Phân tích hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến qua các sàn thương mại điện tử của sinh viên tại các trường đại học khu vực TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 18:33 | 22/07/2026
Hành vi mua hàng ngẫu nhiên là sự mong muốn mãnh liệt và thường được thúc đẩy bởi những phản ứng cảm xúc tức thời hơn là quá trình ra quyết định có suy nghĩ. Các dấu hiệu phổ biến của hành vi mua sắm ngẫu nhiên trực tuyến bao gồm mua hàng tự phát thường xuyên, không thể kiềm chế được cảm xúc mua sắm và dẫn đến cảm giác hối tiếc sau khi mua hàng.

TS. Huỳnh Minh Tâm

Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng

Email: tamhm@hiu.vn

NCS. Phạm Xuân Tới (Tác giả liên hệ)

Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng

Email: toipx@hiu.vn

Tóm tắt

Nghiên cứu đo lường tác động trực tiếp của sự mải mê cảm nhận, khuyến mãi bán hàng, sự hài lòng của khách hàng, áp lực về số lượng, sự hữu ích của thông tin đến hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến qua các sàn thương mại điện tử của sinh viên tại các trường đại học khu vực TP. Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy, sự mải mê cảm nhận, sự hài lòng của khách hàng, áp lực về số lượng (quantity pressure), sự hữu ích của thông tin có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến. Ngoài ra, vai trò điều tiết của niềm tin thương hiệu cũng được thừa nhận. Nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị kinh doanh sàn thương mại điện tử.

Từ khóa: Sàn thương mại điện tử, hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến, niềm tin thương hiệu

Abstract

This study examines the direct effects of perceived enjoyment, sales promotions, customer satisfaction, quantity pressure, and information usefulness on university students’ online impulse buying behavior through e-commerce platforms in Ho Chi Minh City. The findings reveal that perceived enjoyment, customer satisfaction, quantity pressure, and information usefulness have significant positive effects on online impulse buying behavior. In addition, brand trust is confirmed to play a moderating role in the proposed research model. The study provides practical implications for managers of e-commerce platforms, offering guidance on developing effective marketing strategies to stimulate consumers’ online purchasing behavior.

Keywords: E-commerce platforms, online impulse buying behavior, brand trust

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các nghiên cứu về hành vi mua hàng ngẫu nhiên vẫn cho ra các kết quả khác nhau về các nhân tố tác động. Cụ thể: Duyệt web theo sở thích, trải nghiệm nhận thức (Andreani & cộng sự, 2023) và sự vui thích (Ngo & cộng sự, 2025) có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến. Tuy nhiên, sự mải mê cảm nhận không tác động gián tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến qua trung gian sự sống động của hình ảnh (Gao & Liang, 2025); tiếp theo, áp lực về số lượng và sự hữu ích của thông tin (Ngo, Nguyen, Mai & Nguyen, 2025) không có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến. Ngoài ra, theo Febriandika & cộng sự (2023), khuyến mãi bán hàng và sự hài lòng của khách hàng không có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến. Qua đó cho thấy vẫn còn chưa có sự nhất quán giữa các nghiên cứu và vẫn còn khoảng trống nghiên cứu. Vì vậy, nghiên cứu này tiếp tục làm rõ các khoảng trống đã nêu trên; đồng thời kiểm định thêm tác động trực tiếp của sự mải mê cảm nhận đến hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến; kiểm định vai trò điều tiết của niềm tin thương hiệu vào quan hệ giữa khuyến mãi bán hàng và hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến; vai trò điều tiết của niềm tin thương hiệu đến quan hệ giữa sự hài lòng của khách hàng và hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến mà nghiên cứu trước chưa thực hiện (Febriandika và cộng sự, 2023; Ngo, Nguyen, Mai và Nguyen, 2025)

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Sự mải mê cảm nhận (PI)

Sự mải mê cảm nhận phản ánh trạng thái tâm lý trong đó khách hàng hoàn toàn say mê với trải nghiệm dùng thử ảo, tạm thời xa rời thực tế và hoàn toàn chìm đắm trong thế giới ảo (Gao & Liang, 2025). Gao & Liang (2025) đã thừa nhận sự mải mê cảm nhận có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến. Ngoài ra, sự mải mê cảm nhận có tác động gián tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến qua trung gian của sự sống động của hình ảnh (Ampadu & cộng sự, 2022; Erensoy & cộng sự, 2024; Gao & Liang, 2025). Do đó, giả thuyết H1 và H2 được đề nghị:

H1: Sự mải mê cảm nhận có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến.

