Thực trạng chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực logistics Việt Nam

Kế toán - Kiểm toán 17:06 | 20/05/2026 Phạm Thị An
Trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện khung pháp lý về hệ thống thông tin kế toán nhằm tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế, bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Phạm Thị An

Trường Đại học Hải Dương

Email: phamthianketoanhd@gmail.com

Tóm tắt

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu về chất lượng hệ thống thông tin kế toán ngày càng trở nên cấp thiết. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực logistics Việt Nam. Kết quả cho thấy, hệ thống thông tin kế toán đã có những cải thiện nhất định, nhưng vẫn còn hạn chế về mức độ tích hợp, khả năng khai thác dữ liệu và năng lực vận hành chưa đáp ứng yêu cầu chuẩn mực quốc tế. Từ đó, nghiên cứu kiến nghị một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng hệ thống thông tin kế toán, hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống thông tin kế toán hiện đại, minh bạch và thích ứng với xu thế quản trị tài chính toàn cầu.

Từ khoá: Chất lượng, hệ thống thông tin kế toán, kế toán, logistic, thực trạng

Abstract

In the context of digital transformation and deep international integration, the requirement for high-quality accounting information systems has become increasingly critical. This study analyzes the current state of accounting information system quality in small and medium-sized enterprises operating in Viet Nam’s logistics sector. The findings indicate that accounting information systems have shown certain improvements; however, limitations remain in terms of system integration, data exploitation capabilities, and operational capacity, which have yet to meet international standards. Based on these findings, the study proposes several key solutions to enhance the quality of accounting information systems, aiming to develop modern, transparent, and globally adaptable systems aligned with international financial management trends.

Keywords: Quality, accounting information systems, accounting, logistics, current situation

GIỚI THIỆU

Trong hệ thống quản lý kinh tế - tài chính, hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) đóng vai trò cốt lõi trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức và doanh nghiệp. HTTTKT theo đó trở thành nền tảng quan trọng giúp xử lý và cung cấp thông tin tài chính chính xác, hỗ trợ nhà quản trị trong việc phân tích, đánh giá và nhận diện tình hình tài chính, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp (Romney và cộng sự, 2012). Trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện khung pháp lý về HTTTKT nhằm tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế, bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Tuy nhiên, thực trạng chất lượng HTTTKT của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam vẫn đang bộc lộ nhiều hạn chế đáng kể. Phần lớn các doanh nghiệp hiện mới chỉ dừng lại ở mức tin học hóa kế toán cơ bản, chưa hình thành được một hệ thống quản trị tích hợp và liên thông hoàn chỉnh với các nền tảng vận hành logistics chuyên dụng như: hệ thống quản lý vận tải (TMS), quản lý kho (WMS) hay hoạch định nguồn lực (ERP). Sự thiếu đồng bộ dữ liệu giữa bộ phận kế toán và bộ phận vận hành không chỉ làm giảm khả năng cung cấp thông tin kịp thời mà còn gây khó khăn trong việc kiểm soát, dự báo chi phí và doanh thu, từ đó trực tiếp hạn chế hiệu quả của các quyết định quản trị. Thêm vào đó, nguồn nhân sự thiếu kỹ năng số và hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) chưa được đầu tư đúng mức là những rào cản lớn. Vì vậy, việc phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng HTTTKT là một yêu cầu cấp thiết, nhằm nhận diện những thách thức và đề xuất các giải pháp trọng tâm giúp các DNNVV trong lĩnh vực logistics cải thiện năng lực quản trị và nâng cao tính cạnh tranh trong kỷ nguyên số.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Để thực hiện các chức năng quan trọng trong điều hành doanh nghiệp, tổ chức như việc cung cấp các thông tin tài chính, thực hiện và kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh cần phải có một cấu trúc được thiết lập để thu thập, lưu trữ, xử lý theo các chức năng của kế toán. Cấu trúc đó chính là HTTTKT. Qua đó có thể thấy, HTTTKT đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho hoạt động điều hành, quản lý và kiếm soát hiệu quả của tổ chức, doanh nghiệp. Theo ISA 315 (2019), HTTTKT được hiểu là hệ thống bao gồm các hoạt động, chính sách, hồ sơ kế toán và quy trình của tổ chức doanh nghiệp. Hệ thống này được thiết kế để thực hiện ghi nhận, xử lý và báo cáo các giao dịch và sự kiện liên quan đến kế toán, hỗ trợ quy trình lập báo cáo tài chính, vận hành bởi các nguồn lực của tổ chức doanh nghiệp. Do đó, có thể thấy, chất lượng HTTTKT có vai trò quan trọng trong mỗi doanh nghiệp, tổ chức do thông tin kế toán là đầu vào trực tiếp cho hoạt động quản trị, kiểm soát và hoạch định chiến lược của doanh nghiệp.

