Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Nghiên cứu - Trao đổi 08:47 | 13/10/2026
Thực tế đã chứng minh rằng phát triển chuỗi liên kết đã tạo ra các khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn, đồng thời là cơ sở quan trọng để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hóa chủ lực đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm của mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún

Nguyễn Hữu Giáp

Khoa Kinh tế và Quản lý, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Email: [email protected]

Tóm tắt

Ngành nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu sắc từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Tính đến hết năm 2025, tỷ lệ sản lượng nông nghiệp thông qua liên kết đạt khoảng 11-14% trên toàn quốc, với hàng chục nghìn hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp tham gia vào các chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực quốc gia. Với hơn 3500 mô hình liên kết chuỗi giá trị cho thấy ứng dụng chuyển đổi số và thương mại điện tử đã giảm được 1/2 chi phí và công lao động, giảm 50% khí thải nhà kính, tăng năng suất lên 30%, tối ưu hóa lợi nhuận cho người sản xuất hơn 70% so với mô hình truyền thống. Vì vậy, ứng dụng chuyển đổi số trong liên kết chuỗi giá trị là giải pháp then chốt để phát triển nông nghiệp hiện đại và bền vững.

Từ khoá: Nông nghiệp, chuỗi giá trị, chuyển đổi số

Abstract

Vietnam's agricultural sector is entering a profound transformation phase, from production and processing to product consumption. By the end of 2025, the proportion of agricultural output through linkages is expected to reach approximately 11-14% nationwide, with thousands more farmers, cooperatives, and businesses participating in the value chains of key national products. Currently, there are more than 3,500 value chain linkage models; digital transformation and e-commerce have cut costs and labor by half, reduced greenhouse gas emissions by 50%, increased productivity by 30%, and improved producer profits by over 70% compared to traditional models. Therefore, applying digital transformation in value chain linkages is a key solution for developing modern and sustainable agriculture.

Keywords: Agricultural, Value chain, Digital transformation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sản xuất nông nghiệp với chuỗi giá trị hiện đang là xu hướng tất yếu và được quan tâm mạnh mẽ. Thực tế đã chứng minh rằng phát triển chuỗi liên kết đã tạo ra các khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn, đồng thời là cơ sở quan trọng để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hóa chủ lực đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm của mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún (Hoàng Long, 2018; Hồng Hiếu, 2019; Nguyễn Thị Huyền, 2021; Nguyễn Mạnh Hùng, Đoàn Xuân Thuỷ, 2022). Hiện nay, nông nghiệp đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và nông nghiệp số. Các quốc gia ngày càng chú trọng xây dựng hệ thống dữ liệu nông nghiệp, nền tảng truy xuất nguồn gốc và các công cụ quản trị chuỗi giá trị dựa trên công nghệ số.

Ngành nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu sắc, khi xu thế số hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi thay đổi từ tư duy sản xuất đơn lẻ sang tư duy quản trị chuỗi giá trị toàn diện. Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành nông nghiệp với kim ngạch xuất khẩu đạt trên 60 tỷ USD vào năm 2024. Chuyển đổi số được xác định là giải pháp then chốt để tái cơ cấu ngành, nâng cao năng suất lao động và giá trị gia tăng. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ số hiện vẫn đang ở giai đoạn thí điểm, chưa đồng bộ và đối mặt với nhiều nút thắt về hạ tầng, thể chế và nguồn nhân lực. Phân tích thực nghiệm cho thấy việc tích hợp Internet vạn vật (IoT) và thương mại điện tử có khả năng tối ưu hóa lợi nhuận cho người sản xuất lên tới hơn 70% so với mô hình truyền thống. Thực trạng ghi nhận từ cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 cho thấy một lỗ hổng lớn về công nghệ: tỷ lệ hộ trồng trọt ứng dụng IoT, robot và tự động hóa mới chỉ dừng lại ở mức 9,15%; trong khi lĩnh vực nuôi trồng thủy sản chỉ đạt 0,7% về công nghệ tuần hoàn khép kín. Sự manh mún này chính là nguồn cơn của tình trạng đứt gãy chuỗi giá trị mỗi khi thị trường biến động. Nếu không số hóa, nông sản Việt sẽ tự loại mình khỏi cuộc chơi toàn cầu trước các hàng rào kỹ thuật ESG và yêu cầu giảm phát thải carbon khắt khe. Chuyển đổi số là chìa khóa duy nhất để minh bạch hóa trách nhiệm chuỗi cung ứng, từ đó xây dựng niềm tin tuyệt đối với các thị trường cao cấp.

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số là quá trình ứng dụng công nghệ (IoT, AI, Blockchain, Big Data) vào toàn bộ quy trình từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Điều này giúp minh bạch hóa nguồn gốc, tối ưu hóa chi phí, giảm thiểu rủi ro và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản. Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ, phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp gắn với chuyển đổi số là con đường tất yếu để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, bền vững. Nghiên cứu này nhằm cung cấp đánh giá chi tiết về thực trạng và đề xuất lộ trình thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị trong ngành nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số.

ĐIỀU KIỆN THỰC TIỄN THÚC ĐẨY LIÊN KẾT CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

Yêu cầu quốc tế

Xu hướng phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu: Trong bối cảnh mới đòi hỏi ngành nông nghiệp thích ứng với những thay đổi nhanh của tình hình kinh tế, sự phát triển khoa học và công nghệ; các quốc gia có nền nông nghiệp phát triển như Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc... đã xây dựng các hệ thống liên kết chuỗi giá trị chặt chẽ, trong đó Hợp tác xã (HTX) đóng vai trò trung tâm trong việc tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ đầu vào, thu mua và tiêu thụ nông sản. Do đó, ngành nông nghiệp Việt Nam, cần thúc đẩy các mô hình liên kết chuỗi giá trị hiện đại, minh bạch và bền vững.

Chuyển đổi xanh và số hóa chuỗi giá trị nông nghiệp nhằm truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững: Ngành nông nghiệp của các quốc gia xây dựng hệ thống dữ liệu, nền tảng truy xuất nguồn gốc và các công cụ quản trị chuỗi giá trị dựa trên công nghệ số. Do vậy, chuyển đổi số trong liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp là yêu cầu tất yếu nhằm quản trị chuỗi liên kết; quản lý dữ liệu vùng nguyên liệu; đo đếm phát thải và tín chỉ carbon; cơ chế tài chính xanh...

Yêu cầu của phát triển kinh tế nông nghiệp quốc gia

Chuyển đổi tư duy phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế nông nghiệp và chuỗi giá trị: tư duy thị trường làm trung tâm và tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị. Các chiến lược và chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển các chuỗi giá trị nông sản có liên kết chặt chẽ giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp. Liên kết, hợp tác trong sản xuất nông nghiệp là hướng đi tất yếu cho phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững.

Nâng cao vai trò của HTX trong tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi giá trị: Chính phủ và nhà nước Việt Nam có chính sách khuyến khích HTX nông nghiệp tham gia liên kết chuỗi giá trị (hợp đồng sản xuất, tiêu thụ nông sản) với các tác nhân trong chuỗi giá trị (Chính phủ, 2018). HTX Nông nghiệp được xác định là tác nhân trung tâm để tổ chức sản xuất của các hộ nông dân, điều phối quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và kết nối với doanh nghiệp.

Ứng dụng công nghệ số, tổ chức lại sản xuất gắn với phát triển vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh: điều kiện thực tế hiện nay thì mô hình HTX Nông nghiệp, phù hợp và đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, bởi lẽ hợp tác liên kết lại mới tạo ra khu sản xuất tập trung, tạo cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn và là cơ sở quan trong để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ. Ứng dụng công nghệ số để tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra lượng hàng hóa đủ lớn đáp ứng được yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm mà mô hình kinh tế hộ nhỏ, lẻ hiện có.

KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

Thực trạng liên kết chuỗi giá trị ngành nông nghiệp

Sau 8 năm triển khai Nghị định 98/2018/NĐ-CP về khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất nông sản, giai đoạn 2020-2025 ghi nhận những bước chuyển biến rõ rệt về quy mô và chất lượng các chuỗi liên kết trên cả nước. Tính đến hết năm 2025, tỷ lệ sản lượng nông nghiệp thông qua liên kết đạt khoảng 11-14% trên toàn quốc, với hàng chục nghìn hộ nông dân, HTX và doanh nghiệp tham gia vào các chuỗi sản phẩm chủ lực quốc gia như gạo, cà phê, điều, rau quả...

Bảng 1: Các hình thức liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong Nghị định số 98/2018/NĐ-CP

TT

Tên hình thức liên kết

Khâu/ công đoạn liên kết

Cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào

Sản xuất, thu hoạch sản phẩm

Sơ chế/ chế biến

Tiêu thụ

1

Liên kết từ cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ

X

X

X

X

2

Liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào gắn với tiêu thụ sản phẩm

X

X

3

Liên kết tổ chức sản xuất, thu hoạch gắn với tiêu thụ sản phẩm

X

X

4

Liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

X

X

X

5

Liên kết tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ

X

X

X

6

Liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

X

X

X

7

Liên kết sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

X

X

Nguồn: Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, 2018

Theo số liệu báo cáo của 34 tỉnh, thành phố, tính đến hết tháng 06/2025, cả nước có 2.938 dự án và kế hoạch liên kết theo Nghị định 98 được phê duyệt. Trong đó có 1.968 dự án và 970 kế hoạch liên kết được các địa phương phê duyệt. Chuỗi giá trị ngành nông nghiệp tập trung với 7 hình thức liên kết được phân loại theo hình thức liên kết giữa các công đoạn trong chuỗi từ cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, các hình thức tố chức liên kết chuỗi là rất đa dạng và được hình thành dựa trên nhu cầu cụ thể của từng khu vực, từng ngành hàng hoặc từng nhóm chủ thể. Trong số các dự án, kế hoạch liên kết, lĩnh vực trồng trọt có nhiều nhất với 1.969 dự án, kế hoạch (chiếm 67%); tiếp đến là lĩnh vực chăn nuôi có 695 dự án, kế hoạch (chiếm 23,7%); lĩnh vực thủy sản có 72 dự án, kế hoạch (chiếm 2,5%); lĩnh vực lâm nghiệp có 184 dự án, kế hoạch (chiếm 6,3%). Đặc biệt liên kết chuỗi giá trị ngành nông nghiệp đã thu hút 2.412 HTX, 538 Tổ hợp tác, 1.305 doanh nghiệp và 211.545 hộ nông dân tham gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025).

Hình 1: Số lượng dự án, kế hoạch liên kết chuỗi giá trị ngành nông nghiệp
(theo Nghị định 98 - tính đến cuối tháng 6/2025)

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025

Trên cơ sở 13 nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia, các địa phương đã tập trung xây dựng được 1.738 chuỗi liên kết; trong đó: Lúa, gạo có 682 chuỗi; Cà phê có 24 chuỗi; Cao su có 09 chuỗi; Điều có 21 chuỗi; Hồ tiêu có 09 chuỗi; Chè có 51 chuỗi; Rau quả có 550 chuỗi; Sắn và các sản phẩm từ sản có 15 chuỗi; Thịt lợn có 209 chuỗi; Thịt và trứng gia cầm có 150 chuỗi; Cá tra có 7 chuỗi; Tôm có 2 chuỗi; Gỗ và các sản phẩm từ gỗ có 9 chuỗi.

Thúc đẩy HTX nông nghiệp tham gia liên kết chuỗi giá trị ngành nông nghiệp

HTX nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy liên kết bền vững, các HTX nông nghiệp với vai trò là tổ chức tập hợp của nhiều nông dân sản xuất nhỏ lẻ nhằm tăng sức mạnh trên thị trường. Đối với chuỗi giá trị trị, HTX nông nghiệp có thể là chủ trì chuỗi hoặc chỉ tham gia vào chuỗi với tư cách là một tác nhân phát triển chuỗi. Các HTX làm chủ trì chuỗi liên kết có vai trò và trách nhiệm rất lớn từ việc xây dựng hồ sơ liên kết, triển khai thực hiện dự án/ kế hoạch liên kết và tổ chức phát triển các chuỗi liên kết (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025). Trong liên kết chuỗi giá trị, HTX đã phát triển các vùng nguyên liệu ổn định, đại diện cho số lượng lớn hộ nông dân, giảm được chi phí thu mua sản phẩm, có thể kiểm soát và nâng cao được chất lượng sản phẩm, giảm tình trạng phá vỡ hợp đồng liên kết của hộ nông dân.

Thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị ngành nông nghiệp, HTX có nhiều lợi ích to lớn và bền vững như: nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX và thành viên tham gia, tham gia liên kết tạo thuận lợi hơn cho HTX trong tiếp cận chính sách hỗ trợ của nhà nước, đặc biệt là về đất đai, tín dụng, hạ tầng, trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất. Hiệu quả kinh tế của sự liên kết chuỗi giá trị được nâng cao rõ ràng, thành viên của HTX được tập huấn, đào tạo hướng dẫn áp dụng quy trình sản xuất tốt (VietGAP), được cung ứng vật tư đầu vào với giá thấp hơn, chất lượng tốt, và được bao tiêu với giá sản phẩm cao hơn. Sự liên kết này, hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu quy mô lớn và tập trung, có tính chuyên môn hoá cao, dần đáp ứng các quy chuẩn quốc tế, tạo khả năng ứng dụng các công nghệ số hiện đại trong quản lý và vận hành.

Hình 2: HTX làm trung gian liên kết giữa nông dân và Doanh nghiệp

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Nguồn: JICA, 2015 - Dự án “Tăng cường chức năng HTX nông nghiệp ở Việt Nam”

Trong cấu trúc chuỗi giá trị hiện đại, sự phối hợp giữa doanh nghiệp hạt nhân và HTX là nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh quốc tế. HTX đóng vai trò gom hộ nhỏ lẻ và đào tạo kỹ năng số. Đặc biệt, thông qua việc quản lý nhật ký điện tử, HTX cung cấp khả năng hiển thị thời gian thực cho bên mua. Khi lộ trình sản xuất được công khai minh bạch trên hệ thống, tình trạng phá vỡ hợp đồng sẽ bị triệt tiêu vì mọi hành vi đều được ghi lại trên nền tảng số hoá. Liên kết chuỗi giá trị nông sản là một giải pháp quan trọng trong chiến lược cơ cấu lại nông nghiệp Việt Nam, khắc phục vấn đề được mùa mất giá, tổ chức sản xuất theo yêu cầu của thị trường. Liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị giúp HTX nói riêng và các tác nhân khác nói chung cùng nhau chia sẻ rủi ro, nâng cao năng lực cạnh tranh và lợi ích hài hoà trong phát triển bền vững.

Hình 3: HTX tham gia liên kết chuỗi giá trị theo nghị định 98/2018/NĐ-CP

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025

Hiện nay, 60% HTX nông nghiệp hoạt động hiệu quả, thích ứng, tích cực trong nâng cao năng lực, khả năng cạnh tranh thông qua đổi chuyển đổi số trong quản lý tổ chức sản xuất; áp dụng nông nghiệp thông minh, công nghệ cao, sản xuất sản phẩm đạt chuẩn, chất lượng, có thương hiệu, xuất sứ sản phẩm (OCOP, hữu cơ, Global Gap, VietGap...); cấp mã số vùng trồng; sản xuất theo chuỗi giá trị, thích ứng xu hướng thị trường.

Thúc đẩy doanh nghiệp nông nghiệp tham gia dẫn dắt liên kết chuỗi giá trị

Khu vực doanh nghiệp có trên 12.000 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, chỉ một tỷ lệ nhỏ doanh nghiệp tham gia theo mô hình liên kết chuỗi hoặc đầu tư khép kín từ sản xuất đến chế biến và thị trường. Một số mô hình tiêu biểu đã hình thành, như các doanh nghiệp đầu tư vào chăn nuôi, cây ăn quả và chế biến nông sản gắn với vùng nguyên liệu, cho thấy khả năng tổ chức chuỗi khi có sự tham gia dẫn dắt của doanh nghiệp. Thực tiễn này cho thấy, khi doanh nghiệp đầu tư bài bản và tham gia sâu vào toàn bộ quá trình từ tổ chức sản xuất, thiết lập tiêu chuẩn đến kiểm soát chất lượng và thị trường, chuỗi giá trị có thể vận hành ổn định và nâng cao giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, xét trên toàn ngành, số lượng doanh nghiệp đủ năng lực đảm nhận vai trò này vẫn còn hạn chế, chưa tạo được chuyển biến mang tính hệ thống (Nguyễn Quang Tin, 2026).

Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu không còn là công cụ hỗ trợ, mà là công cụ quyền lực trong tổ chức chuỗi. Ai nắm được dữ liệu đầy đủ, chuẩn hóa và có khả năng kết nối, người đó có thể kiểm soát dòng chảy của sản phẩm, thiết lập tiêu chuẩn và chi phối thị trường. Trong liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững, doanh nghiệp có vai trò quan trọng chuyển đổi từ thu mua sang quản trị chuỗi, từ bị động sang chủ động, và xa hơn là từ tham gia thị trường sang định hình thị trường. Dữ liệu không còn là tài sản riêng lẻ của từng doanh nghiệp, mà trở thành hạ tầng chung của chuỗi, nơi Nhà nước thiết lập chuẩn và bảo đảm vận hành, còn doanh nghiệp khai thác và tạo ra giá trị. Đây chính là nền tảng để nông nghiệp chuyển từ phát triển theo sản lượng sang phát triển theo chuẩn mực, minh bạch, kỷ luật và khả năng kiểm chứng quyết định năng lực cạnh tranh.

Thực trạng chuyển đổi số trong liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp

Trong “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, nông nghiệp được xem là một trong 8 lĩnh vực được ưu tiên trong công cuộc chuyển đổi số. Dù hiện tại, quá trình này đã đạt những thành tựu nhất định, song vẫn còn tồn tại nhiều thách thức như mức độ cơ giới hóa thấp, ít công nghệ, các hoạt động canh tác, sản xuất vẫn còn được thực hiện dựa trên kinh nghiệm của nông dân. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025 cho biết đã có khoảng 2.600 trong số hơn 22.500 HTX nông nghiệp trên cả nước ứng dụng phần mềm và công nghệ số.

Hệ sinh thái chuyển đổi số nông nghiệp đòi hỏi sự tương tác và hợp tác giữa các thành phần khác nhau. Trung tâm phát triển giải pháp công nghệ hoặc doanh nghiệp sản xuất tri thức đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo ra các giải pháp mới, nhưng để tiếp tục phát triển, trung tâm này cần sự đóng góp của các thành phần khác. Sự tương tác và hỗ trợ giữa các thành phần trong hệ sinh thái nông nghiệp đảm bảo sự phát triển và tiến bộ chung.

Trong liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp, quá trình số hóa toàn bộ quy trình, từ sản xuất và thu hoạch đến nhập kho và phân phối, đang tạo ra một môi trường thông tin liên lạc tốt hơn giữa các bên liên quan trong hệ thống nông nghiệp. Việc số hóa cũng đem lại khả năng hiển thị dọc theo chuỗi cung ứng cho các tác nhân khác nhau, từ đó làm cho quy trình trở nên minh bạch hơn và hiệu quả cao hơn. Thực tế cho thấy, ứng dụng công nghệ số vào sản xuất nông nghiệp đã giảm được 1/2 chi phí và công lao động, giảm 50% khí thải nhà kính, tăng năng suất lên 30%, nhờ đó, tăng thu nhập cho nông dân (Ban Kinh tế Trung ương, 2021).

