Nâng cao hiệu quả đầu tư trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam
Lê Minh Thống
Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Email: [email protected]
Lê Mạnh Cường
Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam
Tóm tắt
Bài viết phân tích thực trạng chuyển dịch đầu tư của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam, chỉ ra các kết quả đạt được, những thách thức cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư dịch chuyển đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững và cam kết quốc tế của Việt Nam.
Từ khóa: Chuyển dịch năng lượng, chuyển dịch đầu tư, hiệu quả đầu tư, năng lượng xanh
Summary
This paper analyzes the current state of investment transition at the Vietnam National Industry and Energy Group, highlighting achieved outcomes, existing challenges, and proposing solutions to enhance the efficiency of investment transitions. These measures aim to align with Viet Nam’s sustainable development goals and international commitments.
Keywords: Energy transition, investment transition, investment efficiency, green energy
GIỚI THIỆU
Quá trình chuyển dịch năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng sạch, carbon thấp là một nhiệm vụ chiến lược đối với Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN). Tập đoàn đã chủ động xây dựng chiến lược mở rộng không gian phát triển sang các lĩnh vực mũi nhọn truyền thống, song song với việc khai phá tiềm năng từ các lĩnh vực năng lượng mới như: điện gió, hydrogen, ammoniac, LNG và chế tạo thiết bị năng lượng tái tạo. Mặc dù đã có những thành công nhất định trong quá trình chuyển dịch đầu tư gần đây nhưng nhìn chung vẫn đang bị kìm hãm do các rào cản mang tính hệ thống. Để thực sự trở thành một tập đoàn công nghiệp - năng lượng Quốc gia, thời gian tới, cần có sự thay đổi và cải cách thể chế vĩ mô, đặc biệt là cơ chế tài chính và sự quyết liệt tái cấu trúc quản trị nội bộ, công nghệ và con người.
TỔNG QUAN VỀ DỊCH CHUYỂN ĐẦU TƯ VÀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ NĂNG LƯỢNG
Chuyển dịch năng lượng là quá trình chuyển đổi hệ thống năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch sang các nguồn năng lượng tái tạo, sạch, ít phát thải carbon, nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững. Nội dung cốt lõi của quá trình này là chuyển dịch cơ cấu đầu tư năng lượng - tức là sự điều chỉnh chiến lược phân bổ vốn đầu tư, nhằm thay đổi tỷ trọng đầu tư từ các dự án truyền thống (dầu khí, than) sang các lĩnh vực năng lượng sạch, số hóa năng lượng và công nghệ carbon thấp. Quá trình chuyển dịch năng lượng về bản chất là một cuộc tái phân bổ vốn đầu tư khổng lồ, đòi hỏi phải thay đổi căn bản mô hình kinh doanh và đối mặt nhiều rủi ro do hoạt động đầu tư trong lĩnh vực dầu khí truyền thống (O&G) và năng lượng tái tạo (NLTT) có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật rất khác biệt.
Đầu tư O&G, đặc biệt ở khâu thượng nguồn (E&P), đặc trưng bởi chi phí vốn đầu tư ban đầu (Capex) cực lớn, có thể lên đến hàng tỷ USD cho một dự án nước sâu, xa bờ. Vòng đời dự án rất dài, thường kéo dài từ 20-30 năm. Rủi ro lớn nhất tập trung ở giai đoạn đầu - rủi ro địa chất, nhưng nếu thành công, dự án sẽ tạo ra dòng tiền rất lớn và ổn định trong nhiều thập kỷ. Ngược lại, đầu tư NLTT (như điện gió, điện mặt trời) có thể linh hoạt hơn về quy mô Capex, cho phép đầu tư theo từng mô-đun với vòng đời dự án ngắn hơn đáng kể. Rủi ro địa chất gần như bằng không, nhưng lại phải đối mặt với các rủi ro thị trường và rủi ro chính sách nghiêm trọng. Sự thành bại của một dự án NLTT phụ thuộc gần như hoàn toàn vào các yếu tố bên ngoài như sự ổn định của cơ chế giá, các điều khoản trong hợp đồng mua bán điện (PPA), khả năng vay vốn ngân hàng và năng lực hấp thụ của lưới điện quốc gia.
