Tác động của giá trị kinh tế, tính hữu ích và giá trị cảm nhận đến ý định sử dụng dịch vụ gọi xe điện của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 08:23 | 13/06/2026
Nghiên cứu đánh giá mức độ tác động của Giá trị kinh tế và Tính hữu ích trong việc hình thành Giá trị cảm nhận, từ đó dẫn dắt đến Ý định sử dụng dịch vụ Grab Electric của người dân tại TP. Hồ Chí Minh.

Phùng Vĩ Huân, Nguyễn Thanh Tuyền

Sinh viên ngành Quản trị kinh doanh,

Viện Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, TP. Hồ Chí Minh

Vũ Nhật Phương

Trần Hoàng Cẩm Tú (Tác giả liên hệ)

Email: [email protected]

Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn dịch vụ Grab Electric của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh. Thông qua dữ liệu khảo sát 676 người dân tại TP. Hồ Chí Minh và phân tích hệ số hồi quy, kết quả cho thấy Giá trị cảm nhận có tác động đến Ý định sử dụng. Đặc biệt, các yếu tố hữu dụng ảnh hưởng lớn hơn 2.6 lần so với tính kinh tế, chứng tỏ khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh chú trọng ưu tiên lợi ích về tài chính và độ hiệu quả sử dụng trực tiếp khi sử dụng xe điện. Nghiên cứu gợi ý rằng Grab cần tập trung vào vấn đề tối ưu hóa chính sách và trải nghiệm dịch vụ để tăng độ cạnh tranh; các nhà hoạch định chính sách cần xây dựng các gói hỗ trợ kinh phí và cơ sở hạ tầng trạm sạc, để thúc đẩy lộ trình chuyển đổi phương tiện xanh bền vững tại khu vực.

Từ khóa: Dịch vụ gọi xe điện, Grab Electric, giá trị cảm nhận, tính hữu ích, tiêu dùng xanh, TP. Hồ Chí Minh

Abstract

This study aims to analyze the factors influencing consumers’ decisions to choose the Grab electric service in Ho Chi Minh City. Using survey data collected from 676 residents of Ho Chi Minh City and regression analysis, the results indicate that perceived value has a significant impact on users’ intention to adopt the service. Notably, utilitarian factors exert an influence that is more than 2.6 times greater than economic factors, suggesting that consumers in Ho Chi Minh City place greater emphasis on direct benefits in terms of financial savings and service efficiency when using electric vehicles. The findings imply that Grab should focus on optimizing its policies and service experience to enhance competitiveness. In addition, policymakers should develop financial support programs and expand charging infrastructure to facilitate the sustainable transition toward green transportation in the region.

Keywords: Electric ride-hailing service, Grab electric, perceived value, perceived usefulness, green consumption, Ho Chi Minh City

GIỚI THIỆU

Trong những năm gần đây, ngành giao thông vận tải chiếm khoảng 20% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu (World Bank, 2022). Tại Việt Nam, đặc biệt là các đô thị trọng điểm như TP. Hồ Chí Minh, ô nhiễm không khí từ bụi mịn PM2.5 đã trở thành thách thức nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng (Ngo và cộng sự, 2025). Trước áp lực lượng hành khách dự kiến tăng 50% vào năm 2030, việc chuyển đổi giao thông xanh là yêu cầu cấp thiết để phát triển bền vững.

Trong xu thế đó, dịch vụ gọi xe công nghệ tại Việt Nam với tốc độ tăng trưởng gần 20%/năm (Mordor Intelligence, 2024) đang trở thành nền tảng quan trọng để phổ biến xe điện đến đại chúng. Việc Grab ra mắt giải pháp Grab Electric tại TP. Hồ Chí Minh - nơi có mật độ dân số và nhu cầu vận chuyển bằng phương tiện sử dụng động cơ cao nhất cả nước - là một bước đi chiến lược nhằm xanh hóa hệ thống giao thông đô thị. Mặc dù các phương tiện điện được quảng bá rộng rãi nhờ lợi ích môi trường (Arefin và cộng sự, 2025), nhưng thực tế luôn tòn tại một khoảng cách giữa “thái độ và hành vi” của người tiêu dùng. Khách hàng có thể nhận thức tốt về việc bảo vệ môi trường, nhưng quyết định sử dụng lại thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố thực dụng hơn.

