Vai trò của hệ thống thông tin kế toán trong hỗ trợ lập báo cáo tích hợp: Cơ sở lý luận và hàm ý cho doanh nghiệp Việt Nam
ThS. Trần Thu Vân
Trường Đại học Quy Nhơn; Email: tranthuvan@qnu.edu.vn
ThS. Phạm Thị Thùy Trang
Trường Đại học Đồng Nai; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu luận giải vai trò của hệ thống thông tin kế toán (AIS) trong hỗ trợ lập báo cáo tích hợp (IR), dựa trên lý thuyết xử lý thông tin, tổng hợp tài liệu và lập luận diễn dịch. Bài viết đề xuất 4 cơ chế: cung cấp, kết nối, kiểm soát chất lượng và tổng hợp thông tin; đồng thời làm rõ điều kiện triển khai. Việc thực hiện các cơ chế phụ thuộc vào năng lực nhân sự, quy trình, công nghệ và phối hợp quản trị, gắn với tư duy tích hợp và xét đoán trọng yếu. Từ đó, nghiên cứu đề xuất doanh nghiệp Việt Nam chuẩn hóa dữ liệu, tăng cường phối hợp liên chức năng, hoàn thiện kiểm soát nội bộ và phát triển hệ thống thông tin kế toán phù hợp.
Từ khóa: Hệ thống thông tin kế toán, báo cáo tích hợp, kế toán
Abstract
This study examines the role of accounting information systems (AIS) in supporting integrated reporting (IR), drawing on information processing theory, a literature review, and deductive reasoning. It proposes four mechanisms: information provision, connectivity, quality control, and information aggregation, while clarifying the conditions required for their implementation. The effectiveness of these mechanisms depends on human resource capabilities, processes, technology, and management coordination, supported by integrated thinking and materiality judgments. Accordingly, the study recommends that enterprises in Viet Nam standardize data, strengthen cross-functional coordination, improve internal controls, and develop appropriate accounting information systems.
Keywords: Accounting information systems, integrated reporting, accounting
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khung Báo cáo tích hợp (IR) sửa đổi năm 2021 nhấn mạnh việc giải thích quá trình tạo lập, duy trì hoặc suy giảm giá trị, đặt ra yêu cầu thu thập, xử lý và kết nối dữ liệu tài chính với phi tài chính (IIRC, 2021). Tại Việt Nam, khảo sát của PwC Việt Nam (2025) với 174 đại diện doanh nghiệp có 47% doanh nghiệp gặp khó khăn do thu thập dữ liệu thủ công hoặc thiếu nhất quán; chỉ 10% sử dụng công cụ phân tích dữ liệu kinh doanh để thu thập liên tục và phân tích chiến lược. Dữ liệu phân mảnh, chất lượng thấp cản trở đo lường và báo cáo Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG); thiếu quy tắc đo lường, trao đổi chung có thể gây chênh lệch và khó truy xuất. Dù chưa trực tiếp phản ánh thực trạng IR, kết quả cho thấy nhu cầu hoàn thiện nền tảng thông tin phục vụ báo cáo có tính kết nối.
Nghiên cứu của Atkins và Maroun (2015) ghi nhận nhà đầu tư tổ chức đánh giá tích cực việc kết hợp thông tin tài chính với ESG nhưng cho rằng nội dung dài, lặp lại và thiên về danh mục công bố làm giảm tính hữu ích. McNally và cộng sự (2017) chỉ ra sự thiếu tương thích giữa các hệ thống và khó khăn phân tích dữ liệu cản trở lập IR. Trong khi đó, một số nghiên cứu cho rằng AIS hỗ trợ thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin. Monteiro và cộng sự (2022) ghi nhận chất lượng AIS và kiểm soát nội bộ có quan hệ tích cực với chất lượng thông tin phi tài chính, hỗ trợ ra quyết định. Tuan Hazam (2025) nhấn mạnh cần hoàn thiện AIS để triển khai IR. Tuy nhiên, cần luận giải cơ chế AIS đáp ứng yêu cầu về nguồn thông tin, tính kết nối, độ tin cậy và tổng hợp, gắn với tổ chức dữ liệu, phối hợp liên bộ phận và xét đoán quản trị.