Chất lượng HTTTKT được hình thành từ sự tương tác giữa 3 nhóm yếu tố chính: công nghệ, tổ chức và con người. Yếu tố công nghệ quyết định khả năng xử lý dữ liệu, mức độ tự động hóa, độ tin cậy và khả năng tích hợp của hệ thống. Yếu tố tổ chức thể hiện qua quy trình, cấu trúc kiểm soát và cam kết của nhà quản lý. Trong khi yếu tố con người phản ánh năng lực sử dụng hệ thống, kỹ năng dữ liệu và khả năng tuân thủ quy trình. Do đó, việc đảm bảo chất lượng HTTKT có vai trò quan trọng trong quá trình giúp doanh nghiệp kiểm soát chi phí, quản lý dòng tiền, đối soát công nợ, giảm rủi ro sai lệch dữ liệu và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động. Đối với DNNVV, điều này càng quan trọng hơn vì nhóm doanh nghiệp này chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng và tạo công ăn việc làm, nhưng lại gặp nhiều hạn chế về vốn, công nghệ, nhân sự và năng lực quản trị (Samujh và Devi, 2008). Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy việc cải thiện chất lượng HTTTKT, đặc biệt thông qua số hóa, có thể hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả tài chính, chất lượng ra quyết định và năng lực cạnh tranh (Monteiro và cộng sự, 2021; Kusumawardhani và cộng sự, 2024). Tại Việt Nam, các nghiên cứu về HTTTKT trong môi trường ERP, logistics và năng lực người dùng cũng cho thấy hạ tầng CNTT, nguồn nhân lực và khả năng thích ứng số là những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến chất lượng HTTTKT (Đặng Thị Thúy Hà, 2017; Nguyễn Ngọc Kim Ngân, 2023).

Với vai trò quan trọng của HTTKT đối với quy trình và hiệu suất hoạt động của tổ chức, việc quan tâm đến chất lượng HTTTKT là vô cùng cấp thiết. Hơn nữa, do đặc thù của lĩnh vực logistics là số lượng giao dịch lớn, dữ liệu phát sinh liên tục từ vận tải, kho bãi, giao nhận, thanh toán, thu hộ, chi hộ và đối soát công nợ, nếu HTTTKT không đủ chất lượng, dữ liệu kế toán dễ bị phân tán, chậm trễ, thiếu chính xác và khó phục vụ quản trị theo thời gian thực. Do đó, việc duy trì đảm bảo chất lượng HTTTKT sẽ giúp DNNVV logistics nâng cao khả năng kiểm soát chi phí, quản lý doanh thu, theo dõi công nợ, kết nối dữ liệu vận hành với dữ liệu kế toán và đáp ứng tốt hơn yêu cầu minh bạch trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và áp lực chuẩn hóa báo cáo tài chính.

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH LOGISTICS

Về công nghệ và mức độ số hóa

Chất lượng HTTTKT tại các DNNVV trong lĩnh vực logistics trước hết được thể hiện rõ nét qua mức độ số hóa các công cụ xử lý thông tin, cùng khả năng kết nối dữ liệu đồng bộ giữa bộ phận kế toán và hoạt động vận hành thực tế. Theo dữ liệu từ Báo cáo Logistics Việt Nam (2025), phần lớn các doanh nghiệp trong ngành logistics hiện nay vẫn chỉ đang ở giai đoạn số hóa ban đầu. Cụ thể, có đến 90,5% doanh nghiệp mới đạt quy mô công nghệ ở cấp độ 1 và 2, tức là mức độ tin học hóa và kết nối cơ bản; trong đó, riêng tỷ lệ doanh nghiệp dừng lại ở cấp độ kết nối đã chiếm tới 73,5%. Ngược lại, tỷ lệ doanh nghi đạt đến các cấp độ quản trị tiên tiến hơn như: trực quan hóa, minh bạch hóa, dự báo và thích ứng tự động vẫn còn ở mức rất khiêm tốn (Hình 1). Thực trạng này phản ánh một điểm nghẽn lớn: HTTTKT hiện tại của khối DNNVV chủ yếu mới dừng lại ở vai trò công cụ ghi nhận, tổng hợp và liên kết các luồng dữ liệu căn bản. Trong khi đó, các năng lực cốt lõi mang tính chiến lược như: phân tích chuyên sâu, minh bạch hóa dữ liệu toàn diện và khai thác thông tin tài chính để phục vụ công tác quản trị, dự báo dòng tiền theo thời gian thực vẫn còn rất hạn chế, chưa thể đáp ứng được yêu cầu của chuỗi cung ứng hiện đại.