Chuyển dịch đầu tư năng lượng là chiến lược quan trọng giúp đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia thông qua việc gia tăng tỷ trọng năng lượng nội địa và đa dạng hóa nguồn cung; ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện cam kết Net Zero 2050; phát triển công nghệ và hình thành các ngành công nghiệp năng lượng thế hệ mới; thu hút dòng vốn quốc tế từ thị trường tài chính xanh.
Thế giới đang chứng kiến sự chuyển dịch lịch sử trong đầu tư năng lượng. Năm 2024 đánh dấu một cột mốc quan trọng khi đầu tư năng lượng sạch lần đầu tiên vượt quá đầu tư nhiên liệu hóa thạch, với tỷ lệ khoảng 2:1. Cụ thể, Báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA, 2025) chỉ ra rằng, tổng vốn đầu tư vào năng lượng toàn cầu năm 2025 dự kiến đạt kỷ lục 3.300 tỷ USD. Trong đó, dòng vốn đầu tư cho năng lượng sạch dự kiến đạt 2.200 tỷ USD, cao gấp đôi so với 1.100 tỷ USD đầu tư vào nhiên liệu hóa thạch truyền thống.
Chuyển dịch đầu tư trong lĩnh vực năng lượng tại Việt Nam đang được thúc đẩy mạnh mẽ nhờ các chính sách quốc gia như Luật Điện lực năm 2024, Quy hoạch điện VIII, Cam kết COP26 về trung hòa carbon vào năm 2050 và Quan hệ đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng JETP với mục tiêu huy động tới 15,5 tỷ USD vốn quốc tế. Xu hướng này là tất yếu nhằm giảm sự phụ thuộc dầu khí và than, tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo như điện gió ngoài khơi, LNG và hydro xanh.
Luật Điện lực năm 2024 được Quốc hội phê duyệt ngày 30/11/2024 và có hiệu lực từ ngày 1/2/2025 đánh dấu sự thay đổi lớn nhất trong quy định điện lực Việt Nam. Theo đó, cơ chế thỏa thuận mua bán điện trực tiếp cho phép những nhà máy điện từ NLTT bán điện trực tiếp cho những người tiêu dùng lớn mà không cần qua công ty điện lực Việt Nam. Ưu đãi đầu tư cho điện gió ngoài khơi, phát triển năng lượng mới như hydro xanh, amonia xanh, khuyến khích kết hợp NLTT với hệ thống lưu trữ năng lượng, thị trường điện cạnh tranh cho phép mở rộng cơ chế thị trường bán buôn điện.
Quy hoạch điện VIII thiết lập các mục tiêu rõ ràng, trong đó mục tiêu là đạt công suất 6 GW điện gió ngoài khơi đến năm 2030 và 70-91 GW đến năm 2050. Kế hoạch này ưu tiên phát triển các dự án NLTT quy mô lớn kết hợp với hệ thống lưu trữ năng lượng để đảm bảo ổn định lưới điện. Định hướng xanh hóa cơ cấu nguồn điện, phát triển mạnh điện gió, điện mặt trời, nhiệt điện khí LNG. Mục tiêu đến năm 2050, khoảng 70% tổng công suất điện đến từ nguồn tái tạo.
Việt Nam cam kết mục tiêu trung hòa carbon đến 2050 với 47% NLTT trong tổng phát điện đến 2030. Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định hướng chuyển từ ngành Dầu khí sang Công nghiệp - Năng lượng quốc gia, yêu cầu PVN định hướng đầu tư dài hạn vào năng lượng xanh.
Các chính sách này tạo cơ hội mở rộng thị trường cho các lĩnh vực mà PVN có tiềm năng (LNG, điện gió ngoài khơi), tuy nhiên chúng cũng tạo ra áp lực, yêu cầu Tập đoàn phải thực hiện vai trò tiên phong, đầu tư vào các lĩnh vực có rủi ro rất cao và khung pháp lý còn chưa hoàn chỉnh.