Trên cơ sở lý thuyết xử lý thông tin, nghiên cứu hướng đến 3 mục tiêu: (i) làm rõ các yêu cầu thông tin phục vụ lập IR; (ii) luận giải các cơ chế AIS hỗ trợ đáp ứng những yêu cầu này và điều kiện thực hiện; (iii) đề xuất hàm ý quản trị nhằm hoàn thiện AIS phục vụ lập IR tại doanh nghiệp Việt Nam.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Hệ thống thông tin kế toán
Theo Romney và cộng sự (2021), hệ thống thông tin kế toán (AIS) là hệ thống thu thập, ghi nhận, lưu trữ và xử lý dữ liệu nhằm cung cấp thông tin phục vụ ra quyết định. AIS gồm 6 thành phần: con người; thủ tục và hướng dẫn; dữ liệu; phần mềm; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin; kiểm soát nội bộ và bảo mật. Các thành phần phối hợp tổ chức dữ liệu về hoạt động và nguồn lực, tạo thông tin hữu ích, đồng thời bảo vệ tài sản và dữ liệu. AIS vì vậy là sự kết hợp giữa con người, quy trình và công nghệ.
AIS cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính, phản ánh giao dịch, kết quả hoạt động bằng tiền tệ và bổ sung dữ liệu về quá trình hoạt động, sử dụng nguồn lực. Romney và cộng sự (2021) nhấn mạnh việc tích hợp dữ liệu tài chính và phi tài chính nhằm hỗ trợ nhà quản lý lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định. Monteiro và cộng sự (2022) ghi nhận chất lượng AIS và kiểm soát nội bộ có quan hệ tích cực với chất lượng thông tin phi tài chính, qua đó hỗ trợ thành công trong ra quyết định. Khả năng đáp ứng thông tin còn phụ thuộc vào sự phù hợp giữa thiết kế AIS và đặc điểm tổ chức. Nicolaou (2000) cho rằng hiệu quả cảm nhận của AIS qua sự phù hợp giữa mức độ tích hợp hệ thống với mức độ chính thức hóa, sự phụ thuộc thông tin giữa các bộ phận và với tổ chức khác. Do đó, cần đánh giá AIS theo nhu cầu phối hợp, kiểm soát và mức độ đáp ứng thông tin của doanh nghiệp, thay vì chỉ dựa vào sự hiện diện của phần mềm kế toán.
Báo cáo tích hợp và yêu cầu thông tin
Theo Hội đồng Báo cáo tích hợp quốc tế (IIRC, 2021), IR trình bày cô đọng cách thức chiến lược, quản trị, kết quả hoạt động và triển vọng của tổ chức, trong bối cảnh môi trường bên ngoài, dẫn đến tạo lập, duy trì hoặc suy giảm giá trị trong ngắn, trung và dài hạn. IR kết nối thông tin tài chính và phi tài chính nhằm hỗ trợ các bên cung cấp vốn tài chính đánh giá khả năng tạo giá trị, đồng thời thúc đẩy tư duy tích hợp và trách nhiệm giải trình. Quá trình tạo giá trị được xem xét qua sáu loại vốn: tài chính, sản xuất, trí tuệ, con người, xã hội và quan hệ, tự nhiên. Nguyễn Thị Thu Hằng (2019) nhấn mạnh sự biến đổi của nguồn lực trong quan hệ với mô hình kinh doanh, môi trường bên ngoài và các bên liên quan. Thông tin phục vụ IR vì vậy cần bao quát cả nguồn lực chưa được phản ánh đầy đủ bằng tiền tệ. Khung IR xác định tám nội dung: tổng quan tổ chức và môi trường bên ngoài; quản trị; mô hình kinh doanh; rủi ro và cơ hội; chiến lược và phân bổ nguồn lực; kết quả hoạt động; triển vọng; cơ sở lập và trình bày báo cáo (IIRC, 2021).