H2: Sự mải mê cảm nhận có tác động gián tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến trung gian của sự sống động của hình ảnh.

Khuyến mãi bán hàng (SP)

Khuyến mãi bán hàng là một yếu tố quan trọng của cửa hàng, cả trực tuyến và ngoại tuyến, nhằm mục đích thúc đẩy mua hàng ngẫu nhiên. Mua hàng ngẫu nhiên có thể bị ảnh hưởng bởi một số chiến lược khuyến mãi bán hàng thường được sử dụng, bao gồm mua một tặng một, miễn phí vận chuyển, quà tặng thêm và phiếu giảm giá (Febriandika & cộng sự, 2023). Hơn nữa, khuyến mãi bán hàng có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến (Hasim & cộng sự, 2018). Do đó, giả thuyết H3 được đề nghị:

H3: Khuyến mãi bán hàng có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến.

Sự hài lòng của khách hàng (CS)

Sự hài lòng của khách hàng là sự thay đổi tâm trạng sau khi mua hàng, trong đó khách hàng cảm thấy hài lòng và thoải mái với sản phẩm về số lượng, chất lượng và dịch vụ (Febriandika & cộng sự, 2023). Người mua sẽ hài lòng khi nhận được thứ gì đó tương xứng với số tiền họ đã chi cho những lần mua sắm ngẫu nhiên. Mua sắm ngẫu nhiên được khuyến khích bởi nhiều yếu tố nhưng việc giới thiệu sản phẩm cho các khách hàng khác phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hài lòng của khách hàng (Febriandika & cộng sự, 2023). Ngoài ra, sự hài lòng của khách hàng có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến (Gajewska & cộng sự, 2020; Febriandika & cộng sự, 2023). Do đó, giả thuyết H4 được đề nghị:

H4: Sự hài lòng của khách hàng có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến.

Áp lực về số lượng (QP)

Áp lực tâm lý mà người tiêu dùng cảm thấy khi tin rằng nguồn cung sản phẩm có hạn được gọi là áp lực số lượng, và nó thường gây ra các phản ứng cảm xúc như sự phấn khích tăng cao. Sự phấn khích này phản ánh cảm giác cấp bách bên trong do nỗi sợ hãi bỏ lỡ một mặt hàng có giá trị hoặc hiếm có (Ngo, Nguyen, Mai & Nguyen, 2025). Hơn nữa, áp lực về số lượng có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến (Jeong & Kwon, 2012). Do đó, giả thuyết H5 được đề nghị:

H5: Áp lực về số lượng có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến.

Sự hữu ích của thông tin (IU)

Sự hữu ích của thông tin được xem là mức độ nội dung liên quan đến sản phẩm giúp khách hàng đánh giá giá trị và tính phù hợp của sản phẩm với nhu cầu của họ. Thông tin sản phẩm chính xác, rõ ràng và dễ hiểu là yếu tố thiết yếu để tạo ra sự quan tâm của người tiêu dùng, từ đó có thể làm tăng sự hứng thú về mặt cảm xúc và dẫn đến việc mua hàng ngẫu nhiên (Ngo, Nguyen, Mai & Nguyen, 2025). Thêm nữa, sự hữu ích của thông tin có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến (Casado-Aranda & cộng sự, 2022). Do đó, giả thuyết H6 được đề nghị:

H6: S hữu ích của thông tin có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến.

