Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công trong nông, lâm nghiệp và thủy sản của TP. Hải Phòng

Nghiên cứu - Trao đổi 11:06 | 18/07/2026
Đầu tư công vào hạ tầng nông thôn, giao thông, nghiên cứu và phát triển là một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp và giảm nghèo ở các nước đang phát triển.

Lê Thị Phương Chi

Phòng Kinh tế, UBND xã Hùng Thắng, TP. Hải Phòng

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu này đánh giá thực trạng và hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của TP. Hải Phòng giai đoạn 2020-2024 thông qua chỉ số ICOR, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trong giai đoạn tới. Kết quả cho thấy, mặc dù vốn đầu tư công cho nông, lâm nghiệp và thủy sản có xu hướng không ổn định và chiếm tỷ trọng rất nhỏ (dưới 0,5% tổng đầu tư công toàn Thành phố), nhưng hiệu quả sử dụng vốn lại tương đối tốt so với đầu tư ngoài khu vực công. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng khu vực này có xu hướng giảm dần và thậm chí âm vào năm 2024, phản ánh áp lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ trong bối cảnh công nghiệp hóa nhanh của Thành phố.

Từ khóa: Đầu tư công, hiệu quả đầu tư, ICOR, nông lâm nghiệp và thủy sản, Hải Phòng

Mã JEL: E22, E23, H54

Abstract

This study evaluates the current situation and effectiveness of public investment in the agriculture, forestry, and fisheries sector in Hai Phong City during the 2020-2024 period using the Incremental Capital-Output Ratio (ICOR), and proposes several solutions to improve investment efficiency in the coming years. The findings indicate that although public investment in agriculture, forestry, and fisheries has been unstable and accounted for only a very small proportion of the City's total public investment (less than 0.5%), its investment efficiency has been relatively high compared with that of the non-public sector. However, the growth rate of this sector has gradually declined and even turned negative in 2024, reflecting the strong pressure of economic restructuring amid the City's rapid industrialization.

Keywords: Public investment, investment efficiency, Incremental Capital-Output Ratio (ICOR), agriculture, forestry and fisheries, Hai Phong

JEL classification: E22, E23, H54

ĐẶT VẤN ĐỀ

TP. Hải Phòng là trung tâm kinh tế - công nghiệp - thương mại hàng đầu của vùng Duyên hải Bắc Bộ và cả nước, với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) liên tục ở mức cao, đạt bình quân hơn 11%/năm trong giai đoạn 2020-2024 (Thống kê TP. Hải Phòng, 2025). Hải Phòng có tiềm năng lớn trong phát triển thủy sản và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đặc biệt tại các khu vực ngoại thành, như Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Cát Hải và đảo Cát Bà. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020-2025 đã xác định, phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu là một trong những định hướng chiến lược của Thành phố (UBND TP. Hải Phòng, 2025). Trong bối cảnh đó, đầu tư công đóng vai trò vốn mồi không thể thiếu cho sự phát triển khu vực nông, lâm, thủy sản (NLTS), đặc biệt là trong đầu tư kết cấu hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng, cảng cá và các cơ sở logistics nông sản.

Giai đoạn 2020-2024, tổng vốn đầu tư công toàn TP. Hải Phòng tăng mạnh, đạt bình quân 109,85%/năm (theo giá hiện hành), phần lớn tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ; trong đó, đầu tư hạ tầng giao thông và khu công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (Thống kê TP. Hải Phòng, 2025). Phần vốn đầu tư công dành cho NLTS chiếm tỷ trọng rất nhỏ và có xu hướng không ổn định. Điều này đặt ra vấn đề làm sao để tăng cường hiệu quả đầu tư công cho khu vực NLTS trong bối cảnh nguồn lực hạn chế.

Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và hiệu quả đầu tư công trong NLTS của TP. Hải Phòng giai đoạn 2020-2024, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công cho khu vực này trong giai đoạn tới.

TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tỏng quan nghiên cứu

Đầu tư công và hiệu quả đầu tư công trong nông nghiệp đã được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm từ nhiều góc độ. Các nghiên cứu quốc tế thống nhất rằng đây là khoản đầu tư thiết yếu, không thể thay thế bởi khu vực tư nhân. Renkow (2010) chỉ ra rằng, đầu tư công vào hạ tầng nông thôn, giao thông, nghiên cứu và phát triển (R&D) là một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp và giảm nghèo ở các nước đang phát triển tại châu Á và Trung Đông. Qua đánh giá các chương trình đầu tư tại Zambia, Haggblade (2007) khẳng định rằng vì nông nghiệp tạo ra hàng hóa công cộng mà khu vực tư nhân không thể thu lợi trực tiếp, nhà nước cần đảm nhận các khoản đầu tư về nghiên cứu kỹ thuật, hạ tầng giao thông nông thôn và tiêu chuẩn thị trường. Ở phạm vi lý luận, Quỳnh và Duy (2025) tổng quan 57 tài liệu, hệ thống hóa khái niệm hạ tầng nông nghiệp gồm 5 thành phần: hệ thống thủy lợi, giao thông nông thôn, kho chứa và cơ sở chế biến, hệ thống điện - nước sản xuất, và các cơ sở hỗ trợ khác; đồng thời nhấn mạnh cơ chế chính sách, năng lực cán bộ và nhà thầu, nguồn lực tài chính, và phương thức huy động vốn của địa phương là các nhân tố ảnh hưởng hiệu quả đầu tư công.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu sử dụng 2 cách đánh giá. Hướng thứ nhất sử dụng chỉ số ICOR để đo lường hiệu quả sử dụng vốn: Nga (2019) áp dụng chỉ số ICOR để phân tích hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực nông nghiệp ở phạm vi cả nước, còn Ninh và cộng sự (2021) vận dụng chỉ số này cho cấp tỉnh (Hòa Bình cũ, giai đoạn 2016-2020). Hướng thứ hai sử dụng hệ số hiệu quả vốn đầu tư theo sản lượng kết hợp phân tích SWOT để nghiên cứu đầu tư công cấp huyện (Lê và cộng sự, 2010), hoặc xem xét tài chính công cấp cơ sở với trọng tâm là sự tham gia đóng góp của người dân (Dung, 2010).

Cơ cấu vốn đầu tư công cho nông nghiệp tập trung chủ yếu vào hạ tầng vật chất, trong khi đầu tư cho khuyến nông, khuyến lâm, công nghệ chế biến và phát triển chuỗi giá trị còn rất hạn chế (Lê và cộng sự, 2010; Ninh, 2021). Vốn đầu tư công cho ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng đầu tư công của địa phương và phụ thuộc nhiều vào ngân sách trung ương, gây khó khăn cho tính chủ động trong triển khai (Lê và cộng sự, 2010; Ninh, 2021). Các nghiên cứu cũng đồng thuận rằng, hạn chế trong quản lý, đầu tư dàn trải, định mức thấp, thủ tục giải ngân chậm là những điểm yếu phổ biến ở cả cấp huyện nghèo (Lê và cộng sự, 2010), cấp tỉnh (Ninh, 2021) lẫn chính sách quốc gia (Vân, 2024). Kinh nghiệm quốc tế từ Indonesia cũng cho thấy các nhân tố thể chế, phân cấp ngân sách và năng lực triển khai là những cản trở chính làm chậm giải ngân vốn đầu tư công (Hùng và cộng sự, 2025).

Tổng quan cho thấy, các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào các địa phương có cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (tỉnh thuần nông hoặc huyện miền núi nghèo), hoặc phân tích ở cấp quốc gia. Chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả đầu tư công, phân tích đồng thời 3 chiều vốn (tổng vốn, vốn công, vốn ngoài khu vực công) kết hợp phân tích nguồn vốn (trung ương - địa phương) trong lĩnh vực NLTS tại một đô thị công nghiệp - cảng biển như Hải Phòng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống đó.

Phương pháp nghiên cứu

Thông tin thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê TP. Hải Phòng năm 2024, các báo cáo kinh tế - xã hội của UBND TP. Hải Phòng giai đoạn 2020-2025, cùng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đầu tư công trong lĩnh vực NLTS.

Để đo lường hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công trong NLTS, nghiên cứu sử dụng hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio - hệ số đầu tư tăng thêm) theo công thức:

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công trong nông, lâm nghiệp và thủy sản của TP. Hải Phòng

Trong đó:

Vt: Tổng vốn đầu tư công vào NLTS của năm nghiên cứu;

Gt: GRDP khu vực NLTS của năm nghiên cứu;

Gt-1: GRDP khu vực NLTS của năm trước năm nghiên cứu;

Gt: Mức tăng GRDP NLTS giữa năm nghiên cứu (t) và năm trước (t-1).