Từ nội dung và nguyên tắc của khung IR, có thể khái quát 4 nhóm yêu cầu thông tin. Thứ nhất, thông tin cần phản ánh nguồn lực và quá trình tạo giá trị, liên kết đầu vào, hoạt động, đầu ra và kết quả; kết hợp dữ liệu tài chính, phi tài chính với diễn giải định tính về sử dụng và tác động đến các loại vốn (IIRC, 2021). Thứ hai, thông tin cần kết nối chiến lược, phân bổ nguồn lực, rủi ro, cơ hội và kết quả hoạt động, hỗ trợ đối thoại và trách nhiệm giải trình (Lai và cộng sự, 2018). Thứ ba, nội dung cần tập trung vào vấn đề trọng yếu, liên hệ kết quả hiện tại với mục tiêu, triển vọng và làm rõ căn cứ đánh giá, những bất định (IIRC, 2021). Thứ tư, thông tin cần đáng tin cậy, đầy đủ, cân bằng, cô đọng, nhất quán và có khả năng so sánh. Melloni và cộng sự (2017) ghi nhận doanh nghiệp có kết quả tài chính yếu thường công bố IR dài, khó đọc và lạc quan hơn, cho thấy cần kiểm soát cả số liệu lẫn diễn giải. Việc đáp ứng các yêu cầu trên gắn với tổ chức và sử dụng thông tin. Dimes và de Villiers (2024) liên hệ lập IR với tư duy tích hợp, sự tham gia của các bên liên quan, kiểm soát quản trị và đảm bảo báo cáo. Đây là cơ sở xem xét AIS hỗ trợ dữ liệu, kết nối và kiểm soát thông tin, cùng với xét đoán của nhà quản trị.
Lý thuyết nền và khung phân tích
Theo lý thuyết xử lý thông tin của Galbraith (1974), bất định gia tăng đòi hỏi năng lực xử lý thông tin tương ứng. IR cần kết hợp dữ liệu tài chính và phi tài chính liên bộ phận. Nghiên cứu đề xuất 4 cơ chế AIS bổ trợ: cung cấp, kết nối, kiểm soát chất lượng và tổng hợp thông tin, gắn với nhân sự, quy trình, công nghệ và phối hợp quản trị. Khung này định hướng luận giải vai trò, giới hạn hỗ trợ của AIS và xét đoán của người lập báo cáo.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được triển khai theo hướng lý luận, sử dụng phân tích và tổng hợp tài liệu kết hợp với lập luận diễn dịch. Khung báo cáo tích hợp được sử dụng để xác định các yêu cầu thông tin; lý thuyết xử lý thông tin cung cấp cơ sở giải thích nhu cầu phối hợp và năng lực xử lý tương ứng của doanh nghiệp. Trên cơ sở đối chiếu những yêu cầu này với chức năng của AIS, nghiên cứu xây dựng lập luận về các cơ chế hỗ trợ và điều kiện thực hiện. Các nghiên cứu trước được sử dụng để hỗ trợ, đối chiếu và làm rõ phạm vi của lập luận, từ đó đề xuất hàm ý quản trị cho doanh nghiệp Việt Nam.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Cơ chế cung cấp thông tin
Cơ chế cung cấp thông tin thể hiện ở khả năng AIS chuyển dữ liệu hoạt động thành thông tin có cấu trúc phục vụ IR thông qua thu thập, ghi nhận, phân loại và xử lý (Romney và cộng sự, 2021). Cụ thể hóa yêu cầu báo cáo thành chỉ tiêu và trách nhiệm cung cấp dữ liệu giúp hình thành nguồn thông tin thường xuyên. Monteiro và cộng sự (2022), Ngoc Tran Thanh Thuy (2025) ghi nhận chất lượng AIS và kiểm soát nội bộ có quan hệ tích cực với chất lượng thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Khi vận dụng vào lập IR, AIS cần được thiết kế theo nhu cầu dữ liệu, với mỗi chỉ tiêu được xác định rõ nội hàm, phương pháp đo lường, nguồn cung cấp, tần suất cập nhật và trách nhiệm thực hiện. Các yêu cầu này được đưa vào quy trình ghi nhận hoặc tiếp nhận dữ liệu từ hệ thống chuyên môn. Doanh nghiệp đồng thời cần đối chiếu thông tin hiện có với nhu cầu công bố để bổ sung dữ liệu còn thiếu. Theo đó, việc vận dụng tư duy tích hợp trong xác định nguồn lực và hoạt động cần theo dõi được cụ thể hóa qua yêu cầu dữ liệu và trách nhiệm cung cấp thông tin trong AIS, tạo cơ sở duy trì và điều chỉnh nguồn thông tin phục vụ IR.