Niềm tin thương hiệu (BT)

Niềm tin của người tiêu dùng vào khả năng thực hiện các cam kết của một thương hiệu được gọi là niềm tin thương hiệu (Gao & Liang, 2025). Người tiêu dùng có nhiều khả năng mua hàng ngay lập tức hơn khi một thương hiệu được tin tưởng và có vị thế thống trị trong tâm trí họ. Ngoài ra, mức độ tin tưởng vào thương hiệu có thể làm tăng khả năng mua hàng ngẫu nhiên (Gao & Liang, 2025).

Qua tổng hợp cho thấy nghiên cứu của Febriandika & cộng sự (2023) và Ngo, Nguyen, Mai & Nguyen (2025) chưa tập trung đo lường vai trò điều tiết của niềm tin thương hiệu đến quan hệ giữa khuyến mãi bán hàng và hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến; đến quan hệ của sự hài lòng của khách hàng và hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến. Do đó, giả thuyết H7 và H8 được đề nghị:

H7: Niềm tin thương hiệu có vai trò điều tiết đến quan hệ giữa khuyến mãi bán hàng và hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến.

H8: Niềm tin thương hiệu có vai trò điều tiết đến quan hệ giữa sự hài lòng của khách hàng và hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến.

Căn cứ vào các giả thuyết đã nêu trên, mô hình nghiên cứu được đề nghị cụ thể như sau Hình 1.

Hình 1: Mô hình đề xuất nghiên cứu cụ thể

Phân tích hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến qua các sàn thương mại điện tử của sinh viên tại các trường đại học khu vực TP. Hồ Chí Minh

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua phỏng vấn chuyên gia bằng bảng câu hỏi được thiết kế và cụ thể thang đo niềm tin thương hiệu gồm 4 biến quan sát, thang đo sự mải mê cảm nhận gồm 4 biến quan sát và thang đo sự sống động của hình ảnh cũng gồm 4 biến quan sát (Gao & Liang, 2025); thang đo khuyến mãi bán hàng gồm 6 biến quan sát; thang đo sự hài lòng của khách hàng gồm 6 biến quan sát (Febriandika & cộng sự, 2023); thang đo sự hữu ích của thông tin gồm 4 biến quan sát (Ngo, Nguyen, Mai & Nguyen, 2025); thang đo áp lực về số lượng gồm 4 biến quan sát (Ngo, Nguyen, Mai & Nguyen, 2025); thang đo hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến gồm 4 biến quan sát (Ngo & cộng sự, 2025). Sau phỏng vấn, thang đo khuyến mãi bán hàng còn lại 4 biến quan sát; thang đo sự hài lòng của khách hàng gồm 5 biến quan sát (Febriandika & cộng sự, 2023), các thang đo còn lại giữ nguyên các biến quan sát. Tổng số biến quan sát sau cùng là 33 biến. Sau khi điều chỉnh, nghiên cứu tiến hành khảo sát với số phiếu là 220 ban đầu, nhận về 205 phiếu và sàng lọc còn lại chính thức là 197 phiếu, với tỷ lệ 96.09%. Thời gian thực hiện khảo sát cuối quý I/2026 (Bài viết sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả đo lường

Bảng 1: Kết quả tổng hợp những yếu tố trong mô hình PLS-SEM

Cấu trúc

Chỉ số

Hệ số tải của các chỉ số

Cronbach’s alpha

Độ tin cậy tổng hợp (CR)

AVE

R2

f2

OIB

VV

Niềm tin thương hiệu

BT2

0.916

0.884

0.923

0.809

0.077

BT3

0.904

BT4

0.878

Sự hài lòng của khách hàng

CS1

0.865

0.905

0.911

0.725

0.174

CS2

0.856

CS3

0.866

CS4

0.851

CS5

0.818

Sự hữu ích của thông tin

IU1

0.872

0.907

0.914

0.782

0.060

IU2

0.872

IU3

0.904

IU4

0.889

Hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến

OIB1

0.928

0.953

0.954

0.876

0.385

OIB2

0.949

OIB3

0.933

OIB4

0.934

Sự mải mê cảm nhận

PI1

0.850

0.894

0.897

0.758

0.037

0.009

PI2

0.881

PI3

0.873

PI4

0.878

Áp lực về số lượng

QP1

0.914

0.929

0.943

0.823

0.056

QP2

0.897

QP3

0.903

QP4

0.916

Khuyến mãi bán hàng

SP1

0.899

0.867

0.908

0.711

0.017

SP2

0.850

SP3

0.879

SP4

0.734

Sự sống động của hình ảnh

VV1

0.765

0.877

0.963

0.716

0.009

0.043

VV2

0.895

VV3

0.878

VV4

0.840

Điều tiết

(BT x SP)

(BT x SP)

1.000

0.051

Điều tiết

(BT x CS)

(BT x CS)

1.000

0.026

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu (Bảng 1) cho thấy, có 7 nhân tố tác động trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến gồm: niềm tin thương hiệu (BT), sự hài lòng của khách hàng (CS), sự hữu ích của thông tin (IU), sự mải mê cảm nhận (PI), áp lực về số lượng (QP), điều tiết (BTxSP) và điều tiết (BTxCS). Trong đó, tác động mạnh nhất vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến đó là Sự hài lòng của khách hàng với f2 = 0.174. Tác động yếu nhất vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến đó là khuyến mãi bán hàng với f2 = 0.017. Thêm nữa, độ tin cậy và tính hội tụ cũng đạt tiêu chuẩn.

Đánh giá hệ số Q2 (Q bình phương)

Mô hình thành phần tương ứng của biến phụ thuộc hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến (OIB) có Q2 = 0.316 (nằm trong khoảng 0.25-0.5), như vậy mô hình này có tính chính xác dự báo trung bình. Trong khi đó, mô hình thành phần tương ứng của biến phụ thuộc VV (sự sống động của hình ảnh) có Q2 = 0.002 (trong khoảng 0 < Q2 < 0.25), như vậy mô hình này có tính chính xác dự báo thấp.

Bảng 2: Kết quả phân tích Q2

Nhân tố

SSO

SSE

Q² (=1-SSE/SSO)

BT

591.000

591.000

0.000

CS

985.000

985.000

0.000

IU

788.000

788.000

0.000

OIB

788.000

538.873

0.316

PI

788.000

788.000

0.000

QP

788.000

788.000

0.000

SP

788.000

788.000

0.000

VV

788.000

786.547

0.002

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả nghiên cứu

Đánh giá mối quan hệ tác động

Nghiên cứu sử dụng PLS-SEM để kiểm định các giả thuyết.

Bảng 3: Tổng hợp kết quả kiểm định sau phân tích Bootstrap

Giả thuyết

Tác động

Original sample (O)

Samples Mean (M)