Hình 1: Mức độ trưởng thành số của doanh nghiệp logistics Việt Nam

Thực trạng chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp 
 nhỏ và vừa trong lĩnh vực logistics Việt Nam

Nguồn: Báo cáo Logistics Việt Nam (2025)

Về tổ chức, quy trình và khả năng tích hợp dữ liệu

Trong môi trường kinh doanh dịch vụ logistics, dữ liệu kế toán gắn trực tiếp với tệp dữ liệu phức tạp bao gồm: đơn hàng, vận tải, kho bãi, giao nhận, hải quan, thanh toán, thu hộ, chi hộ và đối soát công nợ. Vì vậy, chất lượng HTTTKT phụ thuộc lớn vào mức độ chuẩn hóa quy trình và khả năng liên thông dữ liệu giữa các bộ phận. Dữ liệu thực chứng từ Báo cáo Logistics Việt Nam năm 2025 đã ghi nhận những cải thiện vượt trội về mặt hiệu suất vận hành đối với các mô hình ứng dụng số hóa quy trình. Cụ thể, các doanh nghiệp chuyển đổi số thành công ghi nhận hiệu suất giao hàng cao hơn 25% và tiết kiệm từ 15%-20% chi phí vận hành so với mô hình truyền thống. Đối với phân khúc quản lý kho thông minh, việc tích hợp hệ thống quản lý kho (WMS), robot vận chuyển tự động và cảm biến IoT giúp giảm 15%-20% chi phí vận hành, đồng thời thúc đẩy hiệu suất xử lý đơn hàng tăng mạnh từ 25%-30%. Song song đó, số hóa quy trình giao nhận cũng giúp rút ngắn thời gian xử lý đơn từ mức 3-5 ngày xuống chỉ còn 6-12 giờ.

Mặc dù việc tối ưu hóa quy trình mang lại những chỉ số dịch chuyển tích cực về mặt kiểm soát chi phí và giảm thiểu sai sót, nhưng điểm nghẽn lớn nhất đối với đa số DNNVV trong ngành logistics vẫn nằm ở mức độ tích hợp kỹ thuật giữa hệ thống vận hành và phần mềm kế toán. Hiện nay, phần mềm kế toán chủ yếu mới thực hiện các chức năng cơ bản như: ghi nhận doanh thu, chi phí, quản lý công nợ và lập báo cáo tài chính. Trong khi đó, các luồng dữ liệu gốc liên quan đến vận tải, kho bãi, thông tin khách hàng hay chứng từ hải quan lại được xử lý trên các hệ thống chuyên dụng riêng lẻ.

Sự thiếu đồng bộ và mất kết nối giữa TMS, WMS, quản lý đơn hàng (OMS), quản lý quan hệ khách hàng (CRM) với HTTTKT buộc các nhân sự kế toán phải thực hiện nhập liệu thủ công lại từ đầu các chứng từ từ bộ phận nghiệp vụ. Quy trình này không chỉ làm kéo dài thời gian xử lý, tạo ra độ trễ lớn cho thông tin tài chính mà còn trực tiếp gia tăng rủi ro sai lệch dữ liệu giữa các hệ thống. Thực trạng này diễn ra ngay cả khi mức độ ứng dụng các phần mềm chuyên sâu tại các doanh nghiệp logistics đã có sự nâng cấp mạnh mẽ so với giai đoạn trước, với tỷ lệ triển khai hệ thống TMS đạt 73%, WMS đạt 65%, còn tỷ lệ tích hợp phần mềm OMS cũng như các nền tảng kết nối khách hàng trực tuyến đã đạt khoảng 32,5% (Hình 2).