Cơ chế kết nối thông tin
Cơ chế kết nối thể hiện ở khả năng AIS tổ chức luồng dữ liệu liên bộ phận thành cơ sở giải thích quá trình tạo giá trị. Tuan Hazam (2025) nhấn mạnh vai trò của hệ thống tích hợp trong tập trung dữ liệu và trao đổi liên chức năng. Giovannoni và Maraghini (2013) cho thấy tích hợp hệ thống đo lường kết quả cần tương tác xã hội và sự tham gia của lãnh đạo. Theo đó, AIS cần thống nhất đối tượng theo dõi, kỳ báo cáo và phạm vi đo lường để đối chiếu dữ liệu tài chính, phi tài chính. Tuy nhiên, diễn giải mối liên hệ giữa nguồn lực, hoạt động và kết quả cần phân tích liên chức năng. Dimes và de Villiers (2024) nhấn mạnh văn hóa hợp tác, hệ thống quản trị kết quả tích hợp và nhóm liên chức năng. Cơ chế này vì vậy kết hợp nền tảng dữ liệu với tư duy tích hợp khi kế toán, bộ phận chuyên môn và nhà quản trị cùng phân tích thông tin.
Cơ chế kiểm soát chất lượng thông tin
Cơ chế kiểm soát nhằm duy trì độ tin cậy trong thu thập, xử lý và sử dụng thông tin. Monteiro và cộng sự (2022) cung cấp bằng chứng về quan hệ tích cực giữa chất lượng AIS, kiểm soát nội bộ và thông tin phi tài chính. Vận dụng vào IR, cần xác định nguồn và trách nhiệm xác nhận dữ liệu; đối chiếu, lưu vết điều chỉnh; kiểm tra sự nhất quán giữa nội dung công bố và dữ liệu nguồn. Maroun (2018) đề xuất đánh giá quá trình phân tích, diễn giải và rà soát thông tin định tính, chủ quan, hướng tới tương lai. Theo đó, AIS cung cấp dữ liệu có thể đối chiếu, truy xuất, kết hợp rà soát sự nhất quán giữa số liệu và diễn giải, căn cứ giả định và tính cân bằng của nội dung trọng yếu. Chất lượng báo cáo vẫn phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn và trách nhiệm giải trình.
