Mô hình phát triển giao thông xanh qua sử dụng xe điện công cộng của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh
ThS. Nguyễn Quang Huy
Trường Đại học Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Hiện nay, Việt Nam sở hữu một thị trường phương tiện khổng lồ, nhưng cũng đồng thời chịu áp lực ngày càng lớn từ phát thải khí nhà kính, ô nhiễm môi trường và chi phí vận hành. Tuy nhiên, về bản chất, giao thông xanh là một phần quan trọng của giao thông bền vững. Nếu giao thông bền vững hướng tới việc đáp ứng nhu cầu đi lại của con người hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai, thì giao thông xanh chính là “công cụ” để hiện thực hóa mục tiêu này. Nó không chỉ tập trung vào phương tiện, mà còn bao gồm chiến lược quản lý lưu lượng, tối ưu tuyến đường, phát triển hạ tầng sạc điện và trạm nhiên liệu sạch, cũng như khuyến khích thay đổi hành vi của người tham gia giao thông. Nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập của khách hàng trẻ tại Việt Nam. Kết quả có ý nghĩa về mặt lý luận, đồng thời làm sáng tỏ các điều kiện để khách hàng trẻ chuyển từ quan tâm sang sử dụng thực tế các dịch vụ di chuyển điện.
Từ khoá: Giao thông xanh, xe điện công cộng, gen Z
Abstract
Viet Nam currently has a vast vehicle market but is also facing growing pressure from greenhouse gas emissions, environmental pollution, and operating costs. Green transportation is, by nature, an important component of sustainable transportation. While sustainable transportation aims to meet people’s current mobility needs without compromising the ability of future generations to meet their own, green transportation is a key means of achieving this goal. It focuses not only on vehicles but also on traffic flow management strategies, route optimization, the development of electric charging infrastructure and clean-fuel stations, and efforts to encourage behavioral changes among road users. This study proposes a research model of the factors influencing young customers’ adoption of electric vehicles based on their access to these services in Viet Nam. The findings have theoretical and help clarify the conditions under which young customers transition from interest to the actual use of electric mobility services.
Keywords: Green transportation, public electric vehicles, Generation Z
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn ngày càng nghiêm trọng, giao thông xanh đang nổi lên như xu hướng tất yếu để giảm phát thải và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Không chỉ là một lựa chọn về phương tiện, giao thông xanh còn được xem như một chiến lược tổng thể, gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững và cải thiện chất lượng sống. Việt Nam hiện đang đứng trước thời điểm quan trọng để chuyển đổi, khi áp lực từ biến đổi khí hậu, tốc độ đô thị hóa và nhu cầu di chuyển an toàn - sạch - hiệu quả ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, các định hướng về chuyển đổi năng lượng xanh trong ngành giao thông vận tải cho thấy giảm phát thải trong giao thông đã trở thành một vấn đề chính sách chính thức.
Đối với khách hàng trẻ ở đô thị, các hình thức phù hợp hơn có thể bao gồm: xe máy điện, xe đạp điện, phương tiện điện cá nhân, dịch vụ thuê xe điện, chia sẻ xe điện hoặc sử dụng xe điện thông qua nền tảng dịch vụ. Đây là những hình thức phù hợp với các chuyến đi ngắn và trung bình, đặc biệt trong khu vực đô thị, khu đại học, khu văn phòng, khu dân cư đông đúc hoặc các điểm kết nối giao thông công cộng. Không phải khách hàng trẻ nào cũng có khả năng hoặc mong muốn sở hữu xe điện do chi phí đầu tư ban đầu, tuổi thọ pin, hạ tầng sạc, trách nhiệm bảo trì và rủi ro công nghệ. Tuy nhiên, họ có thể sẵn sàng sử dụng xe điện nếu dịch vụ cho thuê, chia sẻ hoặc sử dụng theo lượt có chi phí hợp lý, dễ tiếp cận, an toàn, minh bạch và phù hợp với nhu cầu di chuyển. Vì vậy, tiêu dùng xe điện dựa trên quyền truy cập có thể đóng vai trò như một cầu nối giữa ý định xanh và hành vi di chuyển xanh.