Xuất phát từ khoảng trống này, nghiên cứu đánh giá mức độ tác động của 2 nhân tố gốc là Giá trị kinh tế và Tính hữu ích trong việc hình thành Giá trị cảm nhận, từ đó dẫn dắt đến Ý định sử dụng dịch vụ Grab Electric của người dân tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ đóng góp về mặt lý thuyết trong việc làm rõ hành vi tiêu dùng xanh, đồng thời cung cấp cơ sở thực tiễn cho doanh nghiệp trong việc điều chỉnh chiến lược, tối ưu hóa vận hành và hỗ trợ nhà hoạch định chính sách xây dựng hệ sinh thái giao thông xanh.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Theo Lý thuyết giá trị tiêu dùng (TCV) của Sheth và cộng sự (1991), giá trị kinh tế trong dịch vụ gọi xe không chỉ là giá vé mà còn là cán cân giữa chi phí và lợi ích nhận được. Ở thị trường phát triển như Việt Nam, giá trị kinh tế đóng vai trò như một “bộ lọc” hành vi do độ đàn hồi của cầu theo giá cao (Chen, 2020). Sự minh bạch về giá và cảm nhận “công tâm” giúp người dùng giảm ý định dùng thử, từ đó thúc đẩy sự sẵn lòng chi trả. Đối với Grab Electric, giá trị kinh tế là yếu tố mạnh để cạnh tranh với xe xăng, giúp chuyển đổi nhóm tiêu dùng nhạy cảm về tài chính sang phương thức di chuyển xanh.

Kế thừa từ Mô hình UTAUT2 (Venkatesh và cộng sự, 2012) và SERVQUAL (Parasuraman và cộng sự, 1988), tính hữu ích trong dịch vụ gọi xe được đo lường qua khả năng đáp ứng và độ tin cậy của dịch vụ. Không chỉ là tính ổn định của ứng dụng, tính hữu ích còn bao gồm an toàn chuyến đi, thái độ tài xế và quy trình vận hành hiệu quả. Đối với xe điện, tính hữu ích còn gắn liền với việc đảm bảo hạ tầng và quy trình hỗ trợ sự cố nhanh chóng. Khi dịch vụ giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và đảm bảo an toàn, họ sẽ thừa nhận lợi ích thực tế của công nghệ mới.

Dựa trên Lý thuyết TCV, giá trị cảm nhận là sự đánh giá tổng thể về lợi ích nhận được so với chi phí bỏ ra (Sheth và cộng sự, 1991). Đối với Grab Electric, giá trị cảm nhận phản ánh mức độ tiện lợi, tiết kiệm thời gian và sự hài lòng về chi phí. Nghiên cứu thực nghiệm (Vũ Thị Lan Phương, 2023) đã chứng minh yếu tố này có mối quan hệ cùng chiều với ý định hành vi.

Theo Lý thuyết TPB, ý định hành vi là biến số dự báo chính xác nhất cho hành vi tiêu dùng (Ajzen, 1991). Trong nghiên cứu này, ý định sử dụng dịch vụ được thúc đẩy gián tiếp bởi các giá trị thực dụng thông qua biến trung gian là giá trị cảm nhận. Việc củng cố ý định sử dụng của người dân là chìa khóa để Grab duy trì tập khách hàng trung thành và xây dựng một hệ sinh thái di chuyển xanh bền vững tại đô thị.

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý thuyết, nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ gọi xe điện của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Từ mô hình nghiên cứu, các giả thuyết được đưa ra như sau:

H1: Giá trị kinh tế có tác động tích cực đến Giá trị cảm nhận.