Hình 2: Quy trình nghiệp vụ ứng dụng phần mềm

Thực trạng chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp 
 nhỏ và vừa trong lĩnh vực logistics Việt Nam

Nguồn: Báo cáo Logistics Vietnam, 2023, 2025

Về con người và năng lực khai thác

Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng vận hành và khả năng tối ưu hóa HTTTKT tại mỗi tổ chức. Đối với ngành logistics Việt Nam, nguồn nhân lực có đặc điểm trẻ, năng động và có khả năng thích ứng với thị trường, nhưng vẫn tồn tại khoảng cách lớn giữa nhu cầu thực tế và năng lực đáp ứng. Theo kết quả khảo sát của Báo cáo Logistics Việt Nam (2025), ngành logistics Việt Nam có khoảng 35.792 doanh nghiệp đang hoạt động, đa số là doanh nghiệp quy mô nhỏ dưới 49 lao động. Trung bình mỗi doanh nghiệp sử dụng khoảng 20 nhân sự logistics, trong khi mỗi năm có khoảng 700 doanh nghiệp mới gia nhập thị trường, chủ yếu ở quy mô nhỏ. Dự báo đến năm 2030, thiếu hụt nhân lực logistics trong cả 3 kịch bản đều vượt 1 triệu người (Bảng).

Sự hạn chế nghiêm trọng về nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ có trình độ chuyên môn cao, đang trực tiếp làm suy giảm năng lực quản trị dữ liệu, từ khâu ghi nhận, xử lý, đối soát cho đến phân tích dữ liệu theo các đặc thù nghiệp vụ của ngành logistics. Khi nhân sự kế toán tại các DNNVV không được trang bị đầy đủ các kỹ năng số về phần mềm, tư duy khai thác dữ liệu, các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cũng như quy trình vận hành logistics chuyên sâu, HTTTKT sẽ không thể tối ưu hóa được năng lực phân tích hay đưa ra các giải pháp quản trị dựa trên nền tảng dữ liệu hiện có, từ đó làm giảm đi giá trị cốt lõi của thông tin kế toán trong việc hỗ trợ ra quyết định.

Do đó, việc nâng cao năng lực người dùng, đặc biệt là phát triển đội ngũ nhân sự có khả năng kết hợp liên ngành giữa kiến thức kế toán, trình độ công nghệ và hiểu biết sâu sắc về nghiệp vụ logistics, là điều kiện tiên quyết để cải thiện toàn diện chất lượng HTTTKT tại khối doanh nghiệp này.

Bảng: Thực trạng nguồn nhân lực logistics và năng lực vận hành HTTTKT

Chỉ tiêu

Số liệu

Doanh nghiệp logistics đang hoạt động.

35.792 doanh nghiệp

Nhân sự logistics bình quân/doanh nghiệp.

Khoảng 20 người

Doanh nghiệp logistics mới gia nhập thị trường mỗi năm.

Khoảng 700 doanh nghiệp

Nhu cầu lao động bình quân của doanh nghiệp mới.

Khoảng 25 lao động/doanh nghiệp

Thiếu hụt nhân lực logistics đến năm 2030, kịch bản thấp.

1.028.257 người

Thiếu hụt nhân lực logistics đến năm 2030, kịch bản trung bình.

1.046.261 người

Thiếu hụt nhân lực logistics đến năm 2030, kịch bản cao.

1.057.930 người

Nhu cầu bổ sung nhân lực chất lượng cao.

Khoảng 200.000 người

Doanh nghiệp có nhu cầu tuyển thêm 15%-20% lao động.

50%

Lao động được đào tạo bài bản về logistics.

5%-7%

Nhân lực thông thạo tiếng Anh.

4%

Doanh nghiệp đào tạo lại nhân viên.

30%

Doanh nghiệp hài lòng với trình độ nhân viên.

6,7%

Doanh nghiệp tự bồi dưỡng nhân viên qua công việc thực tế.

85,7%

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo Logistics Việt Nam (2025).