Bên cạnh đó, nhóm khách hàng trẻ là đối tượng có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt. Đây là nhóm quen thuộc với công nghệ số, ứng dụng di động, thanh toán điện tử, nền tảng đặt xe và các mô hình tiêu dùng linh hoạt. Họ cũng có tần suất di chuyển cao cho học tập, làm việc, giải trí và kết nối xã hội trong không gian đô thị. Tuy nhiên, hành vi của khách hàng trẻ không thể được giải thích chỉ bằng logic cá nhân. Vì vậy, nghiên cứu hành vi tiêu dùng xe điện công cộng dựa trên quyền truy cập của khách hàng trẻ không chỉ có ý nghĩa đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ di chuyển điện, mà còn có ý nghĩa đối với chính sách giao thông xanh và quá trình hình thành hành vi tiêu dùng bền vững.
Trước đây, đã có nhiều nghiên cứu tiêu dùng bền vững và xe điện chỉ dừng lại ở ý định mua hoặc ý định sử dụng, trong khi thực tế cho thấy ý định tích cực không luôn chuyển hóa thành hành vi. Nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2019) cho thấy, mối quan hệ giữa ý định và hành vi phụ thuộc vào các điều kiện bối cảnh, đặc biệt là tính sẵn có của sản phẩm và hiệu quả cảm nhận của hành vi. Đối với tiêu dùng xe điện dựa trên quyền truy cập, khoảng cách này càng đáng chú ý vì người dùng không sở hữu phương tiện, mà phụ thuộc vào việc dịch vụ có sẵn, dễ tìm, dễ đặt, dễ nhận/trả, dễ thanh toán và phù hợp với tuyến di chuyển hay không. Vì vậy, tác giả thực hiện nghiên cứu giao thông xanh thông qua bổ sung khả năng tiếp cận dịch vụ xe điện công cộng như một điều kiện đặc thù của bối cảnh tiêu dùng dựa trên quyền truy cập thông qua xe điện.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT
Cơ sở lý thuyết
Tiêu dùng dựa trên quyền truy cập và đặc thù của xe điện như một dịch vụ
Tiêu dùng dựa trên quyền truy cập được hiểu là hình thức tiêu dùng trong đó khách hàng trả tiền để sử dụng một tài sản hoặc dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định mà không sở hữu tài sản đó. Nghiên cứu của Bardhi và Eckhardt (2012) cho rằng, điểm cốt lõi của tiêu dùng dựa trên quyền truy cập nằm ở việc tách quyền sử dụng khỏi quyền sở hữu. Trong khi đó, Lamberton và Rose (2012) nhấn mạnh rằng, trong các hệ thống chia sẻ thương mại, giá trị tiêu dùng phụ thuộc không chỉ vào bản thân tài sản, mà còn vào khả năng tiếp cận tài sản khi người tiêu dùng có nhu cầu.
Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) cho rằng, ý định là tiền đề gần nhất của hành vi và được hình thành bởi 3 yếu tố: thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong đó, thái độ phản ánh đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân đối với hành vi; chuẩn mực chủ quan phản ánh nhận thức về kỳ vọng xã hội; nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh mức độ cá nhân cảm thấy có đủ năng lực và nguồn lực để thực hiện hành vi. Ngoài tác động đến ý định, nhận thức kiểm soát hành vi cũng có thể tác động trực tiếp đến hành vi khi hành vi chịu ràng buộc bởi điều kiện thực thi.
TPB đã được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu hành vi tiêu dùng xanh, chấp nhận công nghệ và di chuyển bền vững. Các nghiên cứu trước nhìn chung cho thấy, thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi thường là những yếu tố dự báo quan trọng của ý định sử dụng hoặc chấp nhận phương tiện điện (Rezvani và cộng sự, 2015; Yadav và Pathak, 2017). Nghiên cứu của Li và cộng sự (2021) cho thấy, các cấu phần mở rộng của TPB có khả năng giải thích ý định sử dụng dịch vụ. Các nghiên cứu về dịch vụ chia sẻ phương tiện cũng cho thấy ý định có thể liên quan đến hành vi sử dụng, nhưng quan hệ này thường phụ thuộc vào điều kiện dịch vụ và trải nghiệm thực tế.
Chuẩn mực đồng trang lứa và chuẩn mực gia đình trong hành vi của khách hàng trẻ
Trong TPB, chuẩn mực chủ quan phản ánh nhận thức của cá nhân về việc những người quan trọng đối với họ mong đợi hoặc ủng hộ họ thực hiện hành vi (Ajzen, 1991). Tuy nhiên, cách đo chuẩn mực chủ quan ở mức tổng quát có thể làm mờ đi sự khác biệt giữa các nguồn ảnh hưởng xã hội. Đối với khách hàng trẻ, ảnh hưởng từ bạn bè, bạn học, đồng nghiệp hoặc nhóm đồng trang lứa có thể khác với ảnh hưởng từ gia đình. Vì vậy, việc phân rã chuẩn mực xã hội thành chuẩn mực đồng trang lứa và chuẩn mực gia đình là một điều chỉnh cần thiết về mặt lý thuyết và đo lường.
