.

7. Fornara, F., Pattitoni, P., Mura, M., & Strazzera, E. (2016). Predicting intention to improve household energy efficiency: The role of value-belief-norm theory, normative and informational influence, and specific attitude. Journal of environmental psychology, 45, 1-10.

8. Handarujati, E. (2024). Analysis of factors driving purchase intention of electric cars: perspective of theory of planned behavior, norm activation model, and technology acceptance model. Journal of Economics and Business UBS, 13(1), 108-129.

9. Hien, L. T. D., Huyen, K. N., & Hoang, T. H. L. (2023). Factors affecting energy-saving intentions among youth in Vietnam. International Journal of Energy Economics and Policy, 13(6), 603-609.

10. Huang, B. S., & Vongurai, R. (2024). Factors influencing the purchase intention of electric vehicle of the visitors to the motor exhibitions in Bangkok Thailand. Journal of Suvarnabhumi Institute of Technology (Humanities and Social Sciences), 10(1), 257-267.

11. Hussain, S., & Qureshi, I. M. (2024). Electric vehicle adoption: the nexus of knowledge, perceived usefulness, and ease of use. Qlantic Journal of Social Sciences and Humanities, 5(2), 154-161.

12. Ji, Z., Jiang, H., & Zhu, J. (2024). Factors impacting consumers’ purchase intention of electric vehicles in China: Based on the integration of Theory of Planned Behaviour and Norm Activation Model. Sustainability, 16(20), 9092.

13. Khazaei, H. (2019). The influence of personal innovativeness and price value on intention to use of electric vehicles in Malaysia. European Online Journal of Natural and Social Sciences, 8(3), 483.

14. Khazaei, H., & Tareq, M. A. (2021). Moderating effects of personal innovativeness and driving experience on factors influencing adoption of BEVs in Malaysia: An integrated SEM–BSEM approach. Heliyon, 7(9), e08072.

15. Klöckner, C. A., & Matthies, E. (2004). How habits interfere with norm-directed behaviour: A normative decision making model for travel mode choice. Journal of Environmental Psychology, 24(3), 319-327. https://doi.org/10.1016/j.jenvp.2004.08.004

16. Lee, J., Baig, F., Talpur, M. A. H., & Shaikh, S. (2021). Public intentions to purchase electric vehicles in Pakistan. Sustainability, 13(10), 5523.

17. Nguyễn Đức Bảo, Nguyễn Hà Phương, Nguyễn Thanh Mai, Bùi Giang Sơn, Nguyễn Anh Tuấn, Tô Thế Nguyên, Nguyễn Thị Lan Hương (2023). Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiết kiệm và sử dụng năng lượng sạch của giới trẻ Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 307, 85-94.

18. Rosenthal, S., & Ho, K. L. (2020). Minding other people's business: Community attachment and anticipated negative emotion in an extended norm activation model. Journal of Environmental Psychology, 69, 101439.

19. Sang, Y. N., & Bekhet, H. A. (2015). Modelling electric vehicle usage intentions: an empirical study in Malaysia. Journal of Cleaner Production, 92, 75-83.

20. Schwartz, S. H. (1977). Normative Influence on Altruism. In L. Berkowitz (Ed.), Advances in Experimental Social Psychology, 10, 221-279. New York: Academic Press. http://dx.doi.org/10.1016/s0065-2601(08)60358-5

21. Sriram, K. V., Michael, L. K., Hungund, S. S., & Fernandes, M. (2022). Factors influencing adoption of electric vehicles–A case in India. Cogent Engineering, 9(1), 2085375.

22. Thananusak, T., Rakthin, S., Tavewatanaphan, T., & Punnakitikashem, P. (2017). Factors affecting the intention to buy electric vehicles: Empirical evidence from Thailand. International Journal of Electric and Hybrid Vehicles, 9(4), 361-381.

23. Trinh, T. T., & Pham, T. T. H. (2019). Attitude to and usage intention of high school students toward electric two-wheeled vehicles in Hanoi City. VNU Journal of Economics and Business, 35(2), 47-62.

24. Venkatesh, V., Morris, M. G., Davis, G. B., & Davis, F. D. (2003). User acceptance of information technology: Toward a unified view. MIS quarterly, 425-478.

25. Verplanken, B., & Orbell, S. (2003). Reflections on past behavior: A self-report index of habit strength. Journal of Applied Social Psychology, 33(6), 1313-1330. https://doi.org/10.1111/j.1559-1816.2003.tb01951.x

26. Wang, S., Wang, J., Li, J., Wang, J., & Liang, L. (2018). Policy implications for promoting the adoption of electric vehicles: do consumer’s knowledge, perceived risk and financial incentive policy matter?. Transportation Research Part A: Policy and Practice, 117, 58-69.

27. Wang, Z., Wang, C., & Hao, Y. (2013). Influencing factors of private purchasing intentions of new energy vehicles in China. Journal of renewable and sustainable energy, 5(6), 063133. https://doi.org/10.1063/1.4850516

28. Yi-Chang, C., & Gwo-Hshiung, T. (1999). The market for electric scooters is accepted in Taiwan experience through the stated priority analysis. Transport Studies, Pergamon, Part D, 4, 127-146.

29.Yudistira, S. A., & Aruan, D. T. H. (2025). Exploring Electric Vehicle Purchase Intention in Jakarta: What Attracts Consumers?. Indonesian Interdisciplinary Journal of Sharia Economics (IIJSE), 8(3), 9238-9254.

Ngày nhận bài: 17/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/8/2026; Ngày duyệt đăng: 17/8/2026

Các tin khác

Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam

Nghị quyết 57/NQ-TW của Bộ Chính trị đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển; tạo cơ sở chính sách cho việc nghiên cứu các yếu tố công nghệ gắn với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Tinh hoa tư tưởng Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đối với công tác tổ chức cán bộ trong kỷ nguyên mới

Tinh hoa tư tưởng Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đối với công tác tổ chức cán bộ trong kỷ nguyên mới

Đạo Đức Kinh của Lão Tử ra đời cách đây hơn 2.000 năm nhưng vẫn vẹn nguyên giá trị thời đại. Tác phẩm không bàn về thuật mưu mẹo chính trị, mà tập trung xây dựng nền tảng đạo đức lãnh đạo và nghệ thuật quản trị con người, xã hội hài hòa, thuận theo quy luật tự nhiên (Đạo).
SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc và thích ứng trong xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc

SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc và thích ứng trong xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc

Trong thương mại nông sản, việc cắt giảm thuế quan không đồng nghĩa với việc chi phí tiếp cận thị trường biến mất. Các biện pháp phi thuế quan, đặc biệt là các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật và các hàng rào kỹ thuật trong thương mại, có thể làm thay đổi yêu cầu về chất lượng, kiểm nghiệm, chứng nhận, hồ sơ và tổ chức chuỗi cung ứng.
Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tích hợp công nghệ số BIM-ERP và chỉ số bền vững ESG trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tích hợp công nghệ số BIM-ERP và chỉ số bền vững ESG trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam

Sự đứt gãy giữa dữ liệu kỹ thuật tại công trường và dữ liệu hạch toán khiến báo cáo chênh lệch chi phí có độ trễ lớn, giảm hiệu lực điều chỉnh. Do đó, sự phát triển của công nghệ số (BIM 5D, ERP) cùng xu hướng quản trị bền vững (ESG) mở ra cơ hội lớn để tái cấu trúc kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp xây dựng.
Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định an sinh xã hội giữ vị trí trung tâm, đóng vai trò là lưới đỡ an toàn, công cụ phân phối lại thu nhập quốc dân nhằm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.
Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chuyển đổi số đang làm thay đổi đáng kể hoạt động của các ngân hàng thương mại thông qua ứng dụng công nghệ vào quy trình vận hành, quản trị và cung ứng dịch vụ. Việc ứng dụng các công nghệ số giúp ngân hàng tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ, cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường năng lực quản trị rủi ro.
Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Chuyển đổi số đổi mới dịch vụ tài chính, mở rộng cơ hội tiếp cận tài chính chính thức cho các nhóm dân cư.
Hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam: Đề xuất khung phân tích tích hợp

Hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam: Đề xuất khung phân tích tích hợp

Doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tạo giá trị ở khâu đầu của chuỗi dự án nhưng lại chịu sức ép cạnh tranh lớn nhất và thường có năng lực hoạch định chiến lược mỏng nhất.
Ảnh hưởng của xu hướng mua sắm giải trí trên nền tảng TikTok đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng

Ảnh hưởng của xu hướng mua sắm giải trí trên nền tảng TikTok đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng

Trong thương mại điện tử, thói quen “xem và lướt” đã phát triển thành hành vi “xem để mua” và “lướt để mua”, sau đó bùng nổ với 68% khách hàng từng mua hàng sau khi xem video review hoặc livestream.
Ứng dụng Random Forest phân tích tác động trễ của giá năng lượng đến giá carbon tại Hệ thống thương mại phát thải châu Âu và hàm ý cho Việt Nam

Ứng dụng Random Forest phân tích tác động trễ của giá năng lượng đến giá carbon tại Hệ thống thương mại phát thải châu Âu và hàm ý cho Việt Nam

Giá năng lượng hóa thạch tác động đến giá carbon trong EU ETS thông qua cơ chế truyền dẫn phi tuyến.