H2: Tính hữu ích có tác động tích cực đến Giá trị cảm nhận

H3: Giá trị cảm nhận có tác động tích cực đến Ý định sử dụng dịch vụ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với thiết kế khảo sát cắt ngang để đo lường và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ xe điện Grab Electric tại TP. Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng sinh sống và làm việc tại trung tâm TP. Hồ Chí Minh. Áp dụng công thức của Hair và cộng sự (2010, 2019), với tỷ lệ tối thiểu 5 mẫu/1 biến quan sát, mô hình có 31 biến yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu là n = 155. Để tăng độ tin cậy và hạn chế sai số, nghiên cứu hướng đến thu thập 300-400 mẫu hợp lệ.

Dữ liệu được thu thập bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện (phi xác xuất) thông qua bảng hỏi trực tuyến trên nền tảng Google Forms, phổ biến qua Facebook, Zalo và khảo sát trực tiếp. Bảng câu hỏi gồm 4 phần: thông tin nhân khẩu học, câu hỏi sàng lọc, các biến quan sát đo lường và câu hỏi bổ sung. Thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước, hiệu chỉnh bằng định tính sơ bộ cho phù hợp bối cảnh Việt Nam và đo bằng thang Likert 5 điểm (1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý). Dữ liệu sau khi làm sạch được phân tích bằng SPSS và SmartPLS qua các bước: kiểm định Cronbach’s Alpha (độ tin cậy), chỉ số CR và AVE (giá trị hội tụ, phân biệt) và kiểm định mô hình bằng phương pháp PLS-SEM để xác định mức độ tác động giữa các biến.

Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu

Đặc điểm mẫu

Bảng 1: Thông tin mẫu nghiên cứu đặc điểm mẫu nhân khẩu học

Đặc điểm

Mẫu = 676

Tần số

Tỷ lệ (%)

Tích lũy (%)

Giới tính

Nữ

331

49

49

Nam

341

50.4

99.4

Khác

4

0.6

100

Độ tuổi

Dưới 18 tuổi

8

1.2

1.2

18-25 tuổi

373

55.2

56.4

26-35 tuổi

227

33.6

90

Trên 35 tuổi

68

10

100

Nghề nghiệp

Học sinh, sinh viên

296

43

43

Nhân viên văn phòng

200

30

73

Lao động tự do

142

21

94

Khác

38

6

100

Tần suất sử dụng

Dưới 25%

156

23

23

25-50%

180

27

50

50-75%

276

41

91

Trên 75%

64

9

100

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kết quả thống kê mô tả (Bảng 1) từ 676 người tham gia với sự phân bổ khá đồng đều và tập trung vào nhóm khách hàng trẻ tại TP. Hồ Chí Minh. Với tỷ lệ nam giới (50.4%) và nữ giới (49%) gần như tương đương, phản ánh dịch vụ Grab Electric thu hút sự quan tâm không phân biệt giới tính. Về độ tuổi, người dùng tập trung ở nhóm từ 18-35 tuổi, chiếm tới 88.8% tổng mẫu, trong đó nhóm 18-25 tuổi chiếm đa số với 55.2%. Điều này hoàn toàn tương thích với đặc điểm nghề nghiệp khi học sinh, sinh viên (43%) và nhân viên văn phòng (30%) là những đối tượng chính. Đây là nhóm khách hàng năng động, dễ dàng thích nghi với công nghệ mới và có xu hướng ủng hộ giao thông xanh. Đáng chú ý, có tới 50% số người được hỏi sử dụng dịch vụ với tần suất trên 50%, cho thấy Grab Electric đã khẳng định được vị thế và khả năng đáp ứng nhu cầu di chuyển thực tế của người dùng.