ICORn - hệ số ICOR tính theo tổng vốn đầu tư toàn xã hội vào NLTS;

ICORc - hệ số ICOR tính theo vốn đầu tư công;

ICORt - hệ số ICOR tính theo vốn đầu tư ngoài khu vực công. Hệ số ICOR thấp cho thấy hiệu quả đầu tư cao và ngược lại. Giá trị ICOR âm phản ánh tình trạng đặc biệt khi GRDP khu vực NLTS tăng trưởng âm trong năm đó.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Thực trạng đầu tư công trong nông, lâm, thủy sản của TP. Hải Phòng

Quy mô và cơ cấu vốn đầu tư vào nông, lâm, thủy sản

Giai đoạn 2020-2024, tổng vốn đầu tư vào NLTS của Hải Phòng biến động rõ rệt: giảm còn 357,14 tỷ đồng năm 2021 do COVID-19, đạt đỉnh 662,55 tỷ đồng năm 2023 rồi giảm còn 542,37 tỷ đồng năm 2024. Tốc độ phát triển bình quân (PTBQ) cả giai đoạn chỉ đạt 100,84%/năm (giá hiện hành) và 98,62%/năm (giá so sánh 2010), cho thấy đầu tư hầu như không tăng thực chất. Đáng chú ý, đầu tư công giảm về quy mô (PTBQ 98,50%/năm giá hiện hành), trong khi đầu tư ngoài khu vực công tăng nhẹ (101,16%/năm). Cơ cấu đầu tư đang dịch chuyển theo hướng tư nhân hóa, song tổng mức đầu tư vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển (Bảng 1).

Bảng 1: Thực trạng đầu tư vào nông, lâm, thủy sản của TP. Hải Phòng giai đoạn 2020-2024

(ĐVT: tỷ đồng)

Năm

Tổng VĐT NLTS (GHH)

Tổng VĐT NLTS (GSS)

VĐT công (GHH)

VĐT công (GSS)

VĐT ngoài khu vực công (GHH)

VĐT ngoài khu vực công (GSS)

2020

524,53

374,37

64,93

46,11

459,60

328,26

2021

357,14

249,75

39,37

27,27

317,77

222,48

2022

450,65

306,75

44,30

28,13

406,35

278,62

2023

662,55

429,16

83,11

53,09

579,44

376,07

2024

542,37

354,15

61,11

39,90

481,26

314,25

PTBQ (%)

100,84

98,62

98,50

96,45

101,16

98,92

Ghi chú: GHH = giá hiện hành; GSS = giá so sánh năm 2010. Vốn đầu tư công vào NLTS được ước lượng theo tỷ trọng vốn ngân sách nhà nước trong tổng vốn đầu tư thực hiện trên toàn Thành phố.

Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên Niên giám thống kê TP. Hải Phòng năm 2024

Phân bổ vốn đầu tư công trong nông, lâm, thủy sản

Đặc điểm nổi bật trong cơ cấu vốn đầu tư công tại Hải Phòng là tỷ lệ ngân sách địa phương (NSĐP) chiếm trên 96% tổng vốn đầu tư công giai đoạn 2020-2024. Đây là khác biệt căn bản so với nhiều tỉnh miền núi hay vùng khó khăn vốn phụ thuộc ngân sách Trung ương như tỉnh Hòa Bình cũ (Ninh và cộng sự, 2021). Nguồn NSĐP dồi dào từ sản xuất công nghiệp và dịch vụ cảng biển giúp Thành phố chủ động hơn trong phân bổ và triển khai dự án.

Tuy nhiên, tỷ trọng vốn đầu tư công cho NLTS trong tổng vốn đầu tư công toàn Thành phố rất thấp và có xu hướng giảm: từ 0,40% năm 2020 xuống 0,23-0,26% các năm sau, dù nhích lên 0,34% năm 2023 (Bảng 2). Trong khi tổng vốn đầu tư công toàn Thành phố tăng mạnh (PTBQ 109,85%/năm), NLTS không được hưởng lợi tương xứng, cho thấy ngân sách công chỉ dành ưu tiên thấp cho khu vực này.

