Sự tham gia và mâu thuẫn của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái: Tổng quan trắc lượng thư mục và hàm ý quản trị tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 16:25 | 22/09/2026
Du lịch sinh thái được kỳ vọng vừa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, vừa cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, mâu thuẫn dễ phát sinh khi lợi ích, chi phí, quyền sử dụng tài nguyên và quyền tham gia quyết định không được phân chia hợp lý.

Nguyễn Duy Hưng

Giảng viên ngành Du lịch, Trường Đại học Gia Định

NCS ngành Du lịch, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

Email: [email protected]

Tóm tắt

Qua phân tích 253 bài báo trong cơ sở dữ liệu Web of Science giai đoạn 1993-2025 bằng phần mềm CiteSpace 6.2.R4, kết quả nghiên cứu cho thấy, trọng tâm nghiên cứu chuyển từ bảo tồn và quản lý khu bảo vệ sang sinh kế, nhận thức, quản trị và sự tham gia của cộng đồng. Bên cạnh đó, 3 vấn đề nổi bật liên quan đến mâu thuẫn của cộng đồng là phân chia lợi ích, quyền tiếp cận tài nguyên và quyền tham gia quyết định. Mặc dù, Việt Nam đã xuất hiện trong mạng hợp tác quốc tế từ năm 2021 nhưng chưa hình thành nhóm nghiên cứu độc lập. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm tăng tính minh bạch, bảo đảm tiếng nói cộng đồng và mở rộng hợp tác khu vực.

Từ khóa: CiteSpace, cộng đồng, du lịch sinh thái, trắc lượng thư mục, Việt Nam

Abstract

This study analyzes 253 articles indexed in the Web of Science database from 1993 to 2025, using CiteSpace 6.2.R4 to clarify community conflicts in ecotourism. The results show that research priorities have shifted from conservation and protected-area management toward livelihoods, perceptions, governance, and community participation. Three major issues have emerged: benefit sharing, access to resources, and participation in decision-making. Viet Nam has been part of the international collaboration network since 2021, but has not yet formed an independent research cluster. The study proposes enhancing transparency, ensuring community voices are heard, and expanding regional cooperation.

Keywords: CiteSpace, community conflicts, ecotourism, bibliometric analysis, Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Du lịch sinh thái (DLST) được kỳ vọng vừa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, vừa cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, mâu thuẫn dễ phát sinh khi lợi ích, chi phí, quyền sử dụng tài nguyên và quyền tham gia quyết định không được phân chia hợp lý. Nếu cư dân phải chịu nhiều hạn chế nhưng hưởng ít lợi ích, lòng tin và sự hợp tác giữa cộng đồng, chính quyền, doanh nghiệp và ban quản lý điểm đến có thể suy giảm (Appiah-Boateng và cộng sự, 2025; Le và cộng sự, 2025; Pham và cộng sự, 2021; Zhang và cộng sự, 2025).

Trong nghiên cứu này, mâu thuẫn cộng đồng được hiểu là những bất đồng hoặc tranh chấp giữa cư dân với chính quyền, doanh nghiệp du lịch, ban quản lý khu bảo tồn hoặc giữa các nhóm dân cư. Nguyên nhân thường liên quan đến bồi thường thiệt hại, phân chia doanh thu, quyền tiếp cận đất và rừng, cũng như mức độ tham gia vào quy hoạch. Mâu thuẫn vì vậy không chỉ là khác biệt quan điểm mà còn phản ánh cách quyền lực và nguồn lực được phân bổ. Xung đột thường rõ hơn khi cộng đồng gánh chi phí bảo tồn nhưng lợi ích du lịch tập trung vào một nhóm nhỏ (Coria và Calfucura, 2012; Kiss, 2004).

Tri thức về chủ đề này hiện phân tán trong các nghiên cứu về bảo tồn, kinh tế tài nguyên, quản lý điểm đến, du lịch cộng đồng và sinh kế. Phân tích trắc lượng thư mục và lập bản đồ khoa học giúp hệ thống hóa các công trình đã công bố, nhận diện chủ đề trung tâm, sự thay đổi theo thời gian, tài liệu nền tảng và mạng hợp tác giữa các quốc gia (Chen, 2006; Chen và cộng sự, 2010; Geng và cộng sự, 2024; Pu và cộng sự, 2022).