Cơ chế hỗ trợ tổng hợp thông tin và điều kiện triển khai
Theo cách tiếp cận xử lý thông tin, tổng hợp giúp chuyển dữ liệu phân tán thành thông tin phù hợp với nhiệm vụ báo cáo. Cơ chế tổng hợp thông tin hỗ trợ lựa chọn, khái quát và tổ chức dữ liệu phục vụ IR. Atkins và Maroun (2015) ghi nhận báo cáo dài, lặp lại và thiên về danh mục công bố. Lai và cộng sự (2018) cho thấy người lập IR liên hệ thông tin trọng yếu với ưu tiên chiến lược, hành động và kết quả. AIS cần tổng hợp chỉ tiêu, so sánh giữa các kỳ, đối chiếu kế hoạch và duy trì khả năng truy xuất. Lựa chọn nội dung cần kết hợp xử lý dữ liệu với xét đoán, phù hợp với Dimes và de Villiers (2024) về tư duy tích hợp và quyết định liên chức năng. Từ nghiên cứu của Bezuidenhout và cộng sự (2023), Dimes và de Villiers (2024), kết hợp chức năng AIS và yêu cầu IR, bài viết tổng hợp bốn nhóm điều kiện triển khai: năng lực nhân sự, quy trình thống nhất, hạ tầng công nghệ và phối hợp quản trị. Các điều kiện này giúp điều chỉnh năng lực xử lý của AIS phù hợp với nhu cầu thông tin của IR, nhất quán với lập luận của Galbraith (1974).
HÀM Ý QUẢN TRỊ
Nhằm hoàn thiện AIS và hỗ trợ lập IR tại doanh nghiệp Việt Nam, nghiên cứu đề xuất 4 khuyến nghị sau:
Thứ nhất, xây dựng chính sách quản trị dữ liệu gắn với nhu cầu IR. Doanh nghiệp cần xác định nhu cầu thông tin dựa trên chiến lược, mô hình kinh doanh và các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng tạo giá trị; từ đó rà soát dữ liệu hiện có và bổ sung thiếu hụt. Mỗi chỉ tiêu tài chính, phi tài chính cần được quy định rõ về định nghĩa, phương pháp đo lường, nguồn cung cấp, tần suất cập nhật và trách nhiệm thực hiện nhằm duy trì nguồn thông tin thường xuyên, nhất quán.
Thứ hai, tăng cường phối hợp liên chức năng và tổng hợp thông tin gắn với tư duy tích hợp. Doanh nghiệp cần phân công đầu mối lập IR, xác định trách nhiệm của kế toán, các bộ phận chuyên môn và lãnh đạo trong cung cấp dữ liệu, đánh giá và phê duyệt vấn đề trọng yếu. AIS cần hỗ trợ đối chiếu dữ liệu theo phạm vi thống nhất, so sánh giữa các kỳ và với kế hoạch, phục vụ phân tích mục tiêu chiến lược và đánh đổi giữa các nguồn lực. Nội dung công bố cần kết hợp dữ liệu với xét đoán, phản ánh quá trình tạo giá trị, bảo đảm cô đọng và phân biệt rõ kết quả, mục tiêu, dự báo.
Thứ ba, mở rộng kiểm soát nội bộ đối với thông tin phục vụ IR. Doanh nghiệp cần quy định trách nhiệm xác nhận dữ liệu, phân quyền truy cập và điều chỉnh, lưu giữ bằng chứng, bảo đảm truy xuất từ chỉ tiêu công bố đến dữ liệu nguồn. Thông tin phi tài chính cần được đo lường nhất quán và giải thích những thay đổi ảnh hưởng đến khả năng so sánh. Việc rà soát báo cáo cần bao quát sự phù hợp giữa số liệu, diễn giải, căn cứ của các giả định và tính cân bằng của nội dung công bố.
Thứ tư, phát triển AIS theo lộ trình phù hợp và nâng cao năng lực nhân sự. Doanh nghiệp cần đánh giá AIS hiện tại, ưu tiên chuẩn hóa dữ liệu, quy trình, trách nhiệm và kiểm soát trước khi mở rộng kết nối, tự động hóa. Hoạt động đào tạo cần bao quát kiến thức về IR, dữ liệu phi tài chính, kỹ năng phân tích và xét đoán trọng yếu. Lãnh đạo cần giám sát quá trình triển khai, nhận diện thiếu hụt và điều chỉnh AIS sau mỗi kỳ báo cáo.
Tài liệu tham khảo:
1. Atkins, J., & Maroun, W. (2015). Integrated reporting in South Africa in 2012: Perspectives from South African institutional investors. Meditari Accountancy Research, 23(2), 197-221.
2. Bezuidenhout, S., de Villiers, C., & Dimes, R. (2023). How management control systems can enable, constrain, and embed integrated reporting. Accounting & Finance, 63(4), 4251–4273.
3. Dimes, R., & de Villiers, C. (2024). Hallmarks of integrated thinking. The British Accounting Review, 56(1), Article 101281.
4. Galbraith, J. R. (1974). Organization design: An information processing view. Interfaces, 4(3), 28-36.
5. Giovannoni, E., & Maraghini, M. P. (2013). The challenges of integrated performance measurement systems: Integrating mechanisms for integrated measures. Accounting, Auditing & Accountability Journal, 26(6), 978-1008.
6. International Integrated Reporting Council. (2021). International integrated reporting framework.
7. Lai, A., Melloni, G., & Stacchezzini, R. (2018). Integrated reporting and narrative accountability: The role of preparers. Accounting, Auditing & Accountability Journal, 31(5), 1381-1405.
8. Maroun, W. (2018). Modifying assurance practices to meet the needs of integrated reporting: The case for “interpretive assurance”. Accounting, Auditing & Accountability Journal, 31(2), 400-427.
9. McNally, M.-A., Cerbone, D., & Maroun, W. (2017). Exploring the challenges of preparing an integrated report. Meditari Accountancy Research, 25(4), 481-504.
10. Melloni, G., Caglio, A., & Perego, P. (2017). Saying more with less? Disclosure conciseness, completeness and balance in integrated reports. Journal of Accounting and Public Policy, 36(3), 220-238.
11. Monteiro, A. P., Vale, J., Leite, E., Lis, M., & Kurowska-Pysz, J. (2022). The impact of information systems and non-financial information on company success. International Journal of Accounting Information Systems, 45, Article 100557.
12. Nicolaou, A. I. (2000). A contingency model of perceived effectiveness in accounting information systems: Organizational coordination and control effects. International Journal of Accounting Information Systems, 1(2), 91-105.
13. Nguyễn Thị Thu Hằng. (2019). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân].
14. PwC Việt Nam. (2025). ESG progress tracker survey report 2025.
15. Romney, M. B., Steinbart, P. J., Summers, S. L., & Wood, D. A. (2021). Accounting Information Systems, Global Edition 15/E.
16. Tran Thanh Thuy, N. (2025). Effect of accounting information system quality on decision-making success and non-financial performance: Does non-financial information quality matter? Cogent Business & Management, 12(1), Article 2447913.
17. Tuan Hazam, S. R. (2025). Accounting information system and integrated reporting implementation: A review of literature. International Journal of Accounting, Finance and Business, 10(59), 1-7.
|
Ngày nhận bài: 4/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/10/2026; Ngày duyệt đăng: 15/10/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của áp lực thời gian đến thôi thúc mua ngẫu hứng trong livestream: Vai trò của FOMO và cảm nhận thao túng
Tổng quan nghiên cứu về tác động của nguyên tắc thận trọng trong kế toán đến hành vi quản trị lợi nhuận
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại các trang trại chăn nuôi heo gia công với Công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam
Đổi mới kế toán, kiểm toán Việt Nam trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế: Thực trạng, thách thức và định hướng
Ứng dụng AI-GIS-CAD trong ước tính giá trị công trình để bồi thường, giải phóng mặt bằng
Quy mô doanh nghiệp và quản trị lợi nhuận: Vai trò điều tiết của đại dịch COVID-19
Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu qua tài khoản ngân hàng của sinh viên Trường Đại học Kiên Giang
Đầu tư công hiện đại ở Việt Nam: Từ đổi mới nhận thức đến hoàn thiện thể chế quản lý
Nâng cao năng lực số cho công chức trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh tại Đồng Tháp