Bảng 2: Phân bổ vốn đầu tư công của TP. Hải Phòng theo nguồn và lĩnh vực giai đoạn 2020-2024

Năm

Tổng vốn đầu tư công

NSTW (tỷ đồng)

NSTW (%)

NSĐP (tỷ đồng)

NSĐP (%)

Đầu tư NLTS (tỷ đồng)

NLTS (%)

2020

16.422,48

562,50

3,43

15.859,98

96,57

64,93

0,40

2021

17.219,97

376,67

2,19

16.843,30

97,81

39,37

0,23

2022

17.836,58

383,34

2,15

17.453,24

97,85

44,30

0,25

2023

24.563,83

892,57

3,63

23.671,26

96,37

83,11

0,34

2024

23.917,31

729,34

3,05

23.187,97

96,95

61,11

0,26

PTBQ (%)

109,85

106,71

-

109,96

-

98,50

-

Ghi chú: NSTW = ngân sách trung ương; NSĐP = ngân sách địa phương.

Nguồn: Ước lượng từ Niên giám thống kê TP. Hải Phòng 2024

Hiệu quả đầu tư công trong nông, lâm, thủy sản qua chỉ số ICOR

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư theo khu vực kinh tế

Để đo lường hiệu quả đầu tư vào NLTS, chỉ số ICOR được tính toán theo giá so sánh năm 2010 cho 3 nguồn vốn: tổng vốn đầu tư (ICORn), vốn đầu tư công (ICORc) và vốn đầu tư ngoài khu vực công (ICORt). Kết quả được thể hiện qua Hình 1.

Một đặc điểm đáng chú ý là ICORc luôn thấp hơn nhiều so với ICORn và ICORt trong toàn bộ giai đoạn 2020-2023. Cụ thể, ICORc dao động từ khoảng 0,3 đến 0,85, trong khi ICORn tăng từ khoảng 2,2 lên tới trên 5,0. ICORc thấp hơn ICORt cho thấy vốn đầu tư công có xu hướng hỗ trợ tăng trưởng NLTS hiệu quả hơn tương đối so với khu vực ngoài công, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn công khá tốt trong bối cảnh nguồn vốn này nhỏ và tập trung vào hạ tầng thiết yếu.

Tuy nhiên, xu hướng chung của ICORn và ICORt là tăng dần (xấu đi) từ 2020 đến 2023, từ mức lần lượt khoảng 2,2 và 1,9 năm 2020 lên 5,0 và 4,4 năm 2023. Điều này cho thấy hiệu quả tổng thể của đầu tư vào NLTS tại Hải Phòng đang suy giảm, bất chấp đà tăng của vốn đầu tư tư nhân. Nguyên nhân có thể là do khu vực NLTS phải cạnh tranh gay gắt với công nghiệp và dịch vụ trong huy động lao động và đất đai, trong khi đầu tư chưa đủ sức tạo ra đột phá về năng suất và chuỗi giá trị.

Đặc biệt, vào năm 2024, toàn bộ các chỉ số ICOR đều chuyển sang giá trị âm do GRDP khu vực NLTS tăng trưởng âm (-3,40%), phản ánh sự suy giảm của khu vực NLTS trong năm này. Đây là năm đặc thù do một số yếu tố bất lợi như hạn hán, dịch bệnh trên vật nuôi và sự thu hẹp diện tích canh tác do chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Giá trị ICOR âm không mang ý nghĩa hiệu quả hay kém hiệu quả theo nghĩa thông thường mà phản ánh hoàn cảnh đặc biệt khi sản lượng giảm bất chấp vẫn có dòng vốn đầu tư vào khu vực.