Các tổng quan gần đây chủ yếu xem xét DLST, xung đột du lịch hoặc quan hệ giữa khu bảo tồn và cộng đồng theo từng hướng riêng (Cui và cộng sự, 2025; Jin và Gao, 2025; Kashyap và cộng sự, 2026; Wu và cộng sự, 2025). Tại Việt Nam, CiteSpace đã được dùng trong một số nghiên cứu du lịch, nhưng chưa ghi nhận công trình trực tiếp lập bản đồ mâu thuẫn cộng đồng trong DLST trong phạm vi dữ liệu khảo sát (Hoa và cộng sự, 2025; Trần Thị Hồng Trinh, 2025; Trần Tuyên, 2026). Khoảng trống này đáng chú ý vì nhiều vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển và điểm DLST cộng đồng đang đối mặt với vấn đề sinh kế, sử dụng tài nguyên và chia sẻ lợi ích (Pham và Bui, 2020; Sang, 2024).

Nghiên cứu nhằm xác định các chủ đề chính, làm rõ sự thay đổi của lĩnh vực trong giai đoạn 1993-2025, xác định vị trí của Việt Nam trong mạng hợp tác quốc tế và đề xuất hàm ý quản trị phù hợp.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng trắc lượng thư mục kết hợp lập bản đồ khoa học. Dữ liệu được thu thập từ Web of Science và xử lý bằng CiteSpace 6.2.R4 (Chen, 2006). Mẫu gồm các bài báo đồng thời đề cập đến cộng đồng, mâu thuẫn và DLST. Chiến lược tìm kiếm được điều chỉnh từ Sevtiani và Abdullah (2025), kết hợp 3 nhóm từ khóa chỉ cộng đồng địa phương, bất đồng hoặc tranh chấp, và du lịch sinh thái. Các ký hiệu mở rộng được dùng để nhận diện nhiều dạng của cùng một từ. Thời gian khảo sát kéo dài từ năm 1993, khi xuất hiện bản ghi phù hợp đầu tiên, đến năm 2025.

Quá trình sàng lọc được thực hiện qua tiêu đề, tóm tắt và toàn văn. Từ 442 bản ghi ban đầu, 180 bản ghi bị loại ở vòng đầu và 9 bài bị loại sau khi đọc toàn văn, còn 253 bài đưa vào phân tích. Mạng tri thức được chia theo từng năm; thuật ngữ lấy từ tiêu đề, tóm tắt và từ khóa. Chỉ số g với k = 35 được dùng để giữ các nút nổi bật, đồng thời loại bớt liên kết yếu hoặc trùng lặp để mạng dễ quan sát. Nghiên cứu phân tích tần suất từ khóa, khả năng kết nối giữa các chủ đề, sự gia tăng chú ý trong từng giai đoạn, các tài liệu thường được trích dẫn cùng nhau và mạng hợp tác quốc gia. Tần suất cho biết mức độ xuất hiện; chỉ số kết nối phản ánh vai trò cầu nối; còn mức tăng chú ý cho thấy một chủ đề được quan tâm mạnh trong một khoảng thời gian.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Theo Bảng 1, trong giai đoạn 1993-2025, “du lịch sinh thái” xuất hiện nhiều nhất với 73 lượt nhưng chỉ số kết nối đạt 0,10. “Bảo tồn” xuất hiện 65 lượt và có chỉ số kết nối cao nhất, đạt 0,29; “cộng đồng” đứng tiếp theo với 0,23. Kết quả cho thấy bảo tồn và cộng đồng là 2 chủ đề nối kết các nghiên cứu về tài nguyên, quản lý, thái độ, xung đột và sinh kế.