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Nghiên cứu đánh giá thực trạng chất lượng HTTTKT tại các DNNVV trong lĩnh vực logistics, qua đó cho thấy hệ thống đã có những cải thiện nhất định nhờ tiến trình hoàn thiện pháp lý, mở rộng ứng dụng công nghệ và nâng cao nhận thức quản trị. Tuy nhiên, chất lượng HTTTKT vẫn chưa đồng đều và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị hiện đại do 3 hạn chế chính. Thứ nhất, về công nghệ, hệ thống còn rời rạc, phần mềm kế toán chưa được tích hợp hiệu quả với các hệ thống vận hành như: TMS, WMS, OMS hoặc CRM, dẫn đến dữ liệu kế toán và dữ liệu logistics bị phân tán. Thứ hai, về quy trình, nhiều nghiệp vụ kế toán - logistics chưa được chuẩn hóa, dẫn đến hệ quả là HTTTKT tại nhiều DNNVV logistics còn phân mảnh, thiếu tính kịp thời, chưa bảo đảm độ chính xác và hạn chế trong việc hỗ trợ ra quyết định quản trị cũng như đáp ứng yêu cầu hội nhập. Thứ ba, về con người, nhiều doanh nghiệp còn thiếu nhân sự chất lượng cao khiến khả năng khai thác và đảm bảo chất lượng HTTTKT còn hạn chế.

Để nâng cao chất lượng HTTTKT trong các DNNVV ngành logistics, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, doanh nghiệp cần tập trung chuẩn hóa quy trình kế toán và quản trị dữ liệu, bảo đảm tính toàn vẹn, truy vết và kết nối giữa các hệ thống nghiệp vụ. Cần ưu tiên đầu tư công nghệ theo hướng tích hợp và linh hoạt, lựa chọn phần mềm kế toán có khả năng kết nối API, hỗ trợ lập báo cáo theo IFRS và vận hành trên nền tảng điện toán đám mây để tiết kiệm chi phí. Cùng với đó, phát triển nguồn nhân lực kế toán - công nghệ là yếu tố quyết định, giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả dữ liệu và gia tăng giá trị thông tin cho quản trị. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần bổ sung, hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ, hướng dẫn chi tiết lộ trình áp dụng chuẩn mực quốc tế và tiêu chuẩn kỹ thuật dữ liệu cho khối DNNVV. Không chỉ thế, việc xây dựng văn hóa tổ chức dựa trên dữ liệu và minh bạch thông tin sẽ tạo nền tảng bền vững giúp DNNNVV ngành logistics không chỉ nâng cao chất lượng HTTTKT mà còn củng cố năng lực cạnh tranh trong môi trường kinh tế số và hội nhập toàn cầu.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Công Thương (2023). Báo cáo Logistics Việt Nam 2023: Chuyển đổi số trong logistics. Nxb Công Thương.

2. Bộ Công Thương (2025). Báo cáo Logistics Việt Nam 2025: Logistic thông minh. Nxb Công Thương.

3. Bộ Tài chính (2016). Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/8/2016 hướng dẫn chế độ kế toán DNNVV.

4. Chính phủ (2016). Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán.

5. Đặng Thị Thúy Hà (2017). Hoàn thiện HTTTKT tại các doanh nghiệp logistics ở Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân.

6. ISA 315 (2019. Identifying and Assessing the Risks of Material Misstatement. International Federation of Accountants.

7. Kusumawardhani, F. K., Ratmono, D., Wibowo, S. T., Darsono, D., Widyatmoko, S., & Rokhman, N. (2024). The impact of digitalization in accounting systems on information quality, cost reduction and decision making: Evidence from SMEs. International Journal of Data and Network Science, 8(2), 1111-1116.

8. Monteiro, A. M., Vale, J. M., Cepêda, C. M., & de Almeida Leite, E. M. (2021). Internal control system quality and decision-making success: The role of financial information quality. Universal Journal of Accounting and Finance, 8(10), 3310-3322.

9. Nguyễn Ngọc Kim Ngân (2023). Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người sử dụng HTTTKT. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

10. Quốc hội (2015). Luật Kế toán, số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015.

11. Romney, M., Steinbart, P., Mula, J., McNamara, R., & Tonkin, T. (2012). Accounting information systems Australasian edition. Pearson Higher Education AU.

12. Samujh, R. H., & Devi, S. S. (2008). Professional accountants enabling SMEs reach their potential. In International Colloquium on Asian Business, Bangkok, Thailand, 30, 1-25.