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

Thứ nhất, phát triển hạ tầng và dữ liệu số

Phát triển hạ tầng và kết nối mạng internet đến cấp xã, thôn/bản (hạ tầng băng thông rộng chất lượng cao; hạ tầng mạng di động; hạ tầng kết nối internet, hạ tầng kết nối IoT,…), nâng cao năng lực tiếp cận dịch vụ viễn thông của người dân; hạ tầng công nghệ để phát triển đa dạng các lĩnh vực và liên kết chặt chẽ các tác nhân trong chuỗi.

Xây dựng phương án tổng thể hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu, hệ thống định danh gắn với đối tượng quản lý, giám sát trên nền tảng dữ liệu lớn (Big data) đồng bộ, kết nối và liên thông. Thực hiện số hoá bản đồ nông nghiệp đất đai, thời tiết, sản phẩm, dịch bệnh, dự báo rủi ro, thị trường... kết hợp với hệ sinh thái dữ liệu mở gắn với các chủ thể trong chuỗi giá trị.

Thứ hai, tăng cường chuyển đổi số HTX nông nghiệp trong liên kết chuỗi giá trị

Cần thúc đẩy HTX nông nghiệp ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số. Đây là chìa khóa để nâng cao năng suất và quản lý chất lượng trong liên kết chuỗi giá trị bền vững. HTX nông nghiệp không chỉ là đơn vị tập hợp nông dân mà phải điều phối dữ liệu, thực hiện số hoá gắn liền với chuỗi giá trị.

Phát triển HTX làm nòng cốt liên kết chuỗi giá trị trong ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi xanh thông qua phần mềm quản lý vùng nguyên liệu, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc, cơ sở dữ liệu...

Thứ ba, nâng cao vai trò của doanh nghiệp chuyển đổi số trong liên kết chuỗi giá trị

Các doanh nghiệp trong chuỗi liên kết số phải thực hiện vai trò đầu tàu, thiết lập các ứng dụng số cần thiết cho chuỗi liễn kết, tạo lập các hợp đồng kinh tế thông minh, bền vững với nông dân, thay đổi nhận thức nông dân, đưa họ cùng tham gia chuyển đổi số nhằm liên kết bền vững. Tất cả các chủ thể doanh nghiệp, HTX, nông dân phải liên kết chặt chẽ, gắn lợi ích và trách nhiệm trong chuỗi giá trị.

Doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ trên toàn chuỗi từ khâu canh tác của hàng triệu hộ nông dân, dòng dữ liệu trong quản lý, chế biến, chuỗi cung ứng, tiêu thụ. Khuyến khích các doanh nghiệp phát triển các ứng dụng số có chi phí thấp, giao diện đơn giản, dễ vận hành dành riêng cho nông hộ.

Thứ tư, đào tạo và phát triển nhân lực số trong liên kết chuỗi giá trị

Con người là chủ thể thực thi và liên kết là phương thức tổ chức để đưa công nghệ vào thực tiễn sản xuất. Hai yếu tố “Con người” và “Liên kết” quyết định sự thành bại của quá trình chuyển dịch từ nền sản xuất truyền thống sang “Kinh tế nông nghiệp” hiện đại. Vì vậy, tập trung đào tạo và nâng cao năng lực quản trị chuỗi giá trị, quan tâm đặc biệt đến công tác đào tạo, tập huấn cho lao động nông nghiệp, nông thôn để họ nắm chắc và làm chủ các quy trình, công nghệ sản xuất, có kiến thức về thị trường và hiểu biết về pháp luật đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa theo chuỗi gắn với thị trường. Ứng dụng khoa học công nghệ trong việc quản lý, truy xuất nguồn gốc các sản phẩm của chuỗi.

KẾT LUẬN

Hiện nay, có hơn 3500 mô hình liên kết chuỗi giá trị, thu hút hơn 300.000 hộ nông dân thông qua khoảng 2.000 HTX và tổ hợp tác. Khoảng 70% các mô hình có sự tham gia của HTX, đóng vai trò tổ chức vùng nguyên liệu, ký kết hợp đồng kiểm soát chất lượng và phối hợp tiêu thụ sản phẩm và hơn 60 tỷ USD giá trị xuất khẩu cho thấy liên kết chuỗi giá trị đã nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển thị trường.

Ứng dụng chuyển đổi số trong ngành nông nghiệp nói chung và liên kết chuỗi giá trị nói riêng là giải pháp trọng tâm nhằm chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp truyền thống sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Phát triển liên kết chuỗi giá trị ngành nông nghiệp gắn với chuyển đổi số là cấp thiết và mang lại những lợi ích bền vững cho tất cả các tác nhân trong chuỗi từ khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Kinh tế Trung ương (2021). Hội thảo: “Chuyển đổi số nông nghiệp - nông thôn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Hà Nội.

2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Tài liệu hội nghị “Sơ kết 6 năm thực hiện Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”.

3. Chính phủ (2018). Nghị định số 98/NĐ-CP ngày 5/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

4. Hoàng Long (2018). Xây dựng HTX nông nghiệp kiểu mới gắn với nông thôn và cơ cấu lại ngành nông nghiệp. https://www.nhandan.com.vn/antuong/item/36368502-xay-dung-hop-tac-xa-nong-nghiep-kieu-moi-gan-voi-nong-thon-moi-va-co-cau-lai-nganh-nong-nghiep.html

5. Hồng Hiếu (2019). HTX liên kết với doanh nghiệp tìm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp ở Bình Thuận. 20/8/2026 tại https://dantocmiennui.vn/xa-hoi/hop-tac-xa-lien-ket-voi-doanh-nghiep-tim-dau-ra-cho-san-pham-nong-nghiep-o-binh-thuan/281434.html

6. JICA (2015). Dự án “Tăng cường chức năng HTX nông nghiệp ở Việt Nam”.

7. Nguyễn Mạnh Hùng và Đoàn Xuân Thuỷ (2022). Định hướng phát triển HTX nông nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh mới. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/825570/dinh-huong-phat-trien-hop-tac-xa-nong-nghiep-o-viet-nam-trong-boi-canh-moi.aspx.

8. Nguyễn Quang Tin (2026). Tái cấu trúc chuỗi giá trị nông nghiệp trong kỷ nguyên dữ liệu. https://nhandan.vn/tai-cau-truc-chuoi-gia-tri-nong-nghiep-trong-ky-nguyen-du-lieu-post956358.html

9. Nguyễn Thị Huyền (2021). Một số giải pháp nhằm phát triển HTX nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay. https://ojs.tapchicongthuong.vn/vi/ojs-post/mot-so-giai-phap-nham-phat-trien-hop-tac-xa-nong-nghiep-o-viet-nam-hien-nay-78830.htm.

Ngày nhận bài: 29/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/9/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026

Các tin khác

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Bán lẻ đang chuyển từ cung ứng hàng hóa tại điểm bán sang quản trị toàn bộ hành trình khách hàng. Thương mại điện tử, thanh toán số, ứng dụng di động và bán hàng đa kênh làm thay đổi cách cung ứng và đánh giá dịch vụ. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin trực tuyến, kiểm tra sản phẩm tại cửa hàng, đặt hàng online và sử dụng quyền lợi thành viên trên nhiều kênh. Vì vậy, chất lượng dịch vụ ngày càng được hình thành từ nhiều điểm tiếp xúc.
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu này kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống nhằm hệ thống hóa bằng chứng, nhận diện khoảng trống và đề xuất khung tích hợp cùng hướng nghiên cứu cho logistics Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long.
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.
Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Nhu cầu du khách và phát triển du lịch trải nghiệm bền vững tại làng nghề nước mắm Phú Quốc

Bên cạnh tài nguyên biển đảo và hệ thống dịch vụ nghỉ dưỡng, Phú Quốc còn sở hữu nghề làm nước mắm truyền thống có lịch sử lâu đời và gắn chặt với đời sống của cộng đồng cư dân biển đảo.