Kiểm định thang đo

Bảng 2: Kết quả tóm tắt các hệ số tải trong mô hình PLS- SEM

Cấu trúc

Biến mã hóa

Hệ số tải

của các biến

Cronbach’s

Alpha

Độ tin cậy

tổng hợp (CR)

AVE

Giá trị kinh tế (EV)

EV1

0.773

0.751

0.841

0.571

EV2

0.813

EV3

0.779

EV4

0.645

Tính hữu ích (U)

U1

0.790

0.794

0.866

0.618

U2

0.812

U3

0.747

U4

0.793

Giá trị cảm nhận (PV)

PV1

0.824

0.772

0.868

0.687

PV2

0.812

PV3

0.849

Ý định sử dụng (IU)

IU1

0.809

0.816

0.878

0.644

IU2

0.789

IU3

0.819

IU4

0.792

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kết quả Bảng 2 cho thấy, tất cả các biến quan sát đều đạt tiêu chuẩn với hệ số tải nhân tố từ 0.645-0.841. Hệ số độ tin cậy của các thang đo từ 0.751-0.816 đều được chấp nhận với điều kiện α ≥ 0.7 (Hair và cộng sự, 2019), độ tin cậy tổng hợp (CR) đều > 0.8. Bên cạnh đó, chỉ số phương trích trung bình (AVE) của các cấu trúc từ 0.571-0.687 đều đạt điều kiện AVE > 0.5 (Wong, 2016), khẳng định rằng các thang đo đạt giá trị hội tụ.

Các chỉ số thống kê thu được cho thấy thang đo đạt độ tin cậy và tính nhất quán nội tại ở mức cao. Chính vì vậy, bộ dữ liệu nghiên cứu đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của phân tích định lượng và bảo đảm cơ sở phù hợp để tiếp tục thực hiện các phân tích hồi quy ở bước tiếp theo.

Kết quả hồi quy

Bảng 3: Kết quả của mối quan hệ giữa các cấu trúc trong mô hình nghiên cứu

Mối quan hệ

R2

Hệ số β

p-value

Kết luận

U → PV

0.380

0.298

0.004

Có tác động

EV → PV

0.114

0.000

Có tác động

PV → IU

0.309

0.556

0.000

Có tác động

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kết quả phân tích (Bảng 3) cho thấy cả 2 biến độc lập đều có ý nghĩa thống kê với p-value < 0.05, khẳng định các giả thuyết nghiên cứu hoàn toàn phù hợp. Cụ thể, Giá trị kinh tế (EV) với hệ số β = 0.114, phản ánh rằng các lợi ích tài chính như: giá cước hợp lý, ưu đãi và khả năng tiết kiệm chi phí có tác động tích cực đến Giá trị cảm nhận (PV). Trong khi đó, Tính hữu ích (U) lại thể hiện vai trò nổi bật hơn với hệ số β = 0.298, cao hơn 2.6 lần so với Giá trị kinh tế (EV). Điều này chứng tỏ rằng đối với người dân tại TP. Hồ Chí Minh, trải nghiệm thực tế như: sự tiện lợi, tốc độ phản hồi của ứng dụng và chất lượng vận hành của xe điện mang lại giá trị cao hơn hẳn so với việc chỉ tiết kiệm chi phí đơn thuần.

Hệ số xác định R² = 0.380 cho thấy 2 biến số có thể giải thích được 38% sự biến thiên của PV. Đó là mức giải thích trung bình trong nghiên cứu hành vi, cho thấy vai trò nền tảng của các yếu tố thực dụng trong việc hình thành giá trị của Grab Electric trong tâm trí người dùng.

Giá trị cảm nhận (PV) có ảnh hưởng tích cực đến Ý định sử dụng (IU), đồng thời đóng vai trò trung gian quan trọng cho mô hình nghiên cứu. Điều này có nghĩa ý định sử dụng không được hình thành trực tiếp từ các yếu tố như: giá cả hay tính năng, mà thông qua quá trình người dùng dịch vụ đánh giá tổng hợp và hình thành nhận thức chung về giá trị dịch vụ.

Thảo luận

Nghiên cứu cho thấy Tính hữu ích (U) tác động đến Giá trị cảm nhận (PV) tích cực hơn Giá trị kinh tế (EV), qua đó cho thấy người tiêu dùng TP. Hồ Chí Minh chọn xe điện vì tính hữu ích của nó mang lại, không phải vì chi phí; so với nghiên cứu ở các thị trường đang phát triển (Trung Quốc), thường ghi nhận EV tác động nhiều hơn (Zhao và cộng sự, 2025). EV tác động thấp (β = 0.114) cho thấy yếu tố này không còn đóng vai trò quan trọng, do người dùng đã quen thuộc với công nghệ, đặc biệt là nền tảng Grab. Vì vậy, doanh nghiệp không cần ưu tiên đầu tư thêm vào các yếu tố trải nghiệm người dùng cơ bản, mà nên tập trung nâng cao giá trị hữu ích của dịch vụ để gia tăng khả năng thu hút và giữ chân khách hàng. Ngoài ra, PV là yếu tố đóng vai trò trung gian quan trọng, vì vậy Grab nên xây dựng chiến lược marketing hướng đến cảm nhận giá trị tổng thể, không chỉ quảng bá từng yếu tố riêng lẻ.

Như vậy, ở giai đoạn đầu phổ biến xe điện, thị trường đang phát triển phản ứng khác với lý thuyết UTAUT2 kinh điển. Một số nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng, trong bối cảnh dịch vụ xe điện còn mới, các yếu tố truyền thống trong mô hình lý thuyết có thể chưa phản ánh đầy đủ hành vi người dùng (Ngo và cộng sự, 2025).

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Nghiên cứu đã làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ gọi xe điện của người tiêu dùng. Kết quả khẳng định Giá trị cảm nhận là yếu tố quan trọng nhất dẫn dắt ý định hành vi, trong khi Tính hữu ích đóng vai trò nền tảng, còn Giá trị kinh tế có tác động nhưng mức độ hạn chế.

Nghiên cứu đóng góp phần về mặt lý luận trong việc mở rộng các mô hình hành vi tiêu dùng trong bối cảnh giao thông điện tại thị trường đang phát triển, đồng thời cho thấy sự cần thiết phải điều chỉnh các lý thuyết truyền thống để phù hợp với thực tiễn.

Hàm ý quản trị cho doanh nghiệp

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh, các góp ý thúc đẩy sử dụng dịch vụ xe điện cần được triển khai một cách đồng bộ và thực tiễn. Đầu tiên, Grab cần đẩy mạnh truyền thông nhằm nâng cao nhận thức tiêu dùng xanh, thông qua các chiến dịch trên nền tảng số và hợp tác với KOLs, qua đó làm rõ những lợi ích cụ thể như giảm phát thải và cải thiện môi trường đô thị.

Việc tối ưu chi phí vận hành đóng vai trò then chốt trong việc giảm rào cản tiếp cận dịch vụ xe điện. Grab có thể ứng dụng công nghệ để tối ưu lộ trình di chuyển, tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu suất sử dụng phương tiện. Ngoài ra, tận dụng các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước như ưu đãi thuế, trợ giá có thể góp phần giảm chi phí cho tài xế và người dùng, từ đó thúc đẩy việc sử dụng dịch vụ xe điện rộng rãi hơn trong thực tiễn.

Bên cạnh đó, các cơ chế khuyến khích hành vi như hệ thống “Green Score” có thể triển khai nhằm tăng động lực sử dụng dịch vụ qua hình thức tích điểm và ưu đãi. Đồng thời, việc giảm rủi ro cảm nhận bằng cách minh bạch thông tin và cam kết chất lượng dịch vụ góp phần củng cố niềm tin của khách hàng.

Cuối cùng, xây dựng mô hình Battery Swapping được xem là giải pháp nhằm rút ngắn thời gian chờ, nâng cao hiệu suất vận hành và cải thiện trải nghiệm khách hàng, qua đó thúc đẩy sự chấp nhận dịch vụ xe điện trong dài hạn.