Hình 1: Chỉ số ICOR trong nông, lâm, thủy sản phân theo khu vực kinh tế của TP. Hải Phòng giai đoạn 2020-2024 (tính theo giá so sánh năm 2010)

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công trong nông, lâm nghiệp và thủy sản của TP. Hải Phòng

Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê TP. Hải Phòng 2024

Ảnh hưởng của đầu tư công trong NLTS tới tăng trưởng và giảm nghèo

Mặc dù tỷ trọng đầu tư công trong NLTS nhỏ, những tác động lan tỏa của nó đến tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo là đáng ghi nhận. Số liệu tổng hợp trong Bảng 3 cho thấy, giai đoạn 2020-2024, GRDP toàn Thành phố tăng trưởng cao liên tục (10,61%-12,86%/năm), trong đó khu vực NLTS tuy chỉ tăng nhẹ (2,40%-1,11%) và âm năm 2024 nhưng đã góp phần duy trì an ninh lương thực và tạo việc làm cho lao động nông thôn. Đặc biệt, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của Thành phố giảm mạnh từ 0,90% năm 2020 xuống chỉ còn 0,10% năm 2024 - một trong những mức thấp nhất cả nước, gắn liền với tác động tích lũy của các chương trình đầu tư công vào hạ tầng nông thôn và hỗ trợ sinh kế.

Bảng 3: Đầu tư công trong nông, lâm, thủy sản với tăng trưởng và giảm nghèo của TP. Hải Phòng

Chỉ tiêu

ĐVT

2020

2021

2022

2023

2024

Vốn đầu tư công trong NLTS (GSS 2010)

Tỷ đồng

46,11

27,27

28,13

53,09

39,90

Vốn đầu tư công trong NLTS (GHH)

Tỷ đồng

64,93

39,37

44,30

83,11

61,11

Tỷ trọng vốn đầu tư công NLTS/Tổng vốn đầu tư NLTS (GSS)

%

12,32

10,92

9,17

12,37

11,27

Tốc độ tăng GRDP toàn Thành phố (GSS 2010)

%

10,61

12,86

10,38

10,21

11,01

Tốc độ tăng GRDP khu vực NLTS (GSS 2010)

%

2,40

1,41

1,22

1,11

-3,40

Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều

%

0,90

0,80

0,60

0,30

0,10

Ghi chú: GHH = giá hiện hành; GSS = giá so sánh năm 2010.

Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê TP. Hải Phòng 2024.

Một số thành tựu và hạn chế về đầu tư công trong nông, lâm, thủy sản của Hải Phòng

Những thành tựu đạt được

Vốn đầu tư công, dù chiếm tỷ trọng nhỏ, đã có đóng góp quan trọng cho việc cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng NLTS của Thành phố. Các công trình thủy lợi, đê điều, cảng cá và giao thông nội đồng được nâng cấp, tu sửa đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, đặc biệt tại các khu vực ven biển như Tiên Lãng, Kiến Thụy và Cát Hải. Nhờ nguồn vốn công, hệ thống đê biển, đê sông của Thành phố được củng cố, đảm bảo khả năng phòng chống thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu cho khu vực sản xuất NLTS.

Đầu tư công là vốn mồi quan trọng thu hút đầu tư của khu vực tư nhân vào NLTS. Tỷ trọng vốn đầu tư ngoài khu vực công trong NLTS duy trì ở mức cao (trên 87-90% tổng vốn đầu tư vào NLTS), cho thấy các dự án hạ tầng do Nhà nước đầu tư đã cải thiện điều kiện kinh doanh và khuyến khích đầu tư tư nhân. Hải Phòng cũng là địa phương có tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công thuộc nhóm cao nhất cả nước, đạt gần 100% kế hoạch (Vân, 2024), thể hiện năng lực quản lý và thực thi đầu tư công tốt.

Về mặt xã hội, đầu tư công vào NLTS đã góp phần quan trọng trong chương trình xây dựng nông thôn mới. Đến cuối năm 2024, 100% số xã của TP. Hải Phòng đạt chuẩn nông thôn mới, nhiều xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống chỉ còn 0,10% - thấp nhất trong các thành phố lớn cả nước. Hệ số ICORc thấp (0,3-0,85) phản ánh hiệu quả tương đối cao của từng đồng vốn công được đầu tư vào NLTS.

Hạn chế và nguyên nhân

Tỷ trọng vốn đầu tư công dành cho NLTS trong tổng đầu tư công của Thành phố còn rất thấp (dưới 0,5%), không tương xứng với tiềm năng phát triển của khu vực này, đặc biệt trong bối cảnh Hải Phòng có thế mạnh về thủy sản, nông nghiệp công nghệ cao và du lịch nông thôn gắn với sinh thái biển. Tốc độ tăng trưởng GRDP khu vực NLTS liên tục giảm từ 2020 đến 2024, phản ánh áp lực cạnh tranh đất đai, lao động với các ngành công nghiệp và dịch vụ.