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP - NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA VIỆT NAM
Kết quả báo cáo đầu tư giai đoạn 2020-2024 cho thấy một bức tranh phản ánh vai trò kép của PVN đó là vừa phải đảm bảo an ninh năng lượng hiện tại, vừa phải chuẩn bị cho tương lai. Tổng giá trị thực hiện đầu tư trong giai đoạn này là 155.320 tỷ đồng. Kết quả các báo cáo cho thấy, gần 100% vốn được phân bổ cho các lĩnh vực cốt lõi truyền thống. Tuy nhiên, phân tích sâu hơn về mục đích của các khoản đầu tư này cho thấy sự chuyển dịch rõ nét. Giai đoạn 2020-2024 không phải là giai đoạn đầu tư mở rộng năng lượng hóa thạch, mà là giai đoạn đầu tư hoàn thành các dự án trong lĩnh vực truyền thống để tạo nền tảng là cầu nối chuẩn bị cho việc chuyển dịch dần sang đầu tư sang năng lượng xanh, NLTT. Cụ thể:
Đầu tư trong lĩnh vực E&P đạt tổng mức 53.730 tỷ đồng. Đây là khoản đầu tư để đảm bảo sự duy trì sản lượng và đảm bảo nền tảng tài chính cho Tập đoàn trong bối cảnh các mỏ chủ lực đang suy giảm sản lượng tự nhiên. Nguồn vốn này là bắt buộc để duy trì hoạt động và đưa vào khai thác các mỏ/công trình mới như giàn BK-21, mỏ Sư Tử Trắng Pha 2A, giàn BK-19 và BK-23 nhằm bù đắp sản lượng, duy trì tài chính cho Tập đoàn.
Lĩnh vực Công nghiệp điện đạt tổng mức 44.120 tỷ đồng. Dòng vốn khổng lồ này không dùng để xây các nhà máy điện than mới, mà thể hiện quyết tâm chính trị để giải quyết dứt điểm các dự án nhiệt điện than vốn bị chậm tiến độ kéo dài trong nhiều năm. Thành công lớn trong giai đoạn này là đã đưa vào vận hành thương mại thành công 2 dự án lớn là Nhà máy nhiệt điện Sông Hậu 1 (1.200 MW) và Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 (1.200 MW).
Khoản đầu tư mang tính chiến lược tương lai và quan trọng nhất của PVN trong giai đoạn này nằm ở lĩnh vực Công nghiệp khí với tổng vốn đầu tư là 20.120 tỷ đồng. Trọng tâm của khoản đầu tư này là việc hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành Dự án kho cảng LNG 1 triệu tấn/năm tại Thị Vải vào tháng 10/2023. Đây là một bước đi mang tầm nhìn chiến lược, không chỉ giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn cung khí nội địa đang suy giảm, mà còn giúp Việt Nam lần đầu tiên tiếp cận thị trường LNG toàn cầu. Kho cảng LNG Thị Vải chính là "bước đệm" và là cơ sở hạ tầng thiết yếu, tạo nền tảng cho việc phát triển các nhà máy điện khí LNG (như Nhơn Trạch 3 & 4), vốn được xem là nguồn năng lượng chuyển tiếp quan trọng nhất trong Quy hoạch điện VIII.
Thực trạng đầu tư vào năng lượng xanh của PVN mang tính đa chiều, thể hiện một chiến lược quản lý rủi ro thận trọng. Trái ngược với các lĩnh vực trên, dòng vốn đầu tư trực tiếp vào việc phát triển các dự án NLTT với tư cách là chủ đầu tư của PVN trong giai đoạn này gần như không đáng kể. Tuy nhiên, Chiến lược đầu tư xanh của PVN đang đi theo một con đường gián tiếp nhưng hiệu quả. Thay vì đối mặt với rủi ro pháp lý và thị trường khi làm chủ đầu tư dự án năng lượng xanh, PVN đang tận dụng năng lực cốt lõi và thế mạnh về cơ khí và công trình biển để trở thành nhà cung cấp dịch vụ kỹ thuật cao cho ngành điện gió ngoài khơi thông qua đơn vị thành viên như Tổng Công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC). Năng lực cơ khí chế tạo giàn khoan O&G của PTSC có thể chuyển đổi trực tiếp sang chế tạo chân đế tuabin gió và trạm biến áp ngoài khơi. Cụ thể, PTSC đã thắng thầu quốc tế, cung cấp các móng trạm biến áp cho dự án điện gió Hải Long 2&3 (1GW) tại Đài Loan (Trung Quốc) năm 2021. Đặc biệt, vào tháng 8/2024, PTSC đã ký hợp đồng quan trọng để thực hiện khảo sát cho dự án xuất khẩu NLTT từ Việt Nam sang Singapore. Đây là một chiến lược giúp PVN xây dựng năng lực, hiểu thị trường và công nghệ trước khi tự mình đảm nhận rủi ro phát triển dự án quy mô lớn. Bên cạnh đó, PVN cũng đã đưa vào các hoạt động nghiên cứu, hoạch định chiến lược dài hạn vào các lĩnh vực của tương lai như Hydro xanh, Amoniac xanh và Lưu trữ Carbon (CCS).
Giai đoạn 2020-2024, bất chấp các khó khăn về thể chế và thị trường, PVN đã đạt được những kết quả đầu tư quan trọng đó là hoàn thành các dự án còn dang dở như đưa vào vận hành thương mại thành công 2 dự án điện than bổ sung 2.400 MW công suất cho hệ thống quốc gia và giải quyết dứt điểm các vấn đề tồn đọng kéo dài. Bước đầu đầu tư xây dựng được những hạ tầng chuẩn bị cho việc dịch chuyển năng lượng từ truyền thống sang năng lượng xanh, sạch như hoàn thành Kho cảng LNG Thị Vải, tạo ra cơ sở hạ tầng LNG đầu tiên cho Việt Nam, sẵn sàng cho kỷ nguyên điện khí. Trên cơ sở những lợi thế của mình, PVN đã phát triển năng lực dịch vụ xanh và khẳng định vị thế và năng lực cạnh tranh quốc tế trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi thông qua các hợp đồng quốc tế của PTSC, chứng minh năng lực kỹ thuật cốt lõi có thể chuyển đổi thành công.
PVN tiếp tục là trụ cột không thể thay thế của nền kinh tế. PVN tiếp tục duy trì vai trò trụ cột an ninh năng lượng quốc gia đảm bảo cung cấp các mặt hàng chiến lược. PVN tiếp tục là nhà cung cấp khí cho các lĩnh vực sản xuất, điện khí của PVN chiếm 27%-29% tổng sản lượng điện quốc gia. Trong lĩnh vực cung cấp xăng dầu, sản lượng xăng dầu của PVN cung cấp cho thị trường đáp ứng 70% nhu cầu xăng dầu nội địa. Các nhà máy đạm của PVN cũng đáp ứng được 70%-75% nhu cầu urê nội địa, góp phần đảm bảo an ninh lương thực của quốc gia. Hằng năm, PVN đóng góp trung bình 9%-10% tổng thu ngân sách nhà nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình dịch chuyển đầu tư của PVN từ lĩnh vực truyền thống sang lĩnh vực năng lượng xanh cũng gặp không ít những rào cản khó khắn. Quá trình chuyển dịch đầu tư của PVN đang bị kìm hãm bởi 5 nhóm rào cản mang tính hệ thống. Đó là:
Thứ nhất, về thể chế - chính sách: Đây là rào cản lớn nhất, được các chuyên gia, nhà phân tích xác định là "khoảng trống thể chế". Việc thiếu vắng khung pháp lý hoàn chỉnh cho các lĩnh vực đầu tư mới như: chưa có Luật NLTT, chưa có cơ chế quy hoạch không gian biển, cơ chế hợp đồng mua bán điện cho điện gió ngoài khơi, Khung pháp lý cho CCS và Hydro gần như là con số không. Bên cạnh đó, các quy định quản lý đầu tư hiện hành đang được đánh giá quá phức tạp, cứng nhắc, nhiều tầng nấc, làm kéo dài thời gian phê duyệt dự án, đánh mất cơ hội đầu tư.