Ngày nhận bài: 2/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 4/5/2026; Ngày duyệt đăng: 20/5/2026

Các tin khác

Trí tuệ nhân tạo và cạnh tranh chiến lược trong ngành kiểm toán tại Việt Nam: 
Nghiên cứu so sánh giữa các công ty Big Four

Trí tuệ nhân tạo và cạnh tranh chiến lược trong ngành kiểm toán tại Việt Nam: Nghiên cứu so sánh giữa các công ty Big Four

Các tập đoàn thuộc nhóm Big Four (Deloitte, PwC, EY, KPMG) hiện đóng vai trò dẫn dắt khi đầu tư nguồn vốn khổng lồ vào các hệ thống AI độc quyền, từ đó định hướng lộ trình phát triển tương lai cho toàn ngành.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng kế toán chi phí dựa trên hoạt động và tác động đến hiệu quả của các doanh nghiệp Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng kế toán chi phí dựa trên hoạt động và tác động đến hiệu quả của các doanh nghiệp Việt Nam

Phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC) được xem là một trong những đổi mới quan trọng trong kế toán quản trị, cho phép phân bổ chi phí dựa trên các tác nhân gây chi phí, từ đó nâng cao độ chính xác của thông tin chi phí so với các phương pháp truyền thống.
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng kế toán quản trị tại các trường đại học ngoài công lập ở TP. Hải Phòng

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng kế toán quản trị tại các trường đại học ngoài công lập ở TP. Hải Phòng

Tại TP. Hải Phòng - một trung tâm giáo dục lớn của khu vực phía Bắc - yêu cầu đổi mới phương thức quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đặt ra nhu cầu cấp thiết trong việc tăng cường áp dụng kế toán quản trị tại các cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập.
Các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam

kế toán quản trị chiến lược (SMA) được xem là một công cụ hữu hiệu, cung cấp thông tin mang tính chiến lược, tích hợp cả yếu tố nội bộ và bên ngoài, hướng tới tương lai và hỗ trợ nhà quản trị trong việc hoạch định và kiểm soát chiến lược
Ứng dụng công nghệ số trong công tác kế toán doanh nghiệp: Thực trạng và giải pháp

Ứng dụng công nghệ số trong công tác kế toán doanh nghiệp: Thực trạng và giải pháp

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu trong hoạt động của các doanh nghiệp trên toàn thế giới. Theo đó, các công nghệ số không chỉ làm thay đổi mô hình kinh doanh mà còn tác động sâu sắc đến các chức năng quản trị, đặc biệt là công tác kế toán.
Vai trò trung gian của chất lượng thông tin tài chính trong mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp, chuyển đổi số kế toán và hiệu quả hoạt động bền vững

Vai trò trung gian của chất lượng thông tin tài chính trong mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp, chuyển đổi số kế toán và hiệu quả hoạt động bền vững

Trong bối cảnh kinh tế biến động và các yêu cầu về phát triển bền vững ngày càng gia tăng, doanh nghiệp không chỉ hướng đến lợi nhuận ngắn hạn mà còn phải chú trọng hiệu quả hoạt động dài hạn
So sánh Chuẩn mực kế toán công Việt Nam và Chuẩn mực kế toán công quốc tế

So sánh Chuẩn mực kế toán công Việt Nam và Chuẩn mực kế toán công quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công, việc xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán công phù hợp với thông lệ quốc tế đang trở thành xu hướng tất yếu tại nhiều quốc gia
Tác động của chuyển đổi số đến phát triển bền vững của các doanh nghiệp tại Đồng Nai: Vai trò trung gian của kế toán quản trị môi trường

Tác động của chuyển đổi số đến phát triển bền vững của các doanh nghiệp tại Đồng Nai: Vai trò trung gian của kế toán quản trị môi trường

Chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng giúp doanh nghiệp cân bằng giữa tăng trưởng và phát triển bền vững. Tại Đồng Nai - địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp lớn - quá trình này có ý nghĩa đặc biệt trong đáp ứng yêu cầu ESG, giảm tác động môi trường, song vẫn đối mặt với nhiều rào cản về quản trị nội bộ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính các doanh nghiệp niêm yết: Nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Đồng Nai

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính các doanh nghiệp niêm yết: Nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Đồng Nai

Trong bối cảnh hội nhập và phát triển thị trường vốn, chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ nguồn lực mà còn tác động đến niềm tin của thị trường.
Quản trị chiến lược trong khu vực công từ góc độ lập kế hoạch kiểm toán trung hạn

Quản trị chiến lược trong khu vực công từ góc độ lập kế hoạch kiểm toán trung hạn

Những năm gần đây, yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công, tăng cường trách nhiệm giải trình và sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của quá trình cải cách khu vực công. Trong bối cảnh đó, quản trị chiến lược được xem là công cụ quan trọng giúp các cơ quan nhà nước xác định mục tiêu dài hạn, phân bổ nguồn lực hợp lý và nâng cao hiệu quả hoạt động.