Vốn đầu tư công chủ yếu tập trung vào hạ tầng truyền thống (đê điều, thủy lợi, giao thông) mà chưa đủ mạnh cho các lĩnh vực tạo đột phá như: ứng dụng công nghệ cao trong nuôi trồng thủy sản và trồng trọt, chế biến sâu, logistics nông sản, cơ sở nghiên cứu và chuyển giao giống mới. Quy mô vốn đầu tư công cho mỗi dự án còn nhỏ, dàn trải nên khó tạo ra hiệu ứng lan tỏa và đột phá.

Sự suy giảm GRDP NLTS năm 2024 (-3,40%) là tín hiệu cảnh báo về nguy cơ tụt hậu của khu vực này nếu không có chính sách đầu tư hỗ trợ kịp thời và đủ lớn. Nguyên nhân cơ bản bao gồm: diện tích đất sản xuất NLTS tiếp tục bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng; lực lượng lao động nông nghiệp di chuyển sang các khu công nghiệp; biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường biển gia tăng áp lực lên nuôi trồng thủy sản; và thiếu cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư công nghệ cao vào nông nghiệp.

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG TRONG NÔNG, LÂM, THỦY SẢN CỦA TP. HẢI PHÒNG

Thứ nhất, tăng tỷ trọng và ổn định hóa nguồn vốn đầu tư công cho NLTS. Thành phố cần ban hành chính sách phân bổ ngân sách đầu tư công cho NLTS theo hướng tăng dần, đạt ít nhất 1-2% tổng vốn đầu tư công trong trung hạn. Đặc biệt ưu tiên các dự án hạ tầng thủy sản ven biển, hạ tầng logistics nông sản và hệ thống cảng cá hiện đại tương xứng với tiềm năng kinh tế biển của Thành phố.

Thứ hai, tái cơ cấu đầu tư công theo hướng tăng hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng. Bên cạnh duy trì đầu tư vào hạ tầng truyền thống, cần dành một phần vốn đáng kể hơn cho: nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao trong nuôi tôm, cá biển; phát triển các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Vĩnh Bảo, Tiên Lãng; đầu tư vào hệ thống phòng thí nghiệm giống và kiểm soát dịch bệnh.

Thứ ba, đổi mới cơ chế quản lý và thu hút đầu tư. Cần hoàn thiện quy chế thẩm định và phê duyệt dự án theo hướng thực chất và nhanh hơn, ưu tiên các dự án có tác động lan tỏa rộng và khả năng thu hút đầu tư tư nhân cao. Xây dựng và triển khai cơ chế đối tác công tư (PPP) trong nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến thủy sản, logistics và phát triển thương hiệu nông sản Hải Phòng.

Thứ tư, gắn đầu tư công trong NLTS với chiến lược phát triển kinh tế biển và du lịch xanh. Hải Phòng có lợi thế đặc biệt với quần đảo Cát Bà, vùng đầm phá và rừng ngập mặn. Đầu tư công cần được thiết kế để hỗ trợ các mô hình kinh tế biển bền vững như nuôi trồng thủy sản sinh thái, du lịch nông thôn, kết hợp bảo vệ môi trường - tạo ra giá trị kinh tế cao và bền vững hơn.

KẾT LUẬN

Hải Phòng là đô thị có năng lực kinh tế mạnh, tốc độ phát triển cao và nguồn thu ngân sách dồi dào, nhưng khu vực NLTS lại nhận được phần vốn đầu tư công rất nhỏ (dưới 0,5% tổng đầu tư công toàn Thành phố) và không ổn định. Trong giai đoạn 2020-2024, tốc độ tăng trưởng GRDP khu vực NLTS giảm liên tục và âm vào năm 2024, cho thấy áp lực chuyển đổi cơ cấu kinh tế đang tác động mạnh đến khu vực này.

Về hiệu quả đầu tư, hệ số ICORc (tính theo vốn đầu tư công) duy trì ở mức thấp nhưng ổn định trong giai đoạn 2020-2023, cho thấy từng đồng vốn công đầu tư vào NLTS tạo ra giá trị tăng thêm cao hơn đáng kể so với đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, xu hướng tăng của ICORn và ICORt cho thấy hiệu quả tổng thể đang suy giảm, đòi hỏi cải thiện chất lượng đầu tư tư nhân thông qua cơ chế khuyến khích và dẫn dắt từ đầu tư công. Năm 2024, tất cả các chỉ số ICOR đều âm do GRDP khu vực NLTS tăng trưởng âm, là tín hiệu cảnh báo cần chính sách ứng phó kịp thời.