Cơ sở cho sự phân rã này nằm ở TPB phân rã của Taylor và Todd (1995). Theo hướng tiếp cận này, các cấu trúc tổng quát trong TPB có thể được phân tách thành các niềm tin cụ thể hơn nhằm tăng khả năng giải thích hành vi trong bối cảnh nghiên cứu cụ thể. Nguồn ảnh hưởng này thường liên quan đến hình ảnh xã hội, xu hướng nhóm, sự chấp nhận trong nhóm và mong muốn thuộc về cộng đồng.
MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT
Mô hình nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lý thuyết nêu trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Tác giả đề xuất
Giả thuyết nghiên cứu
Đối với khách hàng trẻ tại Việt Nam, thái độ tích cực có thể hình thành từ sự kết hợp giữa lợi ích thực dụng và giá trị biểu tượng. Các nghiên cứu về tiêu dùng xanh và chấp nhận phương tiện điện cho thấy thái độ thường là một trong những tiền đề ổn định nhất của ý định hành vi (Yadav và Pathak, 2017; Li và cộng sự, 2021). Vì vậy, trong bối cảnh xe điện dựa trên quyền truy cập, thái độ tích cực được kỳ vọng làm tăng ý định sử dụng. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H1: Thái độ đối với việc sử dụng có tác động dương đến Ý định sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, xe điện dựa trên quyền truy cập là dịch vụ mới nên một “ngưỡng chấp nhận xã hội” trước khi được sử dụng rộng rãi. Khi bạn bè hoặc đồng nghiệp đánh giá tích cực việc sử dụng dịch vụ, khách hàng trẻ có thể cảm thấy hành vi này hợp thời, phù hợp và ít rủi ro hơn. Các nghiên cứu ứng dụng TPB trong dịch vụ di chuyển điện chia sẻ cũng cho thấy, chuẩn mực xã hội có vai trò đáng kể trong hình thành ý định sử dụng (Li và cộng sự, 2021). Vì vậy, chuẩn mực đồng trang lứa được kỳ vọng làm tăng ý định sử dụng. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H2: Chuẩn mực đồng trang lứa có tác động dương đến Ý định sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập.
Các nghiên cứu về hành vi môi trường gần đây cho thấy, ảnh hưởng liên thế hệ có thể liên quan đến thái độ và hành vi thân thiện với môi trường (Liu và Kaida, 2024). Vì vậy, chuẩn mực gia đình có thể làm tăng ý định sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập khi khách hàng trẻ cảm nhận rằng gia đình ủng hộ, tin tưởng hoặc xem hành vi này là an toàn, tiết kiệm và có trách nhiệm. Ngược lại, nếu gia đình lo ngại về rủi ro, chi phí hoặc độ tin cậy, ý định sử dụng có thể suy yếu. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H3: Chuẩn mực gia đình có tác động dương đến Ý định sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập.
Các nghiên cứu ứng dụng TPB trong tiêu dùng xanh và phương tiện điện thường ghi nhận nhận thức kiểm soát hành vi là yếu tố quan trọng, nhất là khi hành vi chịu ràng buộc bởi điều kiện thực thi (Yadav và Pathak, 2017; Li và cộng sự, 2021). Vì vậy, trong bối cảnh khách hàng trẻ sử dụng xe điện như một dịch vụ, nhận thức kiểm soát hành vi được kỳ vọng làm tăng ý định sử dụng. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H4: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động dương đến Ý định sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập.
Trong bối cảnh xe điện dựa trên quyền truy cập, mối quan hệ giữa ý định và hành vi càng cần được kiểm định thực nghiệm, vì người dùng không sở hữu phương tiện. Họ chỉ có thể thực hiện hành vi khi dịch vụ hiện diện tại đúng nơi, đúng thời điểm và phù hợp với nhu cầu di chuyển. Trên cơ sở TPB, ý định sử dụng vẫn được kỳ vọng có tác động dương đến hành vi sử dụng thực tế, nhưng sức mạnh của quan hệ này có thể phụ thuộc vào các điều kiện biên. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H5: Ý định sử dụng có tác động dương đến Hành vi sử dụng thực tế xe điện dựa trên quyền truy cập.
Nhận thức kiểm soát hành vi có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi vì dịch vụ đòi hỏi nhiều thao tác cụ thể. Khách hàng phải biết cách sử dụng ứng dụng, tìm xe, mở khóa, kiểm tra tình trạng phương tiện, thanh toán, tuân thủ quy định, trả xe đúng điểm và xử lý tình huống phát sinh. Nếu khách hàng không tự tin hoặc cảm thấy quy trình khó kiểm soát, họ có thể không sử dụng dịch vụ ngay cả khi có thái độ tích cực hoặc ý định chung và ngược lại. Các nghiên cứu ứng dụng TPB trong hành vi xanh và dịch vụ di chuyển mới cho thấy, nhận thức kiểm soát hành vi thường có vai trò đáng kể khi hành vi chịu ràng buộc bởi điều kiện thực thi và năng lực cá nhân (Yadav và Pathak, 2017; Li và cộng sự, 2021). Vì vậy, tác giả kỳ vọng nhận thức kiểm soát hành vi có tác động trực tiếp đến hành vi sử dụng thực tế. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H6: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động dương trực tiếp đến Hành vi sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập.
Sự khác biệt về định hướng tập thể cá nhân giúp giải thích vì sao cùng một chuẩn mực đồng trang lứa có thể tạo ra ý định mạnh ở người này nhưng yếu ở người khác. Vì vậy, định hướng tập thể cá nhân được kỳ vọng khuếch đại quan hệ giữa chuẩn mực đồng trang lứa và ý định sử dụng. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H7a: Định hướng tập thể cá nhân điều tiết dương mối quan hệ giữa Chuẩn mực đồng trang lứa và Ý định sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập.
Khách hàng trẻ có thể độc lập hơn trong tiếp nhận công nghệ và nền tảng số, nhưng gia đình vẫn có thể ảnh hưởng đến các quyết định liên quan đến di chuyển, chi phí và an toàn. Do đó, định hướng tập thể cá nhân giúp giải thích điều kiện khi nào chuẩn mực gia đình trở nên mạnh hơn. Trên thực tế, ảnh hưởng này có thể mạnh hơn rõ rệt ở những cá nhân coi trọng sự gắn kết và kỳ vọng của nhóm thân thuộc. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H7b: Định hướng tập thể cá nhân điều tiết dương mối quan hệ giữa Chuẩn mực gia đình và Ý định sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập.
Đối với cá nhân có khoảng cách quyền lực cao, ý kiến của cha mẹ, người lớn tuổi hoặc thành viên có vai trò quan trọng trong gia đình có thể có trọng lượng lớn hơn trong quá trình ra quyết định. Vì vậy, khi gia đình ủng hộ việc sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập, người có khoảng cách quyền lực cao có thể xem sự ủng hộ đó như một tín hiệu hợp pháp hóa hành vi, từ đó hình thành ý định mạnh hơn. Do đó, khoảng cách quyền lực cá nhân được kỳ vọng khuếch đại ảnh hưởng của chuẩn mực gia đình đến ý định sử dụng. Vì vậy, giả thuyết được đưa ra như sau:
H8: Khoảng cách quyền lực cá nhân điều tiết dương mối quan hệ giữa Chuẩn mực gia đình và Ý định sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập.
Trong bối cảnh Việt Nam, nơi dịch vụ xe điện dựa trên quyền truy cập còn đang phát triển, cảm nhận bất định về chi phí, an toàn và trách nhiệm có thể là rào cản đáng kể. Vì vậy, né tránh sự bất định cá nhân được kỳ vọng làm suy yếu quan hệ giữa ý định và hành vi sử dụng thực tế. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H9: Né tránh sự bất định cá nhân điều tiết âm mối quan hệ giữa Ý định sử dụng và Hành vi sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập.
Nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2019) cho thấy, tính sẵn có của sản phẩm/dịch vụ là điều kiện quan trọng trong việc thu hẹp khoảng cách ý định - hành vi. Đối với xe điện dựa trên quyền truy cập, lập luận này càng mạnh hơn vì không có khả năng tiếp cận thì hành vi sử dụng không thể diễn ra. Vì vậy, khả năng tiếp cận dịch vụ được kỳ vọng khuếch đại quan hệ giữa ý định sử dụng và hành vi sử dụng thực tế. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H10: Khả năng tiếp cận dịch vụ điều tiết dương mối quan hệ giữa Ý định sử dụng và Hành vi sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập.
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Nghiên cứu thực hiện xây dựng mô hình phát triển giao thông xanh thông qua sử dụng xe điện công cộng của khách hàng trẻ tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, có 3 nhân tố tác động đến Hành vi sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập thông qua biến trung gian là Ý định sử dụng gồm: Thái độ đối với việc sử dụng, Chuẩn mực đồng trang lứa, Chuẩn mực gia đình; còn nhân tố Nhận thức kiểm soát hành vi vừa tác động trực tiếp vừa tác động gián tiếp đến Hành vi sử dụng xe điện dựa trên quyền truy cập thông qua biến trung gian Ý định sử dụng. Ngoài ra, nghiên cứu cũng phát hiện ra vai trò điều tiết của các nhân tố: Định hướng tập thể cá nhân, Khoảng cách quyền lực cá nhân, Né tránh sự bất định, Khả năng tiếp cận dịch vụ. Kết quả có ý nghĩa về mặt lý luận, đồng thời làm sáng tỏ các điều kiện thực tiễn để khách hàng trẻ chuyển từ quan tâm sang sử dụng thực tế các dịch vụ di chuyển điện.
Hướng nghiên cứu tiếp theo tập trung vào: (i) Thiết kế thang đo hiệu chỉnh theo ngữ cảnh Việt Nam; (ii) Thu thập dữ liệu định lượng tại những nơi có người trẻ tuổi sử dụng dịch vụ công cộng; (iii) Sử dụng phương pháp PLS-SEM trên SmartPLS 4.0 để kiểm định mô hình cấu trúc, vai trò trung gian và điều tiết; và (iv) Thực hiện phân tích đa nhóm (MGA) nhằm cung cấp các hàm ý quản trị phù hợp người dùng trẻ ở Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T
2. Bardhi, F., and Eckhardt, G. M. (2012). Access-based consumption: The case of car sharing. Journal of Consumer Research, 39(4), 881-898. https://doi.org/10.1086/666376
3. Lamberton, C. P., and Rose, R. L. (2012). When is ours better than mine? A framework for understanding and altering participation in commercial sharing systems. Journal of Marketing, 76(4), 109-125. https://doi.org/10.1509/jm.10.0368
4. Li, J.; Shen, J.; Jia, B. (2021). Exploring Intention to Use Shared Electric Bicycles by the Extended Theory of Planned Behavior. Sustainability. https://doi.org/10.3390/su13084137
5. Liu, X., and Naoko Kaida (2024). Parent-Child Intergenerational Associations of Environmental Attitudes, Psychological Barriers, and Pro-Environmental Behaviors in Japan and China. Sustainability. https://doi.org/10.3390/su162310445
6. Nguyen, H. V., Nguyen, C. H., and Hoang, T. T. B. (2019). Green consumption: Closing the intention-behavior gap. Sustainable Development, 27(1), 118-129. doi:10.1002/sd.1875
7. Rezvani, Z., Jansson, J., and Bodin, J. (2015). Advances in consumer electric vehicle adoption research: A review and research agenda. Transportation Research Part D, 34, 122-136. https://doi.org/10.1016/j.trd.2014.10.010
8. Taylor, S., and Todd, P. A. (1995). Understanding information technology usage: A test of competing models. Information Systems Research, 6(2), 144-176. doi:10.1287/isre.6.2.144
9. Yadav, R., and Pathak, G. S. (2017). Determinants of consumers’ green purchase behavior in a developing nation: Applying and extending the theory of planned behavior. Ecological Economics, 134, 114-122. https://doi.org/10.1016/j.ecolecon.2016.12.019
| Ngày nhận bài: 25/8/2026; Ngày hoàn thành biên tập: 29/9/2026; Ngày duyệt đăng: 7/10/2026 |
Các tin khác
Văn hóa đổi mới, năng lực đổi mới tiết kiệm và hiệu quả hoạt động tài chính: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp sản xuất tại Đồng Tháp
Quản lý thuế giá trị gia tăng trong bối cảnh chuyển đổi số: Nghiên cứu điển hình tại Thuế TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2025
Tái cơ cấu nhân sự tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Kinh nghiệm một số nước về phát triển nguồn nhân lực khu vực công và hàm ý cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số
Hoàn thiện xây dựng định mức chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất bê tông khu vực miền Bắc
Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng
