Ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến thái độ và ý định tiêu dùng ẩm thực đường phố của sinh viên tại Hà Nội

Nghiên cứu - Trao đổi 10:52 | 20/08/2026
Xu hướng tiêu dùng thức ăn đường phố đang không ngừng gia tăng như một hệ quả tất yếu của nhịp sống hiện đại, trong đó sinh viên - nhóm dân cư tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn - được xem là đối tượng tiêu dùng tiêu biểu nhất.

ThS, NCS. Nguyễn Ánh Tuyết

Email: tuyet.nguyenanh@phenikaa -uni.edu.vn

ThS. Phạm Thuỳ Dương

Bộ môn Marketing, Đại học Phenikaa

Tóm tắt

Nghiên cứu này khám phá cơ chế tác động của giá trị cảm nhận đa chiều đến thái độ và ý định tái mua ẩm thực đường phố của sinh viên tại Hà Nội bằng việc kết hợp Lý thuyết hành vi có kế hoạch và Mô hình giá trị cảm nhận. Kết quả phân tích dữ liệu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính với cỡ mẫu 316 sinh viên tại Hà Nội đã khẳng định, Giá trị cảm nhận tổng thể (biến tiềm ẩn bậc hai) có tác động thuận chiều mạnh mẽ đến Thái độ, trong đó Giá trị cảm xúc và xã hội đóng vai trò dẫn dắt chính. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị thực tiễn giúp hộ kinh doanh và hỗ trợ cơ quan chức năng định hướng phát triển hoạt động kinh doanh ẩm thực đường phố tốt hơn.

Từ khoá: Ẩm thực đường phố, sinh viên Hà Nội, thái độ, giá trị cảm nhận, ý định tái mua

Abstract

This study examines the mechanism through which multidimensional perceived value influences attitudes and repurchase intentions toward street food among university students in Ha Noi by integrating the Theory of Planned Behavior (TPB) and the Perceived Value Model. Using structural equation modeling (SEM) with data collected from 316 university students in Hanoi, the findings confirm that overall perceived value, conceptualized as a second-order latent construct, has a strong positive effect on attitudes. Among the dimensions of perceived value, emotional and social values play the most influential roles. Based on these findings, the study proposes practical managerial implications for street food businesses and provides recommendations for relevant authorities to support the sustainable development and effective management of street food businesses.

Keywords: Street food, Hanoi University students, attitude, perceived value, repurchase intention

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh đô thị hoá diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, xu hướng tiêu dùng thức ăn đường phố đang không ngừng gia tăng như một hệ quả tất yếu của nhịp sống hiện đại, trong đó sinh viên - nhóm dân cư tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn - được xem là đối tượng tiêu dùng tiêu biểu nhất.

Lịch sử nghiên cứu về ẩm thực đường phố đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ việc tập trung vào vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm (Omemu và Aderoju, 2008) đến việc xem xét các đặc tính sản phẩm như hương vị và sự đa dạng (Privitera và Nesci, 2015). Các khung lý thuyết như Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajzen, 1991; Han và Kim, 2010) và khái niệm giá trị cảm nhận (Sweeney và Soutar, 2001; Zeithaml, 1988) đã được vận dụng rộng rãi để giải thích hành vi tiêu dùng. Bên cạnh đó, ý thức về sức khỏe cũng ngày càng được coi trọng trong việc định hình lựa chọn thực phẩm của giới trẻ (Michaelidou và Hassan, 2008; Rana và Paul, 2017). Mặc dù ẩm thực đường phố đang ngày càng khẳng định vai trò trong tiếp thị du lịch và kinh tế, các nghiên cứu hiện nay tại Việt Nam vẫn còn bộc lộ khoảng trống khi chủ yếu tập trung vào khách du lịch hoặc người tiêu dùng chung, mà chưa đi sâu vào phân khúc sinh viên.

Theo Sweeney và Soutar (2001), giá trị cảm nhận được xem là nhân tố nền tảng định hình ý định hành vi của sinh viên. Trong trường hợp của sinh viên - những cá nhân thường xuyên phải dung hoà giữa điều kiện tài chính có giới hạn và nhu cầu tham gia các trải nghiệm xã hội - giá trị cảm nhận nổi lên như một nhân tố có khả năng tiên đoán rõ nét nhất đối với cả thái độ lẫn hành vi tiêu dùng thực tế của họ. Hơn nữa, việc tiếp cận giá trị cảm nhận như một cấu trúc đa chiều - bao gồm cả yếu tố cảm xúc và xã hội (Sweeney và Soutar, 2001) - vẫn còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích tầm ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đa chiều đến thái độ và ý định tiêu dùng của sinh viên Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững cho loại hình ẩm thực đặc thù này.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)

Theo TPB, ý định hành vi là yếu tố dự báo trực tiếp và mạnh nhất của hành vi thực tế (Ajzen, 1991). Trong bối cảnh tiêu dùng thức ăn đường phố, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã xác nhận sức mạnh giải thích của TPB. Trần Thị Tuyết (2024) đã chứng minh rằng thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi đều có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến ý định tiêu dùng ẩm thực đường phố của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam. Tương tự, Kurt và Helhel (2023) xác nhận 3 thành phần của TPB cùng với yếu tố kinh nghiệm cá nhân có khả năng dự báo ý định tiêu dùng thức ăn đường phố của du khách. Trong phạm vi người tiêu dùng Việt Nam, Van và cộng sự (2020) ghi nhận chuẩn mực chủ quan, nhận thức hữu ích và thái độ đều ảnh hưởng tích cực đến ý định mua thực phẩm xanh tại TP. Hồ Chí Minh.

Những bằng chứng này cho thấy TPB là nền tảng lý thuyết phù hợp để xây dựng mô hình nghiên cứu. Kế thừa TPB, nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa thái độ đối với thức ăn đường phố và ý định tiêu dùng; đồng thời mở rộng mô hình bằng cách đưa vào các tiền đề của thái độ gồm giá trị cảm nhận đa chiều.

Lý thuyết giá trị cảm nhận

Giá trị cảm nhận được Zeithaml (1988) định nghĩa là sự đánh giá tổng thể của người tiêu dùng về tính hữu ích của một sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên nhận thức về những gì được nhận và những gì được cho đi. Tuy nhiên, cách tiếp cận đơn chiều này dần được thay thế bởi mô hình đa chiều của Sheth và cộng sự (1991) và sau đó là thang đo PERVAL của Sweeney và Soutar (2001) vốn phân chia giá trị cảm nhận thành 4 thành phần riêng biệt: giá trị chức năng - giá cả (functional value - price), giá trị chức năng - chất lượng (functional value - quality), giá trị xã hội (social value) và giá trị cảm xúc (emotional value).

Giá trị về giá cả (PRS - Price/Economic Value): phản ánh nhận thức của người tiêu dùng về mức độ hợp lý và tương xứng giữa chi phí bỏ ra và lợi ích nhận được (Sweeney và Soutar, 2001). Trong bối cảnh tiêu dùng thức ăn đường phố của sinh viên - nhóm có thu nhập hạn chế và nhạy cảm cao với giá - yếu tố này có vai trò đặc biệt quan trọng. The Table and Food Coordinate Society of Korea & Jeon (2022) xác nhận rằng giá trị kinh tế tác động tích cực đến thái độ đối với thực phẩm địa phương và từ đó ảnh hưởng đến ý định mua lại. Syaidah và Ernawadi (2024) cũng ghi nhận tác động tích cực và có ý nghĩa của giá trị giá cả đến thái độ và ý định quay lại địa điểm thức ăn đường phố.

Giá trị về chất lượng (QLY - Quality/Functional Value): đề cập đến đánh giá của người tiêu dùng về sự xuất sắc và tính đáng tin cậy của sản phẩm (Sweeney và Soutar, 2001). Trong lĩnh vực thực phẩm, chất lượng được cảm nhận bao gồm hương vị, độ tươi ngon, vệ sinh an toàn thực phẩm và sự nhất quán về tiêu chuẩn. Tacardon và cộng sự (2023) phát hiện rằng nhận thức về chất lượng thực phẩm ảnh hưởng đáng kể đến ý định mua thức ăn đường phố tại Philippines, thông qua tác động đến thái độ và các thành phần TPB. Tương tự, Seo và Lee (2021) xác nhận mối quan hệ tích cực giữa giá trị chức năng và thái độ của người tiêu dùng khi đánh giá thức ăn đường phố trong bối cảnh an toàn thực phẩm.

Giá trị xã hội (SCL - Social Value): phản ánh khả năng của một sản phẩm hay dịch vụ trong việc củng cố hình ảnh bản thân xã hội hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các tương tác xã hội của người tiêu dùng (Sheth và cộng sự, 1991; Sweeney và Soutar, 2001). Thức ăn đường phố vốn mang đậm tính cộng đồng: việc ăn cùng bạn bè ở vỉa hè, chia sẻ trải nghiệm ẩm thực trên mạng xã hội hay giới thiệu địa điểm ăn uống cho người quen đều là những hành vi gắn với giá trị xã hội rõ nét. Choe và Kim (2018) xác nhận giá trị xã hội dự báo tích cực thái độ đối với thực phẩm địa phương và ý định hành vi của người tiêu dùng. Trong bối cảnh Việt Nam, Trần Thị Tuyết (2024) cũng ghi nhận giá trị xã hội - thể hiện qua khía cạnh chia sẻ và nhận diện văn hóa - là một thành phần quan trọng tác động đến ý định tiêu dùng ẩm thực đường phố của khách du lịch quốc tế.

Giá trị cảm xúc (Emotional Value): được định nghĩa là khả năng của sản phẩm trong việc gợi lên các trạng thái cảm xúc hoặc cảm giác tích cực nơi người tiêu dùng (Sweeney và Soutar, 2001). Đối với thức ăn đường phố, giá trị này thường được biểu hiện qua cảm giác thoải mái, hứng khởi, sự gắn kết với ký ức ẩm thực tuổi thơ, hay niềm tự hào về bản sắc ẩm thực địa phương. The Table and Food Coordinate Society of Korea & Jeon (2022) ghi nhận giá trị cảm xúc là thành phần có tác động mạnh nhất đến thái độ trong số các chiều giá trị cảm nhận. Fiandari và cộng sự (2019), trong nghiên cứu ứng dụng TPB mở rộng tại Indonesia, cũng xác nhận giá trị cảm xúc là nhân tố dự báo thái độ tái tiêu dùng thực phẩm truyền thống với mức ý nghĩa cao nhất. Tương tự, Zheng và cộng sự (2024) báo cáo rằng, giá trị cảm xúc có tác động gián tiếp đến ý định mua thực phẩm chế biến sẵn tại Trung Quốc thông qua trung gian thái độ hành vi.

Mặc dù 4 chiều kích trên thể hiện những khía cạnh riêng biệt của quá trình đánh giá giá trị, chúng đều phản ánh một cấu trúc chung và thống nhất hơn là giá trị cảm nhận tổng thể mà người tiêu dùng hình thành về một sản phẩm hay dịch vụ (Sweeney và Soutar, 2001; Woodruff, 1997). Về mặt lý thuyết, điều này có nghĩa là 4 thành phần bậc một không hoạt động độc lập, mà cùng nhau là biểu hiện của một khái niệm bậc cao hơn.

Cách tiếp cận đa chiều này ngày càng được ủng hộ trong tài liệu về hành vi tiêu dùng thực phẩm vì nó phản ánh đầy đủ hơn quá trình ra quyết định phức tạp của người tiêu dùng hiện đại - vốn không chỉ bị thúc đẩy bởi các yếu tố kinh tế mà còn bởi các động lực xã hội và cảm xúc (Choe và Kim, 2018; Sweeney và Soutar, 2001). Do đó, trong mô hình nghiên cứu này, giá trị cảm nhận được xem là một biến bậc hai (second-order construct) bao hàm 4 thành phần bậc một kể trên.

Mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận và thái độ đối với thức ăn đường phố

Thái độ của người tiêu dùng được hình thành chủ yếu từ sự đánh giá giá trị kỳ vọng (Ajzen, 1991). Khi một hành vi được nhận định mang lại giá trị cao - dù là về kinh tế, chức năng, xã hội hay cảm xúc - người tiêu dùng thường hình thành thái độ tích cực (Fishbein và Ajzen, 1975).

Các nghiên cứu thực nghiệm đã củng cố mạnh mẽ mối quan hệ này. Choe và Kim (2018) khẳng định, giá trị cảm nhận tổng hợp có tác động thuận chiều đáng kể đến thái độ trong bối cảnh ẩm thực du lịch. Tương tự, Zheng và cộng sự (2024), Fiandari và cộng sự (2019) xác nhận giá trị cảm nhận đa chiều là tiền đề quan trọng hình thành thái độ trong các mô hình TPB mở rộng. Tại Việt Nam, Trần Thị Tuyết (2024) cũng ghi nhận giá trị cảm nhận tác động tích cực đến ý định tiêu dùng, nhấn mạnh vai trò điều hướng của thái độ trong chuỗi quan hệ này. Đối với sinh viên tại các đô thị đang phát triển, việc nhận thức được giá trị tổng hợp của thức ăn đường phố - sự hài hòa giữa túi tiền, chất lượng, yếu tố xã hội và sự kết nối cảm xúc - là động lực cốt lõi để hình thành thái độ tích cực. Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Choi và cộng sự (2013), Zheng và cộng sự, (2024), Fiandari và cộng sự (2019) đều thống nhất rằng, thái độ đóng vai trò trung gian thiết yếu, kết nối giá trị cảm nhận với ý định tiêu dùng thực tế.

Tổng hợp các bằng chứng, nghiên cứu này kỳ vọng thái độ đóng vai trò “cầu nối” chuyển hóa các đánh giá đa chiều của sinh viên thành ý định tái mua. Khi sinh viên cảm nhận được những giá trị vượt trội từ sự kết hợp giữa kinh tế và tính kết nối xã hội, những đánh giá này chuyển hóa thành trạng thái tâm lý tích cực, từ đó thúc đẩy hành vi tái mua bền vững. Việc kiểm định cơ chế trung gian này trong bối cảnh sinh viên Hà Nội là nền tảng cốt lõi để xây dựng mô hình nghiên cứu, giúp lý giải tại sao giá trị cảm nhận lại dẫn đến hành vi tiêu dùng cụ thể. Đây là tiền đề vững chắc để phát triển các giả thuyết về mối quan hệ giữa Giá trị cảm nhận tổng thể (PVE), Thái độ (ATF) và Ý định tái mua (SRI).

Dựa trên cơ sở lý thuyết về Giá trị cảm nhận đa hướng (PERVAL) của Sweeney và Soutar (2001), Thái độ của Spears và Singh (2004) và Ý định hành vi của Seo và Lee (2021), nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

Ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến thái độ và ý định tiêu dùng ẩm thực đường phố của sinh viên tại Hà Nội

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả

Các giả thuyết được phát triển như sau:

H1: Giá trị cảm nhận tổng thể về ẩm thực đường phố có tác động tích cực đến Thái độ đối với ẩm thực đường phố.

H2: Thái độ đối với ẩm thực đường phố có tác động tích cực đến Ý định mua lại đồ ăn đường phố.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 7 mức độ; riêng biến Thái độ (ATF) được đo lường bằng thang đo phân vi sai ngữ nghĩa nhằm phản ánh chính xác xu hướng nhận thức của cá nhân. Các thang đo đều kế thừa từ những nghiên cứu uy tín: cấu trúc giá trị cảm nhận (PVE) được thiết lập là biến tiềm ẩn bậc hai dựa trên thang đo PERVAL của Sweeney và Soutar (2001), bao gồm 4 khía cạnh (Giá trị giá cả, Chất lượng, Cảm xúc, Xã hội); trong khi biến Thái độ (ATF) và Ý định tái mua (SRI) được phát triển lần lượt từ Spears và Singh (2004) cùng Seo và Lee (2021).

Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiến hành khảo sát và thu về 316 mẫu hợp lệ từ sinh viên các trường đại học, cao đẳng tại Hà Nội. Mẫu nghiên cứu gồm nữ giới chiếm tỷ lệ 69%, nam giới 30.7% và tập trung chủ yếu ở độ tuổi từ 18-23 (chiếm 99.4%). Về đặc điểm hành vi, nhóm sinh viên này có xu hướng chi tiêu bình dân với 52.5% đáp viên chi dưới 500.000 đồng/tháng cho ẩm thực đường phố. Tần suất tiêu dùng thể hiện sự gắn kết thường xuyên, với nhóm sử dụng dịch vụ từ 1-2 lần mỗi tuần chiếm tỷ lệ cao nhất (45.9%). Cấu trúc dữ liệu thu được với độ phân hóa tốt, đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy cần thiết để thực hiện các phân tích mô hình cấu trúc.

Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Mô hình đo lường đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ tốt: hệ số tải nhân tố (Outer Loadings) dao động từ 0.877 đến 0.952 (> 0.70); Cronbach’s Alpha và độ tin cậy tổng hợp (CR) của các cấu trúc (PRS, SCL, EMT, QLY, AFT, SRI) đều vượt ngưỡng 0.70, khẳng định tính nhất quán nội bộ; đồng thời phương sai trích trung bình (AVE) > 0.50, đảm bảo giá trị hội tụ cho mô hình.

Bảng 1: Kết quả đánh giá tin cậy và giá trị hội tụ

Thành phần

Cronbach's Alpha

Hệ số tin cậy tổng hợp

Phương sai trích trung bình

Hệ số tải ngoài

Giá trị xã hội (SCL)

0952

0.965

0.874

SCL1 (0.912)

SCL2 (0.943)

SCL3 (0.943)

SCL4 (0.941)

Giá trị cảm xúc (EMT)

0.953

0.966

0.876

EMT1 (0.916)

EMT2 (0.941)

EMT3 (0.934)

EMT4 (0.952)

Giá trị về giá cả (PRS)

0.925

0.947

0.817

PRS1 (0.899)

PRS2 (0.911)

PRS3 (0.917)

PRS4 (0.888)

Giá trị về chất lượng (QLY)

0.920

0.943

0.806

QLY1 (0.895)

QLY2 (0.902)

QLY3 (0.906)

QLY4 (0.888)

Thái độ (ATF)

0.946

0.959

0.823

AFT1 (0.911)

AFT2 (0.925)

AFT3 (0.921)

AFT4 (0.881)

AFT5 (0.899)

Ý định tái mua (SRI)

0.920

0.943

0.806

SRI1 (0.913)

SRI2 (0.877)

SRI3 (0.873)

SRI4 (0.928)

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Theo kết quả ở Bảng 2, các khái niệm nghiên cứu có giá trị phân biệt rõ rệt. Riêng chỉ số HTMT giữa biến bậc 2 (PVE) và các khía cạnh thành phần của nó (EMT: 0.938; PRS: 0.925; SCL: 0.922) vượt ngưỡng 0.90 là hoàn toàn hợp lệ và phản ánh đúng bản chất đặc thù của phương pháp lặp chỉ báo (Repeated Indicators Approach) trong cấu trúc bậc 2.

Bảng 2: Kết quả phân tích giá trị phân biệt

Thành phần

AFT

EMT

PRS

PVE

QLY

SCL

SRI

AFT

EMT

0.643

PRS

0.730

0.733

PVE

0.783

0.938

0.925

QLY

0.709

0.572

0.691

0.827

SCL

0.638

0.881

0.711

0.922

0.537

SRI

0.840

0.722

0.715

0.787

0.569

0.717

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Đồng thời, hệ số tải bậc 2 của các biến thành phần tác động lên PVE lần lượt là: EMT (β = 0.312), SCL (β = 0.306), PRS (β = 0.288), và QLY (β = 0.253). Kết quả này chứng minh cả 4 khía cạnh đều đóng góp tích cực và có ý nghĩa vào việc hình thành nên cấu trúc tổng thể PVE.

Hình 2: Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc PLS-SEM (Bootstrapping)

Ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến thái độ và ý định tiêu dùng ẩm thực đường phố của sinh viên tại Hà Nội

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

Sau khi kiểm định mô hình bằng kỹ thuật Bootstrapping (5,000 mẫu lặp), kết quả thực nghiệm khẳng định Giá trị cảm nhận tổng thể (PVE) có tác động thuận chiều mạnh mẽ đến Thái độ (AFT) với hệ số β = 0.745 (T=25.415, p = 0.000), giải thích 55.5% sự biến thiên của AFT. Tiếp theo, AFT tác động tích cực đến Ý định tái mua (SRI) với hệ số β = 0.790 (T = 29.86, p = 0.000), giải thích 62.5% sự biến thiên của SRI. Phân tích hiệu ứng trung gian cho thấy đường truyền PVE -> AFT -> SRI có hệ số tác động gián tiếp đạt 0.589 (p = 0.000). Như vậy, Thái độ đóng vai trò trung gian quan trọng, giúp truyền tải phần lớn tác động từ Giá trị cảm nhận đến Ý định tái mua thực tế của sinh viên, khẳng định đây là cơ chế then chốt thúc đẩy hành vi tiêu dùng bền vững đối với ẩm thực đường phố.

Bảng 3: Kết quả ước lượng

Mối quan hệ

Hệ số tải bậc 2

(β)

T value

P value

Kết luận

QLY → PVE

0.253

27.807

0.000

Tác động cấu trúc bậc 2

EMT → PVE

0.312

39.173

0.000

Tác động cấu trúc bậc 2

PRS → PVE

0.288

40.122

0.000

Tác động cấu trúc bậc 2

SCL → PVE

0.306

38.260

0.000

Tác động cấu trúc bậc 2

PVE → AFT

0.745

25.415

0.000

Chấp nhận giả thuyết H1

AFT → SRI

0.790

29.860

0.000

Chấp nhận giả thuyết H2

PVE → AFT → SRI

0.589

16.448

0.000

Tác động gián tiếp (trung gian)

Nguồn: Kết quả phân tích của nhóm tác giả

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết luận

Nghiên cứu đã tập trung làm rõ cơ chế tác động của Giá trị cảm nhận đến Thái độ và Ý định tiêu dùng ẩm thực đường phố của sinh viên tại Hà Nội. Thông qua phương pháp mô hình hóa phương trình cấu trúc tuyến tính (PLS-SEM), nghiên cứu đã rút ra những kết luận cốt lõi:

Thứ nhất, Giá trị cảm nhận tổng thể (PVE) được xác nhận là một cấu trúc đa chiều bậc hai, trong đó, Giá trị cảm xúc (EMT, β = 0.312) và Giá trị xã hội (SCL, β = 0.306) đóng vai trò dẫn dắt chính. Điều này khẳng định rõ nét đặc thù tiêu dùng của thế hệ Gen Z, khi họ không chỉ tìm kiếm một giải pháp ăn uống tiết kiệm mà còn kỳ vọng vào những trải nghiệm tinh thần tích cực và không gian kết nối xã hội.

Thứ hai, Giá trị cảm nhận tổng thể có tác động thuận chiều trực tiếp đến Thái độ, giải thích được 55,5% sự biến thiên của biến thái độ, trong khi thái độ lại là tiền đề thúc đẩy Ý định tái mua với sức ảnh hưởng lớn, giải thích được 62.5% sự biến động của ý định hành vi.

Cuối cùng, nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò trung gian toàn diện của thái độ như một “cầu nối” thiết yếu, chuyển hóa những đánh giá lý trí và cảm xúc của sinh viên về giá trị món ăn thành ý định hành vi thực tế, giúp duy trì sự gắn kết lâu dài giữa người tiêu dùng trẻ và loại hình ẩm thực đường phố.

Hàm ý quản trị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các hàm ý quản trị cần bám sát đặc thù tiêu dùng của sinh viên Hà Nội như sau:

Đối với hộ kinh doanh: Sự thành công không chỉ đến từ chất lượng món ăn, mà từ “trải nghiệm xã hội”. Các chủ quán nên tập trung tạo không gian mở, thân thiện để nhóm bạn sinh viên dễ dàng tụ tập. Thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá, hãy tạo các combo nhóm bắt mắt và đẩy mạnh hiện diện trên các nền tảng mạng xã hội để lan tỏa trải nghiệm. Đặc biệt, sự ổn định về giá và cam kết vệ sinh an toàn thực phẩm phải được xem là nền tảng cốt lõi để giữ chân khách hàng trong bối cảnh sinh viên ngày càng khắt khe với các lựa chọn tiêu dùng.

Đối với cơ quan quản lý: Thay vì các biện pháp hành chính cứng nhắc, nên tập trung quy hoạch các tuyến phố ẩm thực văn minh, nơi kết hợp hài hòa giữa văn hóa vỉa hè đặc trưng và tiêu chuẩn vệ sinh hiện đại. Việc đơn giản hóa thủ tục cấp chứng nhận an toàn thực phẩm, kết hợp tổ chức các buổi tập huấn ngắn hạn tại chỗ cho tiểu thương, sẽ giúp củng cố niềm tin người tiêu dùng. Đây là cách bền vững để đưa ẩm thực đường phố trở thành một nét đẹp kinh tế hiện đại và tin cậy tại Hà Nội.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T

2. Choe, J. Y. (Jacey), & Kim, S. (Sam). (2018). Effects of tourists’ local food consumption value on attitude, food destination image, and behavioral intention. International Journal of Hospitality Management, 71, 1-10. https://doi.org/10.1016/j.ijhm.2017.11.007

3. Choi, J., Lee, A., & Ok, C. (2013). The Effects of Consumers’ Perceived Risk and Benefit on Attitude and Behavioral Intention: A Study of Street Food. Journal of Travel & Tourism Marketing, 30(3), 222-237. https://doi.org/10.1080/10548408.2013.774916

4. Fiandari, Y. R., Surachman, S., Rohman, F., & Hussein, A. S. (2019). Perceived value dimension in repetitive fish consumption in Indonesia by using an extended theory of planned behavior. British Food Journal, 121(6), 1220-1235. https://doi.org/10.1108/BFJ-07-2018-0429

5. Fishbein, M., & Ajzen, I. (1975). Belief, Attitude, Intention, and Behavior: An Introduction to Theory and Research. Reading, MA: Addison-Wesley.

6. Han, H., & Kim, Y. (2010). An investigation of green hotel customers’ decision formation: Developing an extended model of the theory of planned behavior. International Journal of Hospitality Management, 29(4), 659-668. https://doi.org/10.1016/j.ijhm.2010.01.001

7. Kurt, O. C., & Helhel, Y. (2023). Intention of Independent Travelers to Consume Street Foods in The Framework of Extended TPB: The Moderating Role of Hedonism. Advances in Hospitality and Tourism Research (AHTR), 11(3), 392-416. https://doi.org/10.30519/ahtr.1129337

8. Michaelidou, N., & Hassan, L. M. (2008). The role of health consciousness, food safety concern and ethical identity on attitudes and intentions towards organic food. International Journal of Consumer Studies, 32(2), 163-170. https://doi.org/10.1111/j.1470-6431.2007.00619.x

9. Omemu, A. M., & Aderoju, S. T. (2008). Food safety knowledge and practices of street food vendors in the city of Abeokuta, Nigeria. Food Control, 19(4), 396-402. https://doi.org/10.1016/j.foodcont.2007.04.021

10. Privitera, D., & Nesci, F. S. (2015). Globalization vs. Local. The Role of Street Food in the Urban Food System. Procedia Economics and Finance, 22, 716-722. https://doi.org/10.1016/S2212-5671(15)00292-0

11. Rana, J., & Paul, J. (2017). Consumer behavior and purchase intention for organic food: A review and research agenda. Journal of Retailing and Consumer Services, 38, 157-165. https://doi.org/10.1016/j.jretconser.2017.06.004

12. Seo, K. H., & Lee, J. H. (2021). Understanding Risk Perception toward Food Safety in Street Food: The Relationships among Service Quality, Values, and Repurchase Intention. International Journal of Environmental Research and Public Health, 18(13), 6826. https://doi.org/10.3390/ijerph18136826

13. Sheth, J. N., Newman, B. I., & Gross, B. L. (1991). Why we buy what we buy: A theory of consumption values. Journal of Business Research, 22(2), 159-170. https://doi.org/10.1016/0148-2963(91)90050-8

14. Spears, N., & Singh, S. N. (2004). Measuring Attitude toward the Brand and Purchase Intentions. Journal of Current Issues & Research in Advertising, 26(2), 53-66. https://doi.org/10.1080/10641734.2004.10505164

15. Sweeney, J. C., & Soutar, G. N. (2001). Consumer perceived value: The development of a multiple item scale. Journal of Retailing, 77(2), 203-220. https://doi.org/10.1016/S0022-4359(01)00041-0

16. Syaidah, F., & Ernawadi, Y. (2024). Consumption Values, Attitude, Place Identity, Dan Place Dependence Sebagai Anteseden Revisit Intention (Studi Pada Pengunjung Street Food Di Kota Bandung). Journal of Economic, Bussines and Accounting (COSTING), 7(3), 4804-4815. https://doi.org/10.31539/costing.v7i3.8587

17. Tacardon, E. R., Ong, A. K. S., & Gumasing, Ma. J. J. (2023). The Perception of Food Quality and Food Value among the Purchasing Intentions of Street Foods in the Capital of the Philippines. Sustainability, 15(16), 12549. https://doi.org/10.3390/su151612549

18. The Table and Food Coordinate Society of Korea, & Jeon, Y.-M. (2022). Effect of Perceived Value of Local Food on Repurchase Intention: Extended Theory of Planned Behavior. The Table and Food Coordinate Society of Korea, 17(3), 19-39. https://doi.org/10.26433/tfck.2022.17.3.19

19. Trần Thị Tuyết (2024). Ảnh hưởng của yếu tố giá trị tiêu dùng đến ý định tiêu dùng ẩm thực đường phố của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học Thương mại, số 187(2). DOI: 10.54404/JTS.2024.187V.06

20. Van, N. T. T., Duy, N. T., & Dung, P. T. (2020). Factors affecting green food purchase intention in Ho Chi Minh city. HCMcoujs - economics and business administration, 8(1). https://doi.org/10.46223/HCMCOUJS.econ.en.8.1.172.2018

21. Woodruff, R. B. (1997). Customer value: The next source for competitive advantage. Journal of the Academy of Marketing Science, 25(2), 139-153. https://doi.org/10.1007/BF02894350

22. Zeithaml, V. A. (1988). Consumer Perceptions of Price, Quality, and Value: A Means-End Model and Synthesis of Evidence. Journal of Marketing, 52(3), 2-22. https://doi.org/10.1177/002224298805200302

23. Zheng, S., Wang, L., & Yu, Z. (2024). The Impact of Multidimensional Perceived Value on Purchase Intentions for Prepared Dishes in China: The Mediating Role of Behavioral Attitudes and the Moderating Effect of Time Pressure. Foods, 13(23), 3778. https://doi.org/10.3390/foods13233778

Ngày nhận bài: 26/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/8/2026; Ngày duyệt đăng: 20/8/2026

Các tin khác

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Dự trữ năng lượng, đặc biệt là dự trữ xăng dầu và dầu thô, đóng vai trò như một tấm đệm giúp quốc gia ứng phó với các cú sốc nguồn cung, biến động giá cả và rủi ro địa chính trị trên thị trường quốc tế.
Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản

Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi theo hướng phát thải thấp nhằm đồng thời thực hiện cam kết đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050 và đáp ứng những tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe từ các thị trường xuất khẩu lớn.