Bảng 1: Các từ khóa quan trọng trong giai đoạn 1993-2025

Hạng

Từ khóa

Tần suất

Chỉ số kết nối

1

Du lịch sinh thái

73

0,10

2

Bảo tồn

65

0,29

3

Quản lý

57

0,11

4

Khu vực được bảo vệ

50

0,14

5

Cộng đồng

33

0,23

6

Du lịch

29

0,07

7

Thái độ

28

0,15

8

Xung đột

25

0,16

9

Bảo tồn đa dạng sinh học

22

0,1

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả phân tích CiteSpace

Dòng thời gian từ khóa cho thấy sự thay đổi rõ rệt. Giai đoạn đầu tập trung vào khu vực được bảo vệ, đa dạng sinh học, bảo tồn và thái độ của cư dân. Từ giữa thập niên 2010, các chủ đề về du lịch cộng đồng, phát triển cộng đồng, bồi thường, sinh kế và xung đột giữa người với động vật hoang dã xuất hiện nhiều hơn. Trọng tâm vì vậy chuyển từ câu hỏi bảo vệ tài nguyên sang cách tổ chức bảo tồn, phân chia lợi ích và bảo đảm sự tham gia của cư dân.

Hình: Dòng thời gian từ khóa trong nghiên cứu giai đoạn 1993-2025

Sự tham gia và mâu thuẫn của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái: Tổng quan trắc lượng thư mục và hàm ý quản trị tại Việt Nam

Nguồn: Tác giả xử lý dữ liệu từ Web of Science bằng CiteSpace 6.2.R4.

Mười hai cụm chủ đề (Hình) có thể gộp thành 3 nhóm: bảo tồn, quản lý đất và sinh kế; sự tham gia, lợi ích và quyền tiếp cận tài nguyên; thiệt hại, bồi thường và quyền quyết định. Dù biểu hiện khác nhau, phần lớn mâu thuẫn đều liên quan đến việc ai được hưởng lợi, ai chịu chi phí và cộng đồng có thực quyền trong quá trình ra quyết định hay không.

Bảng 2: Các dạng mâu thuẫn tiêu biểu

Chủ đề

Biểu hiện mâu thuẫn

Vấn đề quản trị

Người và động vật hoang dã

Thiệt hại mùa màng, vật nuôi; bất đồng về bồi thường

Chia sẻ chi phí bảo tồn và bồi thường hợp lý

Du lịch cộng đồng

Lợi ích tập trung ở một số hộ

Phân chia lợi ích công bằng

Bảo tồn và phát triển

Mâu thuẫn giữa bảo tồn, sinh kế và tăng trưởng du lịch

Cân bằng mục tiêu và quyền sử dụng tài nguyên

Quy hoạch du lịch

Bất đồng về vị trí, quy mô và tác động của dự án

Bảo đảm cộng đồng tham gia quyết định

Dịch vụ hệ sinh thái

Tranh luận về người đóng góp và người hưởng lợi

Minh bạch trong định giá và chi trả

Quản lý cộng đồng

Tham vấn hình thức hoặc nhóm có quyền lực chi phối lợi ích

Tăng đại diện, giám sát và trách nhiệm giải trình

Nguồn: Tác giả diễn giải từ kết quả phân cụm trên CiteSpace.

Phân tích mức tăng chú ý cho thấy, du lịch và dịch vụ hệ sinh thái nổi bật trong giai đoạn 2010-2018. Từ năm 2019, “quản lý” và “vườn quốc gia” tăng mạnh, cho thấy khu bảo vệ trở thành nơi tập trung các tranh chấp về sinh kế và quyền sử dụng tài nguyên. Từ năm 2023 đến 2025, các từ khóa “con người”, “xung đột”, “cộng đồng”, “nhận thức” và “sinh kế” cùng nổi lên. Xu hướng này cho thấy nghiên cứu gần đây chú ý hơn đến trải nghiệm của cư dân và tác động của chính sách đến đời sống hằng ngày.

Các tạp chí thường được trích dẫn cùng nhau phản ánh 2 nền tảng chính của lĩnh vực: bảo tồn tài nguyên và du lịch bền vững. Các công trình tiêu biểu lần lượt bàn về hiệu quả bảo tồn của DLST cộng đồng, trao quyền, nhận thức, phân chia lợi ích, thương mại hóa tài nguyên, nghèo đói, bất bình đẳng và xung đột giữa người với động vật hoang dã (Kiss, 2004; Krüger, 2005; Bruyere và cộng sự, 2009; Coria và Calfucura, 2012; Brockington và Duffy, 2010; Mendoza-Ramos và Prideaux, 2014; Das, 2015; Ma và cộng sự, 2019; Bhattarai và cộng sự, 2019). Bốn nội dung xuyên suốt là chi phí, lợi ích, sự tham gia và sinh kế.

Mạng hợp tác quốc gia tập trung chủ yếu tại Hoa Kỳ, Trung Quốc, Vương quốc Anh và Australia. Đông Nam Á ngày càng được quan tâm trong các nghiên cứu về sinh kế, cùng quản lý tài nguyên và xung đột người - động vật hoang dã. Việt Nam xuất hiện trong mạng hợp tác từ năm 2021, có liên kết với Thái Lan và Singapore, nhưng số lượng công bố còn ít và chưa hình thành nhóm nghiên cứu độc lập như một số nước trong khu vực.

THẢO LUẬN

Kết quả cho thấy lĩnh vực đang chuyển từ cách tiếp cận thiên về tài nguyên sang cách tiếp cận chú trọng con người và cách tổ chức quản lý. Bảo tồn vẫn giữ vai trò trung tâm, nhưng ngày càng được đánh giá thông qua ảnh hưởng của chính sách đến sinh kế, nhận thức và sự tham gia của cộng đồng. Sự nổi lên của các từ khóa về con người, cộng đồng và sinh kế từ năm 2023 củng cố xu hướng lấy cư dân làm trung tâm.

Các cụm chủ đề khác nhau đều hội tụ ở vấn đề công bằng và quyền lực. Bồi thường thiệt hại, chia sẻ doanh thu, quyền sử dụng đất và rừng, tham vấn quy hoạch hay việc một nhóm nhỏ chi phối lợi ích chung đều liên quan đến ba câu hỏi: lợi ích và chi phí được phân chia ra sao; cộng đồng có được tiếp cận thông tin và tham gia quyết định hay không; nhóm nào kiểm soát tài nguyên và cơ chế phân phối. Nghiên cứu vì vậy kết nối các hướng tài liệu vốn tách rời và đề xuất 3 cách nhìn chung: công bằng trong phân chia, công bằng trong quy trình và sự cân bằng quyền lực.

Đối với Việt Nam, trước hết cần công khai tiêu chí phân chia lợi ích, đối tượng hưởng lợi, phần doanh thu tái đầu tư cho cộng đồng và cách xử lý khi nguồn thu không đạt kỳ vọng. Thông tin phải được trình bày rõ ràng để người dân có thể hiểu và kiểm tra. Tiếp theo, sự tham gia cần chuyển từ lấy ý kiến hình thức sang cho phép cộng đồng ảnh hưởng thực sự đến quyết định. Đại diện cộng đồng nên bao gồm hộ nghèo, phụ nữ, người phụ thuộc vào rừng và các hộ không trực tiếp kinh doanh du lịch.

Các điểm DLST cũng cần có nơi tiếp nhận phản ánh, thời hạn xử lý và người chịu trách nhiệm rõ ràng. Đối với thiệt hại do động vật hoang dã, bồi thường cần dựa trên bằng chứng, có thủ tục đơn giản và đi kèm biện pháp phòng ngừa. Về nghiên cứu, Việt Nam nên xây dựng dữ liệu tại nhiều điểm đến và tăng hợp tác với Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Singapore để cải thiện khả năng so sánh và nâng vị trí trong mạng khoa học khu vực.

Nghiên cứu còn một số hạn chế: Dữ liệu chỉ lấy từ Web of Science nên có thể bỏ sót tài liệu trong các cơ sở dữ liệu khác và tạp chí tiếng Việt. Kết quả cũng phụ thuộc vào từ khóa tìm kiếm; phần mềm phản ánh cấu trúc công bố nhưng không đo trực tiếp mức độ nghiêm trọng của mâu thuẫn. Nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng nguồn dữ liệu và kết hợp bản đồ khoa học với phỏng vấn, khảo sát hộ dân, phân tích chính sách và so sánh các điểm đến.