P-values

Kết quả

Tác động trực tiếp

H1

PI → OIB

0.165

0.158

0.030

Chấp nhận

H3

SP → OIB

- 0.133

-0.098

0.091

Bác bỏ

H4

CS → OIB

0.384

0.391

0.000

Chấp nhận

H5

QP → OIB

0.188

0.186

0.007

Chấp nhận

H6

IU → OIB

0.241

0.217

0.011

Chấp nhận

Tác động trung gian

H2

PI →VV → OIB

0.017

0.017

0.367

Bác bỏ

Tác động điều tiết

H7

Điều tiết (BT x CS) → OIB

0.131

0.129

0.037

Chấp nhận

H8

Điều tiết (BT x SP) → OIB

0.155

0.152

0.013

Chấp nhận

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả nghiên cứu

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết quả phân tích PLS-SEM bằng phương pháp Bootstrap (bảng 3) chấp nhận 5 giả thuyết, ngoại trừ H2 và H3 vì P.value > 0.05. Do đó, nghiên cứu đã lấp đi khoảng trống nghiên cứu của Ngo, Nguyen, Mai và Nguyen (2025); Febriandika & cộng sự, (2023). Ngoài ra, điểm mới của nghiên cứu so với nghiên cứu của Febriandika và cộng sự (2023); Ngo, Nguyen, Mai và Nguyen (2025) đã khẳng định được vai trò điều tiết của niềm tin thương hiệu vào mối quan hệ giữa khuyến mãi bán hàng và hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến (H8); ngoài ra cũng đã khẳng định vai trò điều tiết của niềm tin thương hiệu vào mối quan hệ giữa sự hài lòng của khách hàng và hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến (H7). Tuy nhiên, khuyến mãi bán hàng không có tác động trực tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến (H3); sự mải mê cảm nhận không tác động gián tiếp vào hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến qua trung gian sự sống động của hình ảnh (H2). Vì vậy, vẫn còn tồn tại khoảng trống nghiên cứu.

Hình 2: Kết quả kiểm định giả thuyết sau phân tích Bootstrap

Phân tích hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến qua các sàn thương mại điện tử của sinh viên tại các trường đại học khu vực TP. Hồ Chí Minh

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả nghiên cứu

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ CHO DOANH NGHIỆP

Nghiên cứu cho thấy, để làm tăng hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến cần cải thiện và tập trung vào nhân tố sự mải mê cảm nhận (PI), sự hài lòng của khách hàng (CS), áp lực về số lượng (QP), sự hữu ích của thông tin (IU); bên cạnh đó, cần làm tăng thêm niềm tin thương hiệu (BT) vì niềm tin thương hiệu có tác động điều tiết vào quan hệ giữa khuyến mãi và hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến; và niềm tin thương hiệu cũng có tác động điều tiết đến quan hệ giữa sự hài lòng của khách hàng và hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến. Căn cứ vào phân tích, một số hàm ý dành cho các nhà quản trị được đề xuất:

Sự mải mê cảm nhận: Nhà quản trị cần xây dựng những thực tế ảo bằng công cụ trí tuệ nhân tạo về những sản phẩm của doanh nghiệp trên các sàn thương mại điện tử để thu hút sự chú ý, quan tâm của sinh viên nhiều hơn; giúp cho họ có thông tin trải nghiệm và tạo thêm cho họ cảm giác được trải nghiệm như thực sự họ có mặt tại địa điểm bán hàng để làm tăng thêm tần suất truy cập và tần suất mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến nhiều hơn.

Sự hài lòng của khách hàng: Doanh nghiệp cần bổ sung thêm các chatbot (trợ lý ảo), bổ sung thêm các công cụ khác tương tác trực tiếp với khách hàng ngay trên các sàn thương mại điện tử, qua đó trao đổi thường xuyên với khách hàng có tần suất mua sắm nhiều, từ đó thu thập thông tin ý kiến đánh giá của khách hàng để xây dựng chính sách cải thiện, khuyến khích hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến.

Áp lực về số lượng: Doanh nghiệp xây dựng các chương trình quảng bá về sản phẩm và chương trình bán hàng “flash sale - bán hàng chớp nhoáng” để thu hút sự chú ý của khách hàng; thêm nữa sản phẩm trong chương trình “flash sale” là sản phẩm khách hàng đang cần sử dụng thì sẽ tác động vào hành vi mua hàng ngẫu trực tuyến.

Sự hữu ích của thông tin: Doanh nghiệp nên xây dựng các nội dung giới thiệu về sản phẩm theo quy định đã ban hành của các cơ quan quản lý về sàn thương mại điện tử; các thông tin về sản phẩm phải cụ thể, rõ ràng minh bạch để thúc đẩy hành vi mua hàng ngẫu nhiên trực tuyến.

Niềm tin thương hiệu: Xây dựng chương trình quảng bá và định vị thương hiệu để tạo thêm niềm tin cho khách hàng về thương hiệu của sàn thương mại điện tử. Ví dụ: cung cấp thêm các minh chứng về giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá, giấy chứng nhận của các cơ quan quản lý về chất lượng sản phẩm.

