Hoàn thiện xây dựng định mức chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất bê tông khu vực miền Bắc

Nghiên cứu - Trao đổi 11:13 | 13/10/2026
Việc củng cố, phát triển hệ thống hạ tầng, đô thị hóa và xu hướng hiện đại hoá của đất nước đã tạo động lực mạng mẽ cho sự phát triển của ngành sản xuất vật liệu xây dựng, trong đó có ngành sản xuất bê tông.

ThS. Nguyễn Thị Phương Hoa

Khoa Kế toán, Phân hiệu Học viện Tài chính tại tỉnh Hưng Yên

E-mail: [email protected]

Tóm tắt

Việc củng cố, phát triển hệ thống hạ tầng, đô thị hóa và xu hướng hiện đại hoá của đất nước đã tạo động lực mạng mẽ cho sự phát triển của ngành sản xuất vật liệu xây dựng, trong đó có ngành sản xuất bê tông. Dù vậy, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, biến động của giá nguyên liệu đầu vào cùng các yêu cầu bắt buộc về phát triển bền vững, các doanh nghiệp trong ngành đang phải đối mặt với thử thách lớn. Do đó, việc xây dựng hệ thống định mức chi phí khoa học là nhân tố giúp doanh nghiệp dự toán, đưa ra chính sách giá bán cạnh tranh, kiểm soát dòng tiền, đánh giá đo lường kết quả hoạt động thực tế so với các mục tiêu kế hoạch đã đề ra.

Từ khoá: Định mức sản xuất, bê tông thương phẩm, bê tông đúc sẵn, doanh nghệp sản xuất bê tông

Abstract

The development of infrastructure, urbanization, and the country’s modernization process have provided strong impetus for the growth of the construction materials industry, including the concrete manufacturing sector. However, amid increasingly intense competition, fluctuations in input material prices, and mandatory requirements for sustainable development, enterprises in this sector face significant challenges. Therefore, establishing a scientific system of cost standards is essential for enabling enterprises to estimate costs, develop competitive pricing policies, control cash flows, and evaluate actual operating performance against established plans and targets.

Keywords: Production cost standards, ready mixed concrete, precast concrete, concrete manufacturing enterprises

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự tăng trưởng mạnh mẽ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật cùng tiến trình đô thị hóa nhanh chóng đã khẳng định vị thế nòng cốt của ngành sản xuất bê tông trong hệ thống cung ứng vật liệu xây dựng. Dù vậy, các doanh nghiệp trong ngành đang đối mặt với nhiều thách thức lớn, đặc biệt là áp lực cạnh tranh khốc liệt, sự biến động khó lường của giá nguyên vật liệu (NVL) đầu vào (xi măng, cát, đá, phụ gia) và những định hướng từ chính sách quản lý nhà nước. Thực trạng này đòi hỏi các đơn vị sản xuất phải tìm ra giải pháp tối ưu hóa chi phí và nâng cao năng lực quản trị. Trong đó, định mức chi phí sản xuất đóng vai trò then chốt, là nền tảng cho việc lập kế hoạch cung ứng, tính toán giá thành dự toán, kiểm soát chi phí phát sinh và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực. Do đó, việc xem xét, đánh giá hoàn thiện xây dựng định mức tại doanh nghiệp để từ đó đề xuất các giải pháp mang tính đặc thù là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát chi phí.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Hồ Mỹ Hạnh (2014) cho rằng, trong việc lập dự toán, chi phí nên tách biệt chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động, chia theo từng yếu tố và chia theo khoản mục chi phí bất biến và chi phí khả biến. đây là cơ sở để phân tích biến động chi phí và xác định nguyên nhân tăng giảm chi phí.

Đào Thúy Hà (2015) cho rằng, lập định mức và xây dựng dự toán tại doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu quản trị doanh nghiệp và cũng cần phải dựa trên cơ sở hướng tới mục tiêu của doanh nghiệp. Điều này đưa ra giải pháp cần phải lập dự toán tại các trung tâm chi phí kỹ thuật và trung tâm chi phí tùy ý.

Tô Minh Thu (2019) trong nghiên cứu về hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam, cho thấy các doanh nghiệp đã tiến hành xác định chênh lệch giữa thực tế với định mức và dự toán chi phí đối với yếu tố chi phí NVL và công cụ, dụng cụ. Tuy nhiên việc xác định chênh lệch cũng chưa được thực hiện một cách thường xuyên; thông tin định mức, dự toán chi phí xây dựng cho các khoản mục chưa nhất quán với cách nhận diện chi phí, cụ thể là các doanh nghiệp chưa xây dựng định mức và lập dự toán chi phí cho từng khoản mục theo chức năng hoạt động của chi phí.

Lã Thị Thu (2021) đã chỉ ra một số tồn tại các DN sản xuất thuốc lá thuộc tổng công ty Thuốc lá Việt Nam như không xây dựng định mức cho chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung và các chi phí ngoài sản xuất; về lập dự toán thì mới lập dự toán chi phí NVL trực tiếp; các kỹ thuật kế toán quản trị phục vụ phân tích thông tin chưa được triển khai áp dụng. Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp: xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung; xây dựng dự toán linh hoạt giúp doanh nghiệp có các quyết định về giá bán thành phẩm hoặc thành phẩm; nên tập hợp chi phí theo phương pháp chi phí thực tế kết hợp với định mức và chi phí kế hoạch.

Nguyễn Thị Kim Chi (2023) trong nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp nhiệt điện thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã chỉ ra rằng, các doanh nghiệp đã sử dụng định mức trong sản xuất, riêng định mức NVL được lập căn cứ trên định mức của Tập đoàn ban hành nên thiếu tính linh hoạt khi áp dụng tại từng đơn vị sản xuất. Bên cạnh đó, các định mức và dự toán chi phí khác cũng chưa được xây dựng một cách đầy đủ tại các đơn vị này. Từ đó, tác giả đưa ra giải pháp bổ sung việc xây dựng định mức chi phí vật liệu xử lý chất thải; xây dựng đơn giá chi tiết cho các bước cụ thể theo từng phân xưởng phù hợp với tình hình sản xuất điện thực tế và xây dựng định mức nhân công xử lý chất thải; phân tích biến động các khoản mục chi phí nhằm đánh giá chung mức chênh lệch giữa thực tế so với định mức để làm rõ mức tiết kiệm hay vượt chi của từng khoản mục chi phí phát sinh.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Việc thiết lập hệ thống định mức chi phí đóng vai trò quan trọng trong hoạt động điều hành của ban quản trị. Một hệ thống định mức khoa học và sát thực tế tạo tiền đề cho tổ chức tối ưu hóa công tác giám sát tài chính, từ đó đề xuất các quyết sách quản trị mang tính chiến lược và hiệu quả.

Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Theo Nguyễn Vũ Việt, Mai Ngọc Anh (2020), định mức chi phí NVL trực tiếp được xây dựng riêng biệt cho 2 yếu tố giá và lượng của khoản mục chi phí này. Công thức tính định mức NVL trực tiếp để sản xuất sản phẩm như sau:

Định mức chi phí NVL cho 1 đơn vị sản phẩm

=

Định mức giá cho 1 đơn vị NVL

x

Định mức lượng NVL cho 1 đơn vị sản phẩm

Định mức số lượng NVL tiêu hao cho 1 đơn vị sản phẩm

=

Số lượng NVL

chính tiêu hao để

sản xuất 1 đơn vị sản phẩm

+

Số lượng NVL chính hao hụt định mức

Định mức chi phí nhân công trực tiếp

Theo Nguyễn Vũ Việt, Mai Ngọc Anh (2020), chi phí nhân công trực tiếp cũng là biến phí hay chi phí biến đổi. Định mức chi phí nhân công trực tiếp bao gổm định mức giá của 1 giờ công lao động trực tiếp và định mức lượng thời gian lao động trực tiếp cần thiết để hoàn thành một sản phẩm hoặc một khối lượng dịch vụ. Công thức xác định định mức chi phí nhân công trực tiếp như sau:

Định mức chi phí nhân công trực tiếp

=

Định mức về giá của 1 đơn vị thời gian lao động trực tiếp

x

Định mức về lượng thời gian cần thiết để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm

Định mức chi phí sản xuất chung

Theo Nguyễn Vũ Việt và Mai Ngọc Anh (2020), chi phí sản xuất chung mang tính chất phức hợp do cấu thành từ nhiều khoản mục bao gồm biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp. Do đó, việc ứng dụng các kỹ thuật tách biệt chi phí hỗn hợp thành 2 thành phần cố định và biến đổi là đòi hỏi bắt buộc. Mặt khác, đặc trưng của chi phí sản xuất chung là chi phí gián tiếp, gây khó khăn cho việc nhận diện và tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí; vì vậy, để tính toán giá thành bắt buộc phải tiến hành sử dụng phương pháp phân bổ. Như vậy, khi tiến hành lập định mức chi phí sản xuất chung cần xây dựng đồng thời định mức biến phí và định mức định phí, chi tiết hóa theo từng yếu tố chi phí cụ thể.

Định mức biến phí sản xuất chung được xây dựng dựa trên yếu tố giá và yếu tố lượng. Vì đây là chi phí thay đổi theo mức độ hoạt động nên định mức biến phí sản xuất chung thì có thể được tính theo một trong 2 cách sau:

- Nếu biến phí sản xuất chung có thể tập hợp trực tiếp tới từng loại sản phẩm như chi phí NVL phụ, chi phí nhân công gián tiếp… thì được xác định như chi phí NVL trực tiếp hoặc chi phí nhân công trực tiếp với công thức:

Định mức biến phí sản xuất chung cho 1 đơn vị sản phẩm

=

Định mức chi phí trực tiếp cho 1 đơn vị sản phẩm

x

Tỷ lệ biến phí sản xuất chung so với chi phí trực tiếp

- Nếu biến phí sản xuất chung liên quan gián tiếp đến nhiều loại sản phẩm thì căn cứ vào các tiêu thức để phân bổ chi phí sản xuất chung như số giờ máy hoạt động, số lượng sản phẩm sản xuất, số giờ lao động của công nhân trực tiếp… định mức biến phí sản xuất chung được xác định như sau :

Đơn giá phân bổ biến phí sản xuất chung cho 1 đơn vị tiêu thức phân bổ

=

Tổng biến phí sản xuất chung ước tính

Tổng tiêu thức phân bổ

Định mức biến phí sản xuất chung cho 1 đơn vị sản phẩm

=

Đơn giá phân bổ biến phí sản xuất chung cho 1 đơn vị tiêu thức phân bổ

x

Số đơn vị tiêu thức phân bổ để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm

Định mức chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng bao gồm nhiều yếu tố chi phí tạo thành, gồm cả yếu tố biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp. Cách xây dựng định mức chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng tương tự như cách xây dựng định mức chi phí sản xuất chung.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: sử dụng giáo trình kế toán, giáo trình kế toán quản trị, niên giám thống kê, tạp chí, báo cáo của ngành, bài báo đăng trên tạp chí liên quan đến định mức, website của các doanh nghiệp, khảo sát một số doanh nghiệp sản xuất bê tông khu vực miền Bắc… về các vấn đề liên quan đến xây dựng định mức tại các doanh nghiệp sản xuất, các nội dung liên quan đến doanh nghiệp sản xuất bê tông. Với tài liệu thu thập được, nghiên cứu phân tích tổng hợp, so sánh để đánh giá đúng thực trạng xây dựng định mức tại các doanh nghiệp sản xuất bê tông.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả

Tác giả tiến hành nghiên cứu ngẫu nhiên và gửi phiếu khảo sát cho 232 doanh nghiệp, nhận được phản hồi từ 166 doanh nghiệp sản xuất bê tông tại khu vực miền Bắc. Lĩnh vực sản xuất là bê tông thương phẩm (bê tông tươi) và bê tông đúc sẵn. Kết quả khảo sát nghiên cứu như Bảng 1.

Bảng 1: Thống kê kết quả khảo sát về xây dựng định mức

STT

Nội dung

Số lượng DN

Tỷ lệ (%)

1

Doanh nghiệp có xây dựng định mức chi phí không?

Có

166

100

Không

0

0

2

Đối tượng xây dựng định mức chi phí

Sản phẩm

166

100

Đơn đặt hàng

0

0

Hoạt động

0

0

Khác

0

0

3

Nội dung xây dựng định mức chi phí tại doanh nghiệp

NVL trực tiếp

166

100

Nhân công trực tiếp

35

21,08

Sản xuất chung

0

0

Bán hàng và quản lý doanh nghiệp

0

0

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Theo kết quả khảo sát, các doanh nghiệp quan tâm đến việc xây dựng định mức chi phí, với 166/166 DN được khảo sát (chiếm 100%) đã tiến hành xây dựng định mức chi phí với là từng mác bê tông hoặc từng loại bê tông đúc sẵn.

Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Theo kết quả khảo sát, 166/166 doanh nghiệp được khảo sát đều xây dựng định mức chi phí NVL trực tiếp, do xuất phát từ đặc điểm sản xuất bê tông tươi, bê tông đúc sẵn thì việc sản xuất sản phẩm phải đảm bảo về chất lượng theo tiêu chuẩn cấp phối bê tông của Bộ Xây dựng.

Ví dụ, tại Công ty TNHH Việt Đức, định mức cấp phối bê tông của các mác bê tông 150, 200, 250, 300, 350, 400 với cốt liệu là xi măng PCB40 và các loại kích thước đá 1x2, 2x4 được xây dựng cụ thể (Bảng 2).

Bảng 2: Định mức cấp phối 1m3 bê tông xi măng PCB40 mác 100, 150, 200, 250, 300, 350, 400

Độ sụt: 2-4cm, cỡ đá Dmax = 20mm, Dmax = 40mm

Mác bê tông

Xi măng PCB40 (Kg)

Cát vàng

(m3)

Đá

( m3 )

Nước (lít)

Phụ gia

Bê tông mác 150 đá 1×2

243

0,503

0,879

195

Bê tông mác 200 đá 1×2

274

0,484

0,872

195

Bê tông mác 250 đá 1×2

308

0,466

0,865

195

Bê tông mác 300 đá 1×2

352

0,443

0,858

195

Bê tông mác 350 đá 1×2

399

0,417

0,845

195

Bê tông mác 400 đá 1×2

449

0,391

0,832

195

Dẻo hóa

Bê tông mác 150 đá 2×4

219

0,511

0,904

175

Bê tông mác 200 đá 2×4

242

0,495

0,895

175

Bê tông mác 250 đá 2×4

278

0,475

0,883

175

Bê tông mác 300 đá 2×4

321

0,451

0,871

175

Nguồn: Công ty TNHH Việt Đức

Lượng nước sử dụng cho 2 loại đá khác nhau có sự khác nhau là do:

Tổng diện tích bề mặt nhỏ hơn: Đá 2x4 có kích thước hạt lớn hơn đá 1x2. Với cùng một thể tích cốt liệu đá, hạt càng lớn thì tổng diện tích bề mặt cần phủ bọc bởi hồ xi măng càng nhỏ. Do đó, lượng hồ xi măng (bao gồm cả nước và xi măng) cần để bôi trơn và liên kết bề mặt đá sẽ giảm đi.

Cấu trúc khoảng trống lớn hơn: Cốt liệu lớn hơn tạo ra các lỗ rỗng giữa các viên đá có kích thước lớn nhưng tổng lượng thể tích rỗng giảm đi nếu được chèn chặt tốt bằng cát. Điều này cho phép hồ xi măng dễ dàng lấp đầy, tăng độ linh động của hỗn hợp mà không cần thêm nhiều nước.

Tối ưu hóa tỷ lệ Nước/Xi măng: Vì diện tích cần phủ bọc giảm, lượng hồ bao bọc ít hơn nên lượng nước tự do cần thiết để tạo độ sụt (độ dẻo) cho bê tông cũng giảm theo nhằm duy trì cường độ chịu lực thích hợp của mác.

Tuy nhiên, không có định mức cấp phối cho bê tông mác 350 và mác 400 sử dụng đá 2x4 vì để đảm bảo về mặt kỹ thuật:

Đảm bảo cường độ cao: Bê tông mác cao (M350, M400 trở lên) đòi hỏi độ đặc đặc biệt lớn và diện tích tiếp xúc liên kết hoàn hảo giữa hồ xi măng và cốt liệu. Khi dùng đá cỡ lớn như 2x4 cm, cấu trúc khoảng trống lớn giữa các viên đá dễ tạo ra vùng liên kết yếu (vùng chuyển tiếp), làm suy giảm cường độ chịu nén của khối bê tông.

Nguy cơ phân tầng cao: Lượng xi măng trong bê tông mác 350 và M400 rất lớn. Nếu phối trộn cùng đá lớn 2x4 cm, hỗn hợp bê tông rất dễ bị phân tầng, cốt liệu nặng bị chìm xuống dưới, gây hiện tượng rỗ tổ ong và không đồng đều kết cấu.

Định mức chi phí nhân công trực tiếp

Đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp sản xuất bê tông khu vực miền Bắc sẽ chi phối cách xác định định mức chi phí nhân công trực tiếp. Quy trình sản xuất bê tông là một quy trình khép kín từ khâu đưa nguyên liệu vào máy đến khâu bơm bê tông lên sàn hoặc vào khuôn (đối với bê tông đúc sẵn). Toàn bộ quy trình, NVL đều ở trên dây chuyền sản xuất, nên chi phí nhân công trực tiếp trong các doanh nghiệp chủ yếu là chi phí tiền lương của công nhân trực tiếp điều hành máy móc và chi phí tiền lương của nhân công vận chuyển. Hiện nay có rất ít các doanh nghiệp sản xuất bê tông miền Bắc tiến hành xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp, số lượng 35/166 DN (chiếm 21,08%) và xây dựng mới chỉ mang tính chất ước lượng dựa vào kinh nghiệm sản xuất kinh doanh mà chưa có căn cứ khoa học và văn bản cụ thể nào.

Định mức chi phí sản xuất chung

Do đặc thù ngành sản xuất bê tông, sản phẩm trải qua nhiều giai đoạn trong quá trình sản xuất, mỗi giai đoạn lại do những bộ phận khác nhau đảm nhận nên định mức chi phí sản xuất chung rất phức tạp, các doanh nghiệp sản xuất bê tông khu vực miền Bắc chưa tiến hành xây dựng định mức chi phí sản xuất chung.

Định mức chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí hỗn hợp, bao gồm nhiều khoản chi phí khác nhau nên việc tách và xây dựng được định mức gặp rất khó khăn, phức tạp. Hiện nay các doanh nghiệp đều không xây dựng định mức chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.

Thảo luận

Kết quả đạt được

Hiện nay, tất cả các doanh nghiệp sản xuất bê tông khu vực miền Bắc đều đã xây dựng định mức chi phí. Đây là cơ sở cho việc lập dự toán chi phí, đồng thời định mức chi phí là cơ sở để triển khai, so sánh, đánh giá, phân tích tình hình thực hiện chi phí sản xuất kinh doanh.

Tồn tại

Việc xây dựng định mức chi phí sản xuất kinh doanh yêu cầu nguồn lực lớn về thời gian, nhân sự cũng như chuyên môn để đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy trong dự toán. Tuy nhiên, tại các doanh nghiệp sản xuất bê tông, năng lực chuyên môn của đội ngũ nhân sự hiện nay vẫn còn hạn chế, dẫn đến việc xây dựng hệ thống định mức chưa đạt được đồng bộ. Hiện tại, định mức chủ yếu đóng vai trò làm cơ sở tính giá thành trong một số tình huống cụ thể và làm căn cứ để quyết định tiếp nhận đơn đặt hàng. Bên cạnh đó, việc nhà quản trị chưa có nhận thức đầy đủ giá trị của thông tin định mức trong việc ra quyết định và điều hành doanh nghiệp đã khiến việc xây dựng định mức chưa nhận được sự đầu tư tương xứng về tài chính lẫn nhân lực.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Nghiên cứu đã cung cấp góc nhìn toàn diện và chuyên sâu về việc xây dựng định mức chi phí sản xuất kinh doanh. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần củng cố hệ thống lý luận về quản trị chi phí mà còn mang lại giá trị thực tiễn thiết thực thông qua hệ thống giải pháp mang tính đột phá và khả thi. Các đề xuất này là căn cứ quan trọng giúp các doanh nghiệp quản lý chi phí, tối ưu hóa nguồn lực và củng cố vị thế cạnh tranh trên thị trường.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

Thứ nhất, về định mức chi phí nguyên vật liệu

Để xây dựng định mức chi phí NVL, cần xây dựng định mức về lượng và định mức về giá của từng loại NVL để sản xuất từng mác bê tông tươi, từng mẫu bê tông đúc sẵn. Nguyên liệu sử dụng cho sản xuất từng loại là khác nhau nên sẽ xây dựng định mức chi phí NVL trực tiếp riêng cho từng loại. Cụ thể:

Định mức về lượng tiêu hao nguyên vật liệu

Số lượng NVL tiêu chuẩn để sản xuất 1m3 bê tông cần phải được bộ phận kỹ thuật trong các doanh nghiệp sản xuất bê tông xây dựng một cách khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp. Ngoài ra, cần phải lưu ý đến phần hao hụt cho phép trong quá trình bảo quản hoặc vận chuyển.

Lượng NVL cần thiết để xuất kho cho sản xuất

=

Định mức lượng NVL tiêu hao để sản xuất 1 m3 bê tông

x

Số lượng m3 bê tông cần sản xuất

Định mức giá nguyên vật liệu

Định mức giá NVL phải được xác định dựa trên tất cả các chi phí mua và các chi phí phát sinh khác như lưu kho, lưu bãi, chi phí vận chuyển… trong quá trình thu mua NVL.

Để xác định định mức chi phí NVL trực tiếp, ta làm như sau:

Định mức chi phí NVL trực tiếp

=

Định mức về lượng NVL

x

Định mức về giá NVL

Thứ hai, về định mức chi phí nhân công trực tiếp

Quy trình sản xuất bê tông là một quy trình khép kín từ khâu đưa nguyên liệu vào máy đến khâu đưa bê tông tươi vào công trình. Toàn bộ quy trình trộn, vận chuyển, đưa bê tông lên sàn… NVL từ lúc đưa vào đều ở trên dây chuyền sản xuất, nên chi phí nhân công trực tiếp trong các doanh nghiệp chủ yếu là chi phí tiền lương của công nhân trực tiếp điều hành máy móc và chi phí tiền lương của nhân công vận chuyển. Vì các mác bê tông có quy trình sản xuất tương tự nhau, chỉ khác về tỉ lệ NVL, kích cỡ đá nên định mức chi phí nhân công trực tiếp tính cho các mác bê tông khác nhau là tương tự nhau. Để xây dựng định mức chi phí nhân công trong các DN sản xuất bê tông tươi thì cần phải thực hiện chia hoạt động của công nhân trực tiếp sản xuất thành 2 nhóm công việc cụ thể là hoạt động sản xuất của công nhân đứng máy hoạt động sản xuất và công nhân vận chuyển, bơm bê tông lên sàn. Tổng hợp chi phí nhân công của 2 nhóm công việc trên sẽ tính được định mức chi phí nhân công trực tiếp để sản xuất 1 m3 bê tông tươi. Công thức tính như sau:

- Hoạt động sản xuất của công nhân vận hành máy trộn bê tông

Định mức chi phí nhân công của công nhân đứng máy

=

Định mức lượng thời gian đứng máy để trộn 1 m3 bê tông

x

Định mức giá tiền lương của 1 giờ công của công nhân vận hành máy

- Hoạt động sản xuất của công nhân vận chuyển, bơm bê tông lên sàn

Tương tự như định mức chi phí nhân công vận hành máy trộn, công ty xác định chi phí vận chuyển, bơm bê tông lên sàn tính theo số m3 bê tông vận chuyển, bơm bê tông lên sàn. Đối với doanh nghiệp sản xuất bê tông đúc sẵn thì sẽ thêm chi phí nhân công công đoạn làm khuôn (sau khi đổ bê tông vào khuôn sẽ được bê tông đúc theo hình dạng mong muốn).

Thứ ba, về định mức chi phí sản xuất chung

Trong các DN sản xuất bê tông, chi phí sản xuất chung rất phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố chi phí: chi phí cố định và chi phí hỗn hợp. Định mức chi chi phí sản xuất chung cố định thì không có sự thay đổi trong phạm vi hoạt động phù hợp. Đối với chi phí hỗn hợp, để xây dựng được định mức chi phí sản xuất chung, trước hết doanh nghiệp cần thực hiện phân tích chi phí hỗn hợp thành chi phí cố định và chi phí biến đổi theo phương pháp doanh nghiệp lựa chọn, sau đó thực hiện xây dựng định mức chi phí sản xuất chung hỗn hợp.

Chi phí sản xuất chung tại các doanh nghiệp sản xuất bê tông có nhiều yếu tố chi phí. Để xây dựng định mức chi phí sản xuất chung, cần xây dựng định mức cho từng yếu tố chi phí hoặc nhóm yếu tố chi phí có cùng đặc điểm nguồn phát sinh chi phí như: chi phí thuê máy phát điện, chi phí kiểm nghiệm, chi phí tiền điện, chi phí xăng, dầu, chi phí thay dầu máy, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, chi phí bơm thuốc sát trùng, khử trùng, chi phí sửa chữa, thay thế điện nước, chi phí dụng cụ…

Sau khi xác định được các nhóm chi phí sản xuất chung, thực hiện xây dựng định mức chi phí sản xuất chung cho các nhóm chi phí.

Thứ tư, về định mức chi phí bán hàng và định mức chi phí quản lý doanh nghiệp

Cách xây dựng định mức của chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng được thực hiện tương tự cách xây dựng định mức chi phí sản xuất chung. Tại các doanh nghiệp sản xuất bê tông, định mức của chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp có thể được xây dựng bằng nhiều phương pháp như: phương pháp phân tích, phương pháp quan sát thực tế, phương pháp sản xuất thử hoặc kết hợp nhiều phương pháp nhằm đưa ra định mức chi phí phù hợp với đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó giúp nhà quản trị theo dõi và nắm được tình hình thông tin chi phí tại doanh nghiệp.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài chính (2002). Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC về việc ban hành và công bố sáu (06) chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 2).

2. Bộ Tài chính (2006). Thông tư số 53/2006/TT-BTC hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp.

3. Bộ Tài chính (2016). Thông tư số 53/2016/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 200/2014/TT-BTC.

4. Bộ Tài chính (2025). Thông tư số 99/2025/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp.

5. Đào Thúy Hà (2015). Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thép ở Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

6. Hồ Mỹ Hạnh (2014). Tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp may Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

7. Lã Thị Thu (2021). Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá thuộc tổng công ty thuốc lá Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính.

8. Nguyễn Thị Kim Chi (2023). Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại các Doanh nghiệp nhiệt điện thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính.

9. Nguyễn Vũ Việt, Mai Ngọc Anh (2020). Giáo trình Kế toán quản trị. Nxb Học viện Tài chính.

10. Quốc hội (2003). Luật Kế toán số 03/2003/QH11.

11. Quốc hội (2015). Luật kế toán số 88/2015/QH13.

12. Tô Minh Thu (2019). Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính.

Ngày nhận bài: 12/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/9/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026

Các tin khác

Văn hóa đổi mới, năng lực đổi mới tiết kiệm và hiệu quả hoạt động tài chính: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp sản xuất tại Đồng Tháp

Văn hóa đổi mới, năng lực đổi mới tiết kiệm và hiệu quả hoạt động tài chính: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp sản xuất tại Đồng Tháp

Đổi mới tiết kiệm đang trở thành hướng tiếp cận phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất trong điều kiện nguồn lực hạn chế và áp lực cạnh tranh gia tăng. Nghiên cứu làm rõ vai trò của văn hóa đổi mới trong hình thành năng lực đổi mới tiết kiệm, đồng thời đánh giá tác động của năng lực này đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Quản lý thuế giá trị gia tăng trong bối cảnh chuyển đổi số: Nghiên cứu điển hình tại Thuế TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2025

Quản lý thuế giá trị gia tăng trong bối cảnh chuyển đổi số: Nghiên cứu điển hình tại Thuế TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2025

Với quy mô hoạt động kinh tế và số lượng người nộp thuế lớn, TP. Hồ Chí Minh là địa bàn phù hợp để nghiên cứu những vấn đề đặt ra trong quá trình hiện đại hóa quản lý thuế.
Tái cơ cấu nhân sự tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Tái cơ cấu nhân sự tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Chuyển đổi số đang thúc đẩy các ngân hàng thương mại cổ phần cơ cấu lại mô hình hoạt động và nguồn nhân lực. Nghiên cứu phân tích biến động nhân sự tại một số ngân hàng giai đoạn 2024-2025, làm rõ mối liên hệ với chiến lược kinh doanh và mức độ ứng dụng công nghệ, qua đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị nhân lực.
Kinh nghiệm một số nước về phát triển nguồn nhân lực khu vực công và hàm ý cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Kinh nghiệm một số nước về phát triển nguồn nhân lực khu vực công và hàm ý cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Nghiên cứu phân tích kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực khu vực công của Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc và rút ra một số hàm ý phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay.
Mô hình phát triển giao thông xanh qua sử dụng xe điện công cộng của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Mô hình phát triển giao thông xanh qua sử dụng xe điện công cộng của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Việt Nam hiện đang đứng trước thời điểm quan trọng để chuyển đổi, khi áp lực từ biến đổi khí hậu, tốc độ đô thị hóa và nhu cầu di chuyển an toàn - sạch - hiệu quả ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, các định hướng về chuyển đổi năng lượng xanh trong ngành giao thông vận tải cho thấy giảm phát thải trong giao thông đã trở thành một vấn đề chính sách chính thức.
Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Thực tế đã chứng minh rằng phát triển chuỗi liên kết đã tạo ra các khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn, đồng thời là cơ sở quan trọng để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hóa chủ lực đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm của mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Bán lẻ đang chuyển từ cung ứng hàng hóa tại điểm bán sang quản trị toàn bộ hành trình khách hàng. Thương mại điện tử, thanh toán số, ứng dụng di động và bán hàng đa kênh làm thay đổi cách cung ứng và đánh giá dịch vụ. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin trực tuyến, kiểm tra sản phẩm tại cửa hàng, đặt hàng online và sử dụng quyền lợi thành viên trên nhiều kênh. Vì vậy, chất lượng dịch vụ ngày càng được hình thành từ nhiều điểm tiếp xúc.
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.