KẾT LUẬN

Phân tích 253 bài báo giai đoạn 1993-2025 cho thấy, nghiên cứu về mâu thuẫn cộng đồng trong DLST đang chuyển từ bảo tồn và quản lý khu bảo vệ sang sinh kế, nhận thức, sự tham gia và quản trị. “Bảo tồn” và “cộng đồng” là 2 chủ đề có vai trò kết nối mạnh; từ năm 2023, con người, xung đột và sinh kế trở thành các hướng được quan tâm nổi bật. Phần lớn mâu thuẫn liên quan đến phân chia lợi ích và chi phí, quyền tiếp cận tài nguyên và quyền tham gia quyết định. Việt Nam có nhiều tình huống thực tế nhưng còn ít công bố quốc tế. Vì vậy, cần phát triển nghiên cứu tại nhiều điểm đến, mở rộng hợp tác khu vực và gắn kết quả nghiên cứu với cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch, đại diện cộng đồng thực chất và giải quyết khiếu nại có trách nhiệm.

Tài liệu tham khảo:

1. Appiah-Boateng, S., Potakey, H. M. D., & Boateng, J. S. (2025). Tourism-induced natural resource conflict: The case of Kakum National Park, Ghana. Environmental Challenges, 21, Article 101328. https://doi.org/10.1016/j.envc.2025.101328

2. Bhattarai, B. R., Wright, W., Morgan, D., Cook, S., & Baral, H. S. (2019). Managing human-tiger conflict: Lessons from Bardia and Chitwan National Parks, Nepal. European Journal of Wildlife Research, 65(3), Article 34. https://doi.org/10.1007/s10344-019-1271-x

3. Brockington, D., & Duffy, R. (2010). Capitalism and conservation: The production and reproduction of biodiversity conservation. Antipode, 42(3), 469-484. https://doi.org/10.1111/j.1467-8330.2010.00760.x

4. Bruyere, B. L., Beh, A. W., & Lelengula, G. (2009). Differences in perceptions of communication, empowerment, and conflict in devolved wildlife management in Kenya. Environmental Management, 43(1), 49-59. https://doi.org/10.1007/s00267-008-9189-9

5. Chen, C. (2006). CiteSpace II: Detecting and visualizing emerging trends and transient patterns in scientific literature. Journal of the American Society for Information Science and Technology, 57(3), 359-377. https://doi.org/10.1002/asi.20317

6. Chen, C., Ibekwe-SanJuan, F., & Hou, J. (2010). The structure and dynamics of co-citation clusters: A multiple-perspective co-citation analysis. Journal of the American Society for Information Science and Technology, 61(7), 1386-1409. https://doi.org/10.1002/asi.21309

7. Coria, J., & Calfucura, E. (2012). Ecotourism and the development of indigenous communities: The good, the bad, and the ugly. Ecological Economics, 73, 47-55. https://doi.org/10.1016/j.ecolecon.2011.10.024

8. Cui, C., Chen, Z., Hou, Y., & Wen, Y. (2025). Research progress on the governance of conflict between natural protected areas and communities in China: Based on bibliometric analysis from 1998 to 2023. Natural Protected Areas, 5(4), 63-77. https://doi.org/10.12335/2096-8981.2024031102

9. Das, M. (2015). Community-based ecotourism and its socio-economic importance: A case study of the Bali Island, the Indian Sundarbans. Tourism Management Perspectives, 15, 22-31. https://doi.org/10.1016/j.tmp.2015.03.009

10. Geng, Y., Zhang, X., Gao, J., Yan, Y., & Chen, L. (2024). Bibliometric analysis of sustainable tourism using CiteSpace. Technological Forecasting and Social Change, 202, Article 123310. https://doi.org/10.1016/j.techfore.2024.123310

11. Hoa, V. D., Tuan, T. H., Anh, N. T. N., & Tuan, D. V. (2025). eWOM in the tourism and hospitality industry: A bibliometric analysis using CiteSpace. Hue University Journal of Science: Economics and Development, 134(5D). https://doi.org/10.26459/hueunijed.v134i5D.7653

12. Jin, Z., & Gao, M. (2025). Global trends in research related to ecotourism: A bibliometric analysis from 2012 to 2022. SAGE Open, 15(1). https://doi.org/10.1177/21582440251316718

13. Kashyap, P., Kumar, A., Samyal, S., & Soren, M. (2026). Mapping community-tourism conflicts and collaborative governance in national parks: A bibliometric analysis (2000-2025) [Preprint]. Research Square. https://doi.org/10.21203/rs.3.rs-8707028/v1

14. Kiss, A. (2004). Is community-based ecotourism a good use of biodiversity conservation funds? Trends in Ecology & Evolution, 19(5), 232-237. https://doi.org/10.1016/j.tree.2004.03.010

15. Krüger, O. (2005). The role of ecotourism in conservation: A case study of the Taita Hills, Kenya. Biodiversity & Conservation, 14(3), 677-698. https://doi.org/10.1007/s10531-004-8416-2

16. Le, T. A., Butowski, L., Quirini-Popławski, Ł., & Nguyen, S. H. (2025). Local community participation in ecotourism development: A qualitative analysis in the Binh-Tri-Thien region, Vietnam. Przegląd Geograficzny, 97(1), 105-126. https://doi.org/10.7163/PrzG.2025.1.6

17. Ma, B., Cai, Z., Zheng, J., & Wen, Y. (2019). Conservation, ecotourism, poverty, and income inequality: A case study of nature reserves in Qinling, China. World Development, 115, 236-244. https://doi.org/10.1016/j.worlddev.2018.11.017

18. Mendoza-Ramos, A., & Prideaux, B. (2014). Indigenous ecotourism in the Mayan rainforest of Palenque: Empowerment issues in sustainable development. Journal of Sustainable Tourism, 22(3), 461-479. https://doi.org/10.1080/09669582.2013.828730

19. Pham, L. H., & Bui, H. T. (2020). Ecotourism and sustainable development in Vietnam's protected areas. In C. Dolezal, A. Trupp, & H. T. Bui (Eds.), Tourism and development in Southeast Asia (pp. 59-72). Routledge. https://doi.org/10.4324/9780429057854-5

20. Pham, L. H., Nguyen, L. T., Tran, D. V., Tran, B. K., & Pham, T. T. (2021). Impacts of payment for forest environmental services in Cat Tien National Park, Vietnam. Forests, 12(7), Article 921. https://doi.org/10.3390/f12070921

21. Pu, R., Chankoson, T., Dong, R. K., & Song, L. (2022). Bibliometrics-based visualization analysis of knowledge-based economy and implications to environmental, social and governance. Library Hi Tech, 41(5), 1324-1341. https://doi.org/10.1108/LHT-04-2022-0182

22. Sang, Đ. T. (2024). Tiềm năng và giải pháp phát triển bền vững du lịch sinh thái ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên -Văn hóa Đồng Nai. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, 13(5), 118-126.

23. Sevtiani, M., & Abdullah, T. (2025). Mapping conflicts involving local communities in tourism destinations: A systematic literature review. Journey: Journal of Tourismpreneurship, Culinary, Hospitality, Convention and Event Management, 8(1), 81-98. https://doi.org/10.46837/journey.v8i1.233

24. Trần Thị Hồng Trinh (2025). Phân tích trắc lượng thư mục về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch. Tạp chí Khoa học Quản lý và Kinh tế, (34).

25. Trần Tuyên (2026). Mapping trends in tourism experience co-creation: A bibliometric analysis using CiteSpace. VNUHCM Journal of Social Sciences and Humanities, 10(2), 3450-3468. https://doi.org/10.32508/vnuhcmjssh.v10i2.1146

26. Wu, Y., Bidin, S., & Johari, S. (2025). Evolution and trends in tourism conflict studies (2004-2024): A bibliometrics review. Multidisciplinary Reviews, 8(4), Article e2025120. https://doi.org/10.31893/multirev.2025120

27. Zhang, W., Zhang, B., Wang, Y., & Hou, Y. (2025). Community conflict, social capital, and participation in protected areas: A conservation management perspective. Journal of Sustainable Tourism, 33(3), 398-417. https://doi.org/10.1080/09669582.2024.2341234

Ngày nhận bài: 14/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/9/2026; Ngày duyệt đăng: 22/9/2026

Các tin khác

Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh tại Việt Nam

Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh tại Việt Nam

Chuyển đổi quản lý thuế đòi hỏi hộ kinh doanh nâng cao tuân thủ và thích ứng với quản lý số. Mô hình nghiên cứu đề xuất các yếu tố đến tuân thủ thuế, qua đó bổ sung bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh quản lý thuế tại Việt Nam.
Các yếu tố thúc đẩy lãnh đạo chuyển đổi của đội ngũ quản lý các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố thúc đẩy lãnh đạo chuyển đổi của đội ngũ quản lý các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh

Ngành Ngân hàng đang chịu tác động mạnh của chuyển đổi số, sự cạnh tranh từ các công ty công nghệ tài chính (fintech), sự thay đổi trong nhu cầu khách hàng và yêu cầu ngày càng cao về hiệu quả quản trị. Trong bối cảnh đó, lãnh đạo chuyển đổi có vai trò quan trọng trong việc định hướng thay đổi, thúc đẩy đổi mới và nâng cao khả năng thích ứng của tổ chức.
Kinh tế trải nghiệm và phát triển nông nghiệp đa giá trị tại Việt Nam: Lý luận, thực tiễn và định hướng chiến lược

Kinh tế trải nghiệm và phát triển nông nghiệp đa giá trị tại Việt Nam: Lý luận, thực tiễn và định hướng chiến lược

Thực tiễn Việt Nam cho thấy các yếu tố của kinh tế trải nghiệm đang ngày càng được tích hợp vào phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đặc biệt thông qua chương trình OCOP (mỗi xã 1 sản phẩm), du lịch nông thôn, sản phẩm đặc sản và các hoạt động quảng bá, kết nối thị trường. Đây cũng là hướng phù hợp với Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.
Các nhân tố ảnh hưởng đến cảm nhận chất lượng chuyến bay của hành khách tuyến TP. Hồ Chí Minh - Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến cảm nhận chất lượng chuyến bay của hành khách tuyến TP. Hồ Chí Minh - Hà Nội

Cảm nhận chất lượng chuyến bay không chỉ phản ánh các yếu tố hữu hình như tiện nghi trên chuyến bay và hiệu suất dịch vụ, mà còn bao gồm các yếu tố vô hình như thái độ phục vụ của nhân viên và trải nghiệm cảm xúc của hành khách trong suốt hành trình.
Tiềm năng phát triển du lịch nông nghiệp đô thị tại TP. Hồ Chí Minh

Tiềm năng phát triển du lịch nông nghiệp đô thị tại TP. Hồ Chí Minh

Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, TP. Hồ Chí Minh trở thành một siêu đô thị với nhiều tiềm năng phát triển mới, trong đó có sự phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch từ hoạt động nông nghiệp đô thị.
Thực hành logistics xanh, năng lực quản lý carbon và định hướng ESG: Mô hình nghiên cứu về hiệu quả ESG tại doanh nghiệp logistics Việt Nam

Thực hành logistics xanh, năng lực quản lý carbon và định hướng ESG: Mô hình nghiên cứu về hiệu quả ESG tại doanh nghiệp logistics Việt Nam

Trong ngành logistics, hoạt động vận tải, kho bãi và phân phối là những nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể, do đó việc nâng cao hiệu quả ESG được xem là giải pháp quan trọng nhằm giảm thiểu tác động môi trường và hướng tới phát triển bền vững.
Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu hành vi theo thời gian thực, các nền tảng số đang ngày càng có khả năng cung cấp những trải nghiệm được cá nhân hóa cụ thể như việc gợi ý sản phẩm phù hợp, đưa nội dung thích ứng và khả năng tương tác với khách hàng cũng được điều chỉnh theo từng cá nhân.
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Kể từ khi Thỏa thuận Xanh châu Âu được thông qua, EU đã đẩy mạnh việc chuyển đổi các chuẩn mực tự nguyện về ESG sang nghĩa vụ pháp lý có gắn chế tài và có tác động xuyên biên giới.
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Chuyển đổi số đã trở thành định hướng chiến lược của ngành ngân hàng Việt Nam, được thể chế hóa qua Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đến năm 2025, nhiều tổ chức tín dụng đã đạt trên 90% giao dịch của khách hàng thực hiện trên kênh số, hơn 87% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng.
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Bước vào những năm 2010, khái niệm AI đã vượt khỏi phạm trù khoa học máy tính thuần túy và bắt đầu ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành nghề yêu cầu kỹ năng phân tích dữ liệu chuyên sâu.