Hàm ý cho nhà hoạch định chính sách

Để hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao tính hữu ích của dịch vụ, Nhà nước cần đầu tư đồng bộ hệ thống trạm sạc công cộng tại các bãi đỗ xe, trung tâm thương mại và khu chung cư. Đồng thời, cần ban hành các gói hỗ trợ kinh phí trực tiếp, ưu đãi thuế nhập khẩu linh kiện xe điện và trợ giá thuê pin cho các đối tác tài xế công nghệ, nhằm giảm chi phí vận hành đầu vào, từ đó thúc đẩy lộ trình chuyển đổi phương tiện xanh bền vững của Thành phố diễn ra đúng tiến độ vào năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai

Tuy nghiên cứu mang lại những kết quả có giá trị, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế cần xem xét. Đầu tiên, thời gian nghiên cứu tương đối ngắn nên chưa phản ánh đầy đủ sự thay đổi hành vi người tiêu dùng theo thời gian. Tiếp theo, phạm vi chỉ giới hạn tại TP. Hồ Chí Minh và tập trung vào Grab Electric. Trong tương lai, các nghiên cứu nên mở rộng theo hướng chuỗi thời gian và phạm vi toàn quốc, đồng thời so sánh giữa các khu vực để nâng cao độ tin cậy và giá trị thực tiễn.

(*) Lời cảm ơn: Chúng tôi cảm ơn Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ cho nghiên cứu này.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.

2. Arefin, A. A., Meraj, S. T., Lipu, M. S. H., & Rahman, M. S. (2025). Societal, environmental, and economic impacts of electric vehicles towards achieving sustainable development goals. Results in Engineering, 27, 107060. https://doi.org/10.1016/j.rineng.2025.107060

3. Chen, J. M. (2020). Travellers’ willingness to pay and perceived value of time in ride-sharing: An experiment on China. Current Issues in Tourism. https://doi.org/10.1080/13683500.2020.1779190

4. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2010). Multivariate data analysis.

5. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2019). Multivariate data analysis.

6. Mordor Intelligence. (2024). Vietnam ride-hailing market - growth, trends, and forecast (2024-2029). https://www.mordorintelligence.com/industry-reports/vietnam-ride-hailing-market

7. Ngo, K. C., Vu, L. N. A., Pham, T. B. K., Dinh, C. H., Nguyen, H. P., & Nguyen, T. B. (2025). Factors influencing students’ intentions to use electric ride-hailing service in Hanoi. Journal of Marine Science and Technology, 81, 178-185.

8. Parasuraman, A., Zeithaml, V. A., & Berry, L. L. (1988). SERVQUAL. Journal of Retailing, 64(1), 12-40.

9. Sheth, J. N., Newman, B. I., & Gross, B. L. (1991). Why we buy what we buy: A theory of consumption values. Journal of Business Research, 22(2), 159-170. https://doi.org/10.1016/0148-2963(91)90050-8

10.Venkatesh, V., Thong, J. Y. L., & Xu, X. (2012). Consumer acceptance and use of information technology: Extending the unified theory of acceptance and use of technology. MIS Quarterly, 36(1), 157-178. https://doi.org/10.2307/41410412

11. Vũ, T. L. P. (2023). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại và truyền miệng về ứng dụng gọi xe tại TP. Hồ Chí Minh. Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

12. World Bank (2022). Changing the way we move: A win win for climate and development. https://www.worldbank.org/en/news/feature/2022/01/25/changing-the-way-we-move-a-win-win-for-climate-and-development

13. Zhao, X., Li, X., Wang, A., & Fang, J. (2025). The impact of energy prices on electric vehicle adoption: From a perspective of consumer expectations. Sustainable Futures, 9, 100437.

14. Wong, G. K. (2016). The behavioral intentions of Hong Kong primary teachers in adopting educational technology. Educational Technology Research and Development, 64, 313-338.

Ngày nhận bài: 15/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/5/2026; Ngày duyệt đăng: 12/6/2026

Các tin khác

Văn hóa đổi mới, năng lực đổi mới tiết kiệm và hiệu quả hoạt động tài chính: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp sản xuất tại Đồng Tháp

Văn hóa đổi mới, năng lực đổi mới tiết kiệm và hiệu quả hoạt động tài chính: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp sản xuất tại Đồng Tháp

Đổi mới tiết kiệm đang trở thành hướng tiếp cận phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất trong điều kiện nguồn lực hạn chế và áp lực cạnh tranh gia tăng. Nghiên cứu làm rõ vai trò của văn hóa đổi mới trong hình thành năng lực đổi mới tiết kiệm, đồng thời đánh giá tác động của năng lực này đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Quản lý thuế giá trị gia tăng trong bối cảnh chuyển đổi số: Nghiên cứu điển hình tại Thuế TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2025

Quản lý thuế giá trị gia tăng trong bối cảnh chuyển đổi số: Nghiên cứu điển hình tại Thuế TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2025

Với quy mô hoạt động kinh tế và số lượng người nộp thuế lớn, TP. Hồ Chí Minh là địa bàn phù hợp để nghiên cứu những vấn đề đặt ra trong quá trình hiện đại hóa quản lý thuế.
Tái cơ cấu nhân sự tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Tái cơ cấu nhân sự tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Chuyển đổi số đang thúc đẩy các ngân hàng thương mại cổ phần cơ cấu lại mô hình hoạt động và nguồn nhân lực. Nghiên cứu phân tích biến động nhân sự tại một số ngân hàng giai đoạn 2024-2025, làm rõ mối liên hệ với chiến lược kinh doanh và mức độ ứng dụng công nghệ, qua đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị nhân lực.
Kinh nghiệm một số nước về phát triển nguồn nhân lực khu vực công và hàm ý cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Kinh nghiệm một số nước về phát triển nguồn nhân lực khu vực công và hàm ý cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Nghiên cứu phân tích kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực khu vực công của Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc và rút ra một số hàm ý phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay.
Hoàn thiện xây dựng định mức chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất bê tông khu vực miền Bắc

Hoàn thiện xây dựng định mức chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất bê tông khu vực miền Bắc

Việc củng cố, phát triển hệ thống hạ tầng, đô thị hóa và xu hướng hiện đại hoá của đất nước đã tạo động lực mạng mẽ cho sự phát triển của ngành sản xuất vật liệu xây dựng, trong đó có ngành sản xuất bê tông.
Mô hình phát triển giao thông xanh qua sử dụng xe điện công cộng của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Mô hình phát triển giao thông xanh qua sử dụng xe điện công cộng của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Việt Nam hiện đang đứng trước thời điểm quan trọng để chuyển đổi, khi áp lực từ biến đổi khí hậu, tốc độ đô thị hóa và nhu cầu di chuyển an toàn - sạch - hiệu quả ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, các định hướng về chuyển đổi năng lượng xanh trong ngành giao thông vận tải cho thấy giảm phát thải trong giao thông đã trở thành một vấn đề chính sách chính thức.
Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Thực tế đã chứng minh rằng phát triển chuỗi liên kết đã tạo ra các khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn, đồng thời là cơ sở quan trọng để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hóa chủ lực đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm của mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Bán lẻ đang chuyển từ cung ứng hàng hóa tại điểm bán sang quản trị toàn bộ hành trình khách hàng. Thương mại điện tử, thanh toán số, ứng dụng di động và bán hàng đa kênh làm thay đổi cách cung ứng và đánh giá dịch vụ. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin trực tuyến, kiểm tra sản phẩm tại cửa hàng, đặt hàng online và sử dụng quyền lợi thành viên trên nhiều kênh. Vì vậy, chất lượng dịch vụ ngày càng được hình thành từ nhiều điểm tiếp xúc.
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.