Thứ hai, về tài chính: Đây là rào cản mang tính cấu trúc và là "điểm nghẽn" lớn nhất. Cơ chế quản lý tài chính hiện tại không cho phép PVN giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư. Các tài liệu chỉ ra rằng, từ năm 2019, 100% lãi dầu khí và lợi nhuận từ Vietsovpetro đều phải nộp về ngân sách nhà nước. Cơ chế này lấy đi nguồn vốn đối ứng nội tại, khiến PVN không có nguồn vốn linh hoạt để đầu tư vào các dự án E&P rủi ro cao hoặc ươm mầm các dự án năng lượng mới; ngoài ra còn là gánh nặng từ các dự án kém hiệu quả trong quá khứ và áp lực từ các tiêu chuẩn tài chính xanh/ESG toàn cầu khi tìm kiếm vốn vay.
Thứ ba, về nguồn lực - thị trường: Các mỏ dầu khí chủ lực, đóng góp phần lớn doanh thu, đang trong giai đoạn suy giảm sản lượng tự nhiên nhanh chóng. Tiềm năng còn lại chủ yếu nằm ở các khu vực nước sâu, xa bờ, đòi hỏi chi phí và công nghệ cực cao, vượt quá khả năng tài chính và kỹ thuật hiện tại. Thị trường cho các sản phẩm năng lượng mới (Hydro xanh, Amoniac xanh, tín chỉ carbon) tại Việt Nam gần như chưa tồn tại. Điều này tạo ra rủi ro thương mại khổng lồ cho các quyết định đầu tư hàng tỷ USD.
Thứ tư, về kỹ thuật - công nghệ: PVN vẫn phụ thuộc lớn vào công nghệ lõi từ nước ngoài. Năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) nội tại còn yếu, bị đánh giá là "chưa xây dựng được chiến lược khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo một cách bài bản, dài hạn". Điều này cản trở khả năng hấp thụ và làm chủ các công nghệ chuyển dịch phức tạp.
Thứ năm, về tổ chức - con người: PVN hiện thiếu hụt đội ngũ nhân lực có trình độ cao... và chuyên môn sâu trong các lĩnh vực năng lượng mới như điện gió ngoài khơi, hydro, CCS. Bên cạnh đó, cơ chế lương, thưởng không đủ sức cạnh tranh để thu hút và giữ chân nhân tài công nghệ cao từ thị trường lao động quốc tế.
Năm rào cản này tạo ra một nghịch lý chính sách cốt lõi. Một mặt Nhà nước mong muốn PVN phải tối đa hóa lợi nhuận, nộp ngân sách nhưng đồng thời lại yêu cầu phải thực hiện nhiệm vụ chiến lược dài hạn liên quan đến chuyển dịch năng lượng, chống biến đổi khí hậu, thực hiện cam kết Net Zero, tức là phải đầu tư vào các dự án rủi ro cao, lợi nhuận bấp bênh mà không được cấp nguồn lực tài chính (lợi nhuận không được giữ lại). Đây chính là các thách thức lớn mà PVN cần vượt qua.
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CHUYỂN DỊCH SANG NĂNG LƯỢNG XANH
Để hiện thực hóa chiến lược chuyển dịch, cần một hệ thống giải pháp, kiến nghị đồng bộ để giải quyết 5 nhóm rào cản đã xác định, bao gồm:
Một là, về thể chế - chính sách: Đây là nhóm giải pháp "mở đường" và mang tính tiên quyết, cần sự vào cuộc của Chính phủ và Quốc hội. Chính phủ cần khôi phục Cơ chế tự chủ tài chính và tái đầu tư. Kiến nghị Nhà nước sửa đổi các quy định tài chính để thể chế hóa việc cho phép PVN được giữ lại một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý và khôi phục Quỹ tìm kiếm thăm dò. Đây là giải pháp quan trọng vì nếu không có vốn nội tại linh hoạt, PVN không thể chủ động đầu tư vào E&P rủi ro cao để duy trì dòng tiền, cũng không thể "ươm mầm" các dự án năng lượng mới.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý cho năng lượng mới. Chính phủ, Quốc hội cần khẩn trương ban hành các khung pháp lý chuyên ngành cho điện gió ngoài khơi (bao gồm quy hoạch không gian biển, cơ chế hợp đồng mua bán điện gió, và các quy định cho CCS, Hydro). Đồng thời, cần tạo cơ chế pháp lý rõ ràng cho các mô hình đầu tư linh hoạt như hợp tác công - tư và liên doanh trong linh vực năng lượng mới.
Hai là, về quản trị đầu tư: PVN phải tự đổi mới từ bên trong, cần chuyển đổi hệ thống đánh giá dự án. Thay vì chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài chính truyền thống (NPV, IRR), cần áp dụng mô hình Phân tích quyết định đa tiêu chí (MCDA) tích hợp 4 nhóm tiêu chí: Kinh tế, Môi trường, Xã hội và Công nghệ. Việc này giúp PVN ưu tiên các dự án bền vững, phù hợp với chiến lược Net Zero. Hệ thống quản trị này không chỉ là một công cụ kỹ thuật, mà còn là một công cụ quản trị để kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro, tránh tâm lý sợ trách nhiệm khi ra các quyết định đầu tư. Khi các nhà quản lý lo sợ bị quy trách nhiệm nếu một dự án R&D thất bại về mặt tài chính, việc áp dụng MCDA một cách chính thức sẽ cung cấp "lá chắn pháp lý" và "sự bảo vệ" cho họ. Nó cho phép ban lãnh đạo phê duyệt một dự án với các tiêu chí chiến lược đa dạng đã được phê duyệt.
Ba là, về tài chính: Bên cạnh việc kiến nghị Chính phủ cho phép giữ lại một phần lợi nhuận thì PVN cũng cần có giải pháp để nâng cao tự chủ về tài chính. Ngoài vốn nội tại, PVN cần chủ động tiếp cận các nguồn vốn quốc tế, phát hành trái phiếu xanh và tín dụng ESG, dựa trên các khuyến nghị và tiêu chuẩn quốc tế
Bốn là, về nguồn nhân lực và tổ chức: PVN cần đầu tư mạnh mẽ, liên kết Viện Dầu khí và Trường Đại học Dầu khí, Cao đẳng dầu khí để tạo ra một hệ thống đào tạo khép kín, tự chủ, chuyên đào tạo các chuyên gia về năng lượng mới (Hydro, CCS, điện gió). Đồng thời, PVN cần tái cấu trúc tổ chức, sáp nhập các đơn vị dịch vụ trùng lặp trong Tập đoàn để chấm dứt cạnh tranh nội bộ, tạo ra các đơn vị chuyên sâu đủ mạnh về tiềm lực để cạnh tranh quốc tế. Thành lập Trung tâm R&D và đổi mới sáng tạo cấp Tập đoàn, tập trung vào các công nghệ lõi trong năng lượng xanh và triển khai các dự án thí điểm để tích lũy kinh nghiệm trước khi đầu tư quy mô lớn.
Bên cạnh đó, PVN cần kiến nghị Chính phủ cho phép áp dụng cơ chế lương, thưởng đặc thù mang tính cạnh tranh, vượt ra khỏi thang bảng lương nhà nước. Đây là giải pháp duy nhất để giải quyết bài toán "chảy máu chất xám" và thu hút, giữ chân các chuyên gia công nghệ cao cho các dự án chuyển dịch.
Tài liệu tham khảo:
1. IEA (2023). Báo cáo triển vọng năng lượng năm 2023.
2. IEA (2025). Báo cáo tóm tắt tình hình đầu tư năng lượng toàn cầu năm 2025.
3. Phạm Vũ Lợi, Lê Minh Thống và Trần Văn Hiệp (2025). Nhu cầu năng lượng và xu hướng chuyển dịch năng lượng trong lĩnh vực dầu khí Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số đặc biệt tháng 1/2025.
4. PVN (2023). Báo cáo tổng kết hoạt động đầu tư giai đoạn 2020-2023.
5. PVN (2024). Báo cáo thường niên năm 2024.
6. VPI (2023). Báo cáo nghiên cứu chuyển dịch năng lượng tại PVN.
7. World Bank (2022). Vietnam: Financing Energy Transitions.
| Ngày nhận bài: 10/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/11/2025; Ngày duyệt đăng: 2/12/2025 |
Các tin khác
Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai