Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng lực nghề nghiệp của nhân lực ngành Kinh tế xây dựng tại TP. Hồ Chí Minh
ThS. Nguyễn Phương Thanh (Tác giả liên hệ)
Email: [email protected]
Phạm Trần Anh Vũ
Trường Đại học Giao thông vận tải
Tóm tắt
Ngành Kinh tế xây dựng đóng vai trò then chốt trong việc kết nối giữa kỹ thuật và quản lý tài chính nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư dự án. Nghiên cứu này tập trung hệ thống hóa các lý thuyết nền tảng về năng lực cá nhân (mô hình ASK và Lý thuyết tảng băng năng lực), lược khảo các công trình liên quan trong và ngoài nước, kết hợp với việc phân tích Chuẩn đầu ra ngành Kinh tế xây dựng của Trường Đại học Giao thông vận tải. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng lực nghề nghiệp của nguồn nhân lực Kinh tế xây dựng tại TP. Hồ Chí Minh gồm 3 nhóm cốt lõi: Kiến thức, Kỹ năng và Phẩm chất đạo đức. Khung lý thuyết đề xuất này đóng vai trò là cơ sở khoa học định hướng cho các nghiên cứu định lượng tiếp theo nhằm đo lường mức độ tác động của các yếu tố, đồng thời cung cấp hàm ý thực tiễn giúp các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu thị trường.
Từ khóa: Năng lực nghề nghiệp, nhân lực ngành kinh tế xây dựng, khung năng lực, ngành xây dựng
Abstract
Construction Economics plays a pivotal role in bridging engineering and financial management to optimize the efficiency of project investment. This study systematically reviews the theoretical foundations of individual competence, drawing on the ASK model and the Iceberg Competency Model, together with a comprehensive review of relevant domestic and international studies. It also examines the intended learning outcomes of the Construction Economics program at the University of Transport and Communications. Based on these theoretical and practical foundations, the study proposes a conceptual framework for examining the determinants of professional competence among Construction Economics professionals in Ho Chi Minh City. The proposed framework comprises three core dimensions: knowledge, skills, and ethical qualities. This conceptual model provides a scientific foundation for future quantitative studies to assess the effects of these factors and offers practical implications for higher education institutions and construction enterprises in developing strategies to enhance workforce quality in line with labor market demands.
Keywords: Professional competence, Construction Economics workforce, competency framework, construction industry
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh ngành xây dựng ngày càng phát triển theo hướng chuyên môn hóa và tích hợp đa lĩnh vực, vai trò của nhân lực ngành Kinh tế xây dựng ngày càng trở nên quan trọng. Khác với ngành Kỹ thuật xây dựng vốn tập trung vào thiết kế và thi công công trình, nhân lực ngành Kinh tế xây dựng đảm nhiệm chức năng kết nối giữa khối kỹ thuật và khối quản lý tài chính trong doanh nghiệp. Đây là lực lượng đóng vai trò trung gian trong việc chuyển hóa các giải pháp kỹ thuật thành các phương án kinh tế khả thi, đồng thời kiểm soát chi phí, hiệu quả đầu tư và quản lý nguồn lực trong suốt vòng đời dự án xây dựng.
Kinh tế xây dựng là một lĩnh vực liên ngành, kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức kỹ thuật xây dựng và quản lý kinh tế. Do đó, người học không chỉ cần nắm vững các nguyên lý kỹ thuật cơ bản mà còn phải có năng lực phân tích tài chính, lập và quản lý chi phí, đánh giá hiệu quả dự án, cũng như các kỹ năng quản trị và ra quyết định. Chính tính chất tích hợp này khiến ngành học trở nên chuyên sâu và có yêu cầu cao đối với năng lực nghề nghiệp của người lao động.
Mặc dù không phải là ngành đào tạo phổ biến với quy mô lớn, nhưng Kinh tế xây dựng lại giữ vai trò then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư và tính bền vững của toàn ngành xây dựng. Tuy nhiên, trên thực tế, Kinh tế xây dựng vẫn là một lĩnh vực tương đối mới tại Việt Nam so với các chuyên ngành truyền thống khác trong xây dựng. Điều này dẫn đến tình trạng học sinh phổ thông chưa có đầy đủ thông tin để nhận diện đúng về ngành học khi lựa chọn định hướng nghề nghiệp.
Trước bối cảnh đó, việc nghiên cứu, xác định và hệ thống hóa các yếu tố cấu thành năng lực nghề nghiệp của nhân lực ngành Kinh tế xây dựng là hết sức cần thiết. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành xây dựng trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Mô hình ASK (Attitude - Skill - Knowledge)
ASK là mô hình nghiên cứu phổ biến trong quản trị và phát triển năng lực cá nhân, đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để nghiên cứu năng lực của một cá nhân trong tổ chức. Bloom (1956) được xem là người đã đặt nền móng trong việc phát triển mô hình này.
Mô hình ASK đưa ra tiêu chuẩn về năng lực nghề nghiệp cho các cá nhân trong một tổ chức dựa trên 3 nhóm tiêu chuẩn: Phẩm chất hay thái độ (Attitude), kỹ năng (Skill) và kiến thức (Knowledge).
Lý thuyết David McClelland
David McClelland (1973) đã phát hiện ra rằng, việc kiểm tra và đánh giá trí thông minh (IQ) lúc bấy giờ làm tiêu chí tuyển dụng là không hợp lý. Thay vào đó, ông đề xuất việc tuyển dụng dựa trên đánh giá năng lực của các ứng viên - tức là đánh giá tất cả các đặc điểm cá nhân của ứng viên có ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc. Có thể hiểu đơn giản là bên cạnh việc đánh giá các kiến thức, kỹ năng, cần đánh giá thêm các yếu tố sâu hơn như động lực, thái độ hay đặc điểm cá nhân của các ứng viên.
Mô hình được Spencer và Spencer (1993) mở rộng và định hình rõ hơn từ Lý thuyết David McClelland (1973) về các năng lực. Mô hình được chia thành 2 phần chính: Phần dễ nhận thấy (Visible Part) và phần ẩn (Hidden Part):
- Phần dễ nhận thấy (Visible Part) đây là các yếu tố dễ dàng nhận thấy ở một cá nhân thông qua quá trình quan sát và đánh giá. Bao gồm kỹ năng và kiến thức.
- Phần ẩn (Hidden Part) là những yếu tố cốt lõi nhưng lại là nền tảng, chúng khó quan sát và đánh giá được. Bao gồm nhận thức về bản thân, đặc điểm cá nhân và động lực.
Mô hình tảng băng chìm giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về năng lực làm việc của một cá nhân, bên cạnh các phần nhìn thấy được (kiến thức và kỹ năng) thì các phần ẩn (đặc điểm cá nhân, nhận thức cá nhân, động lực) cũng là các yếu tố giúp nâng cao năng lực nghề nghiệp của một cá nhân.
Khoảng trống nghiên cứu
Hiện nay tại Việt Nam, một số nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp của ngành liên quan có thể kể đến như: Phan Thanh Phương và cộng sự (2024) nghiên cứu năng lực nhân sự ngành quản lý xây dựng tại Việt Nam thông qua góc nhìn giữa người sử dụng lao động và sinh viên; Nguyễn Quốc Toản và cộng sự (2018) nghiên cứu việc phát triển mô hình đường cong nghề nghiệp và khung năng lực cần thiết đào tạo kỹ sư xây dựng 4.0. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng phần lớn các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi như kỹ thuật xây dựng hoặc quản lý xây dựng, trong khi đó các ngành mang tính liên ngành như Kinh tế xây dựng vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó, các nghiên cứu hiện có chủ yếu được thực hiện ở phạm vi tổng thể hoặc mang tính khái quát cho toàn ngành xây dựng tại Việt Nam, chưa đi sâu phân tích theo từng lĩnh vực chuyên biệt cũng như theo đặc thù của từng khu vực kinh tế xã hội. Đặc biệt, đối với ngành Kinh tế xây dựng, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào tập trung đánh giá một cách hệ thống các yếu tố cấu thành năng lực nghề nghiệp của nguồn nhân lực trong bối cảnh cụ thể của TP. Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, nơi có thị trường xây dựng phát triển năng động, mức độ cạnh tranh cao và yêu cầu ngày càng khắt khe về hiệu quả đầu tư.
Từ những phân tích trên, có thể thấy tồn tại một khoảng trống nghiên cứu rõ rệt về việc xây dựng mô hình các yếu tố cấu thành năng lực nghề nghiệp của nhân lực ngành Kinh tế xây dựng tại khu vực TP. Hồ Chí Minh. Do đó, việc thực hiện nghiên cứu này là cần thiết, không chỉ nhằm bổ sung cơ sở lý luận cho lĩnh vực còn ít được khai thác mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ngành trong bối cảnh hiện nay.
GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Giả thuyết nghiên cứu
Kiến thức
Kiến thức được hiểu là thông tin mà một nhân sự sở hữu được trong một lĩnh vực nội dung cụ thể, tương đối dễ dàng nhận biết và có thể được phát triển thông qua quá trình đào tạo (Spencer và Spencer, 1993). Kiến thức cung cấp cho nhân sự hiểu biết về bối cảnh, biết được bản thân đang giữ vai trò, nhiệm vụ gì để có thể thực hiện chúng một các hiệu quả (Hassan và cộng sự, 2011). Bên cạnh đó, cũng theo Hassan và cộng sự (2011), các kiến thức được xem là yếu tố nền móng cho năng lực của một nhân sự, khi có sự thay đổi trong công việc thì lượng và chất của các kiến thức cần thiết cũng phải thay đổi thêm, chính vì thế khi có được lượng kiến thức phù hợp và hợp lí có thể giúp nhân sự đảm bảo được sự thích ứng với các nhu cầu công việc đang ngày càng thay đổi như hiện nay (Hassan và cộng sự, 2011). Từ đó giả thuyết được đề xuất như sau:
H1: Kiến thức là yếu tố cấu thành nên Năng lực nghề nghiệp của nhân lực ngành Kinh tế xây dựng.
Bảng: Các thành phần năng lực của yếu tố Kiến thức
| STT | Các thành phần năng lực | Nguồn |
|---|---|---|
| 1 | Kiến thức về lý luận chính trị | ĐHGTVT (2016) |
| 2 | Kiến thức về an ninh quốc phòng | |
| 3 | Làm chủ công nghệ và ứng dụng thiết bị hiện đại vào hoạt động chuyên môn | |
| 4 | Năng lực thể chất và tinh thần | |
| 5 | Năng lực ngoại ngữ, tin học về ngành xây dựng | |
| 6 | Kiến thức về khoa học kinh tế | |
| 7 | Kiến thức về khoa học cơ sở | |
| 8 | Kiến thức liên ngành | |
| 9 | Áp dụng kiến thức chuyên môn vào quản lý kinh tế và nghiên cứu phát triển | |
| 10 | Áp dụng các kiến thức chuyên môn vào quản lý doanh nghiệp xây dựng và khai thác công trình |
Nguồn: Nghiên cứu của nhóm tác giả
Kỹ năng
Kỹ năng được định nghĩa là khả năng thực hiện một nhiệm vụ hay một chức năng cụ thể, chúng là minh chứng cho sự thành thạo của một nhân sự thông qua các quá trình đào đào hoặc các kinh nghiệm thực tế nào đó (Yogeshwaran và cộng sự, 2018; Chandramohan, 2020; Boon Hui Yap và cộng sự 2021). Việc sở hữu được nhiều kỹ năng cần thiết giúp các nhân sự có thể thực hiện nhiều vai trò khác nhau, đáp ứng được các kỳ vọng của khách hàng và nhà tuyển dụng , đồng thời trong các trường hợp thực tế các kỹ năng mềm thường được sử dụng hiệu quả hơn nhằm để giải quyết các vấn đề liên quan đến tính chất của con người (Oluwatosin và Amo 2016; Chandramohan và cộng sự, 2020). Từ đó giả thuyết được đề xuất như sau:
H2: Kỹ năng là yếu tố cấu thành nên Năng lực nghề nghiệp của nhân lực ngành Kinh tế xây dựng.
Phẩm chất đạo đức
Phẩm chất đạo đức trong ngành xây dựng được hiểu là một hệ thống các tiêu chuẩn về hành vi, thái độ và các giá trị cốt lõi mà một nhân sự cần có để có thể hoàn thành công việc một cách đúng đắn và có trách nhiệm (Moradi và cộng sự, 2021).
Các dự án xây dựng gặp thất bại hiện nay được chứng minh rằng vấn đề không phải nằm ở kỹ thuật, mà chủ yếu do các hành vi của nhân sự (thiếu đạo đức nghề nghiệp, năng suất thấp, các mối quan hệ kém và thiếu sự gắn kết của nhân viên) (Moradi và cộng sự, 2021). Các phẩm chất đạo đức cũng đang được các nhà tuyển dụng và các doanh nghiệp xem là các tiêu chí tuyển dụng hàng đầu (Spencer và Spencer, 1993; Zaheer và cộng sự, 2020; Moradi và cộng sự, 2021). Qua đó có thể thấy được tầm quan trọng của chúng trong việc đánh giá năng lực nghề nghiệp đối với một nhân sự.
Theo Spencer và Spencer (1993) các năng lực này nằm sâu bên trong của một nhân sự và là các năng lực khó thay đổi hơn so với kiến thức và kỹ năng, có thể hiểu đơn giản là các năng lực này rất khó để đào tạo, phát triển hay cải thiện trong một thời gian ngắn so với các năng lực khác. Spencer và Spencer (1993) cho rằng các năng lực thuộc về phẩm chất đạo đức gắn liền với nhân cách và cách phản ứng nhất quán của một nhân sự trước các tình huống, chính vì thế mà chúng mang được tính chất bền vững và đặc biệt là khó bị ảnh hưởng bởi các khóa học đào tạo ngắn hạn. Từ đó giả thuyết được đề xuất như sau:
H3: Phẩm chất đạo đức là yếu tố cấu thành nên Năng lực nghề nghiệp của nhân lực ngành Kinh tế xây dựng.
Đề xuất mô hình nghiên cứu
Từ các lý thuyết nền tảng và giả thuyết nghiên cứu trên, nhóm tác giả đề xuất xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng lực nghề nghiệp của nhân lực ngành xây dựng như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
KẾT LUẬN
Trên cơ sở phân tích các nền tảng lý thuyết liên quan đến năng lực nghề nghiệp, đồng thời kế thừa và đánh giá những hạn chế của các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này đề xuất xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng lực nghề nghiệp của nhân lực ngành Kinh tế xây dựng. Mô hình được phát triển dựa trên sự kết hợp giữa chuẩn đầu ra của Trường Đại học Giao thông vận tải và các khung lý thuyết, kết quả nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước, nhằm đảm bảo tính kế thừa và phù hợp với bối cảnh thực tiễn. Trên cơ sở đó, mô hình nghiên cứu được đề xuất đóng vai trò là khung phân tích nền tảng cho các bước nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả của nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở việc đề xuất mô hình lý thuyết mà còn là cơ sở ban đầu để triển khai các phân tích định lượng chuyên sâu, thông qua việc kiểm định mô hình và đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến năng lực nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu hướng đến việc cung cấp các bằng chứng khoa học nhằm đề xuất các hàm ý quản trị và khuyến nghị phù hợp cho cơ sở đào tạo, người học và các tổ chức sử dụng lao động, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Kinh tế xây dựng trong bối cảnh hiện nay.
(*) Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Giao thông vận tải trong suốt quá trình thực hiện.
Tài liệu tham khảo:
1. Bloom, B. S. (1956). Taxonomy of educational objectives, Handbook I: The cognitive domain. David McKay Co Inc.
2. Chandramohan, A., Perera, B. A. K. S., & Dewagoda, K. G. (2020). Diversification of professional quantity surveyors’ roles in the construction industry: The skills and competencies required. International Journal of Construction Management, 22(12), 2367–2375. https://doi.org/10.1080/15623599.2020.1720058
3. Hassan, F., Ismail, Z., Zaini, A. A., Hassan, S., & Maisham, M. (2011). An evaluation of the competencies, skills and knowledge of Quantity Surveying graduates in consultant Quantity Surveying firms in Malaysia. In 2011 IEEE Colloquium on Humanities, Science and Engineering (pp. 228–232). IEEE. https://doi.org/10.1109/CHUSER.2011.6163722
4. McClelland, D. C. (1973). Testing for competence rather than for “intelligence.” American Psychologist, 28(1), 1–14. https://doi.org/10.1037/h0034092
5. Moradi, S., Kähkönen, K., Klakegg, O. J., & Aaltonen, K. (2021). A competency model for the selection and performance improvement of project managers in collaborative construction projects: Behavioral studies in Norway and Finland. Buildings, 11(1), Article 4. https://doi.org/10.3390/buildings11010004
6. Nguyễn Quốc Toản, Nguyễn Văn Tâm, & Vũ Tiến Trình. (2024). Phát triển mô hình đường cong nghề nghiệp và khung năng lực cần thiết đào tạo kỹ sư xây dựng 4.0: Phân tích tổng quan và định hướng bối cảnh Việt Nam. Tạp chí Vật liệu & Xây dựng, 14(5), 143–148.
7. Oluwatosin, O. T., & Amos, A. O. (2016). Are quantity surveyors competent to value for civil engineering works? Evaluating QSs' competencies and militating factors. Journal of Education and Practice, 7(12), 9–18.
8. Phan Thanh Phương, Nguyễn Mộng Huyền Nhi, & Võ Đăng Khoa. (2024). Năng lực nhân sự ngành quản lý xây dựng: Sự khác biệt giữa góc nhìn người sử dụng lao động và sinh viên. Tạp chí Xây dựng, (6), 114–119.
9. Spencer, L. M., & Spencer, S. M. (1993). Competence at work: Models for superior performance. John Wiley & Sons, Inc.
10. Trường Đại học Giao thông vận tải (2016). Chuẩn đầu ra ngành Kinh tế xây dựng. Trường Đại học Giao thông vận tải.
11. Yap, J. B. H., Skitmore, M., Lim, Y. W., Loo, S. C., & Gray, J. (2022). Assessing the expected current and future competencies of quantity surveyors in the Malaysian built environment. Engineering, Construction and Architectural Management, 29(6), 2415–2436. https://doi.org/10.1108/ECAM-01-2021-0091
12. Yogeshwaran, G., Perera, B. A. K. S., & Ariyachandra, M. R. M. F. (2018). Competencies expected of graduate quantity surveyors working in developing countries. Journal of Financial Management of Property and Construction, 23(2), 202–220. https://doi.org/10.1108/JFMPC-06-2017-0019
13. Zaheer, M. I., Ajayi, S. O., Zulu, S. L., Oyegoke, A., & Kazemi, H. (2021). Understanding the key competencies of market-ready building surveying graduates from employers’ perspectives. Journal of Engineering, Design and Technology, 19(1), 291–314. https://doi.org/10.1108/JEDT-01-2020-0012
| Ngày nhận bài: 29/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/7/2026; Ngày duyệt đăng: 28/7/2026 |
Các tin khác
Hoàn thiện kiểm toán nội bộ tại các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam trong bối cảnh tự chủ tài chính
Tác động của chuyển đổi số đến đổi mới mô hình kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô tại khu vực TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của vốn tri thức
Năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò trung gian của năng lực đổi mới và năng lực thích ứng
Quản lý nhà nước đối với khu thương mại tự do: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho TP. Hồ Chí Minh
Vai trò của sự hài lòng tự quyết và đổi mới cá nhân trong mối quan hệ giữa sự đổi mới của nhà bán lẻ và hành vi gắn kết khách hàng
Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại Công ty TNHH MTV Ô tô Trường Hải Đồng Nai
Các nhân tố tác động đến quyết định mua sắm trực tuyến trên kênh thương mại điện tử Shopee của người tiêu dùng tại tỉnh An Giang
Nguồn lực đầu tư công cho hạ tầng giao thông đường bộ vùng Tây Bắc: Thực trạng và hàm ý chính sách