Để nâng cao hiệu quả đầu tư công trong NLTS, TP. Hải Phòng cần tăng và ổn định hóa tỷ trọng vốn đầu tư công cho khu vực này, tái cơ cấu theo hướng công nghệ cao và giá trị gia tăng, đổi mới cơ chế PPP và gắn đầu tư NLTS với chiến lược kinh tế biển bền vững. Đây không chỉ là đòi hỏi của phát triển kinh tế bền vững mà còn là trách nhiệm xã hội trong đảm bảo sinh kế, môi trường và an ninh lương thực cho cộng đồng dân cư tại các huyện ngoại thành và ven biển của Thành phố.

Tài liệu tham khảo:

1. Haggblade, S. (2007). Returns to Investment in Agriculture. Policy Synthesis, No. 19, Food Security Research Project, Lusaka, Zambia.

2. Hồ Ngọc Ninh, Trần Tuấn Sơn và Đỗ Hải Hồ (2021). Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công trong nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 291(2), 67-77.

3. Kim Thị Dung (2010). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tài chính công cấp cơ sở và đóng góp của dân trong tài chính công cấp cơ sở, Tạp chí Khoa học và Phát triển, 8(3), 529-537.

4. Nguyễn Mạnh Hùng, Đặng Hoàng Mai và Nguyễn Thế Quân (2025). Giải ngân vốn đầu tư công trong các dự án đầu tư xây dựng tại Indonesia (2015-2024): Các nhân tố ảnh hưởng và bài học kinh nghiệm phù hợp cho Việt Nam. Tạp chí Vật liệu & Xây dựng, 15(4).

5. Nguyễn Phượng Lê, Trần Thị Như Ngọc và Phạm Thị Thanh Thúy (2010). Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công cho phát triển kinh tế huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Tạp chí Khoa học và Phát triển, 8(3), 538-548.

6. Nguyễn Thị Hải Vân (2024). Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đầu tư công. Tạp chí Quản lý Nhà nước, Số 340 (tháng 5/2024), 121-126.

7. Nguyễn Thị Ngọc Nga (2019). Hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam. Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Hà Nội.

8. Phạm Thị Quỳnh và Lưu Văn Duy (2025). Đầu tư công cho phát triển hạ tầng nông nghiệp: Tổng quan một số vấn đề lý luận. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 23(6), 802-812,

9. Renkow, M. (2010). Priorities for Public Investment in Agriculture and Rural Areas. Impact Assessment Brief, GRP-3, International Food Policy Research Institute (IFPRI), Washington D.C.

10. Thống kê TP. Hải Phòng (2025). Niên giám thống kê TP. Hải Phòng 2024.

11. UBND TP. Hải Phòng (2025). Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và kế hoạch năm 2026.

Ngày nhận bài: 13/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/7/2026; Ngày duyệt đăng: 15/7/2026

Các tin khác

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Trong thời gian qua, việc phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn TP. Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may, chiến lược định giá bán không chỉ quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, vị thế cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế số và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có không gian kinh tế rộng, cơ cấu ngành đa dạng với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, kinh tế số và khu vực kinh tế tư nhân tại nhiều địa phương trong Vùng đã có những bước phát triển tích cực.
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc gia ngày càng gia tăng, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước trở thành một yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Du lịch biển đảo là một bộ phận quan trọng của kinh tế du lịch và kinh tế biển, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng thông qua lưu trú, vận tải, ẩm thực, vui chơi giải trí, thương mại, dịch vụ sáng tạo và tiêu dùng văn hóa.
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Trong những năm gần đây, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ tiếp tục được cụ thể hóa và hoàn thiện. Đặc biệt, trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Chuyển đổi số thông qua việc áp dụng hệ thống quản trị kho bãi, quản lý vận tải, định vị tự động và dữ liệu lớn… được xem là giải pháp mang tính chiến lược để các doanh nghiệp logistics cắt giảm chi phí và tăng cường năng lực cạnh tranh.