Tài liệu tham khảo:

1. Ampadu, S., Jiang, Y., Debrah, E., Antwi, C. O., Amankwa, E., Gyamfi, S. A., & Amoako, R. (2022). Online personalized recommended product quality and e-impulse buying: A conditional mediation analysis. Journal of Retailing and Consumer Services, 1-11. https://doi.org/10.1016/j.jretconser.2021.102789

2. Andreani, F., Anastasia, N., & Foedjiawati, F. (2023). Determinants of Online Impulsive Buying Post Pandemic Covid-19. Jurnal Teknik Industri: Jurnal Keilmuan Dan Aplikasi Teknik Industri, 25(1), 17-30. https://doi.org/10.9744/jti.25.1.17-30

3. Casado-Aranda, L. A., Sánchez-Fernández, J., & Ibáñez-Zapata, J. Á. (2022). It is all about our impulsiveness - How consumer impulsiveness modulates neural evaluation of hedonic and utilitarian banners. Journal of Retailing and Consumer Services, 67, 1-11. https://doi.org/10.1016/j.jretconser.2022.102997

4. Erensoy, A., Mathrani, A., Schnack, A., Elms, J., & Baghaei, N. (2024). Consumer behavior in immersive virtual reality retail environments: A systematic literature review using the stimuli-organisms-responses (S-O-r) model. Journal of Consumer Behavior, 23 (6), 2781-2811

5. Febriandika, N. R., Utami, A. P., & Millatina, A. N. (2023). Online impulse buying on TikTok platform: Evidence from Indonesia. Innovative Marketing, 19(3), 197-210. https://doi.org/10.21511/im.19(3).2023.17

6. Gajewska, T., Zimon, D., Kaczor, G., & Madzík, P. (2020). The impact of the level of customer satisfaction on the quality of e-commerce services. International Journal of Productivity and Performance Management, 69(4), 666-684. https://doi.org/10.1108/IJPPM-01-2019-0018

7. Gao, Y., & Liang, J. (2025). The Impact of AI-Powered Try-On Technology on Online Consumers’ Impulsive Buying Intention: The Moderating Role of Brand Trust. Sustainability (Switzerland), 17, 1-30. https://doi.org/10.3390/su17072789

8. Hasim, M. A., Shamsudin, M. F., Ali, A. M., & Shabi, S. (2018). The relationship between sales promotions and online impulse buying in Malaysia. Opcion, 34(16), 295-308

9. Jeong, H. J., & Kwon, K. N. (2012). The effectiveness of two online persuasion claims: Limited product availability and product popularity. Journal of Promotion

10. Management, 18(1), 83-99. https://doi.org/10.1080/10496491.2012.646221

11. Ngo, T. T. A., Nguyen, H. L. T., Mai, H. T. A., & Nguyen, H. P. (2025). Key determinants of online impulse buying behavior: A study from TikTok Shop users in Vietnam. Acta Psychologica, 1-21. https://doi.org/10.1016/j.actpsy.2025.105593

12. Ngo, T. T. A., Nguyen, H. L. T., Mai, H. T. A., Nguyen, H. P., Mai, T. H. T., & Hoang, P. L. (2025). Analyzing the role of customers’ experiences and emotional responses in shaping Generation Z’s impulse buying behavior on Shopee video platform. PLoS One, 20(5), 1-29. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0322866

13. Wang, M., Zhang, W., & Li, Y. (2026). Narrative strategies in live-streaming commerce: host storytelling, immersion, and impulse buying. Frontiers in Psychology, 17, 13. https://doi.org/10.3389/fpsyg.2026.1746938

Ngày nhận bài: 30/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/7/2026; Ngày duyệt đăng: 18/7/2026

Các tin khác

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu phân tích tác động của các yếu tố trong nước và quốc tế đến rủi ro của VN-Index. Kết quả cho thấy việc bỏ qua các yếu tố quốc tế có thể dẫn đến đánh giá chưa đầy đủ về rủi ro thị trường, từ đó nghiên cứu đề xuất hàm ý góp phần ổn định và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ sở lý luận về chính sách liên thông dữ liệu, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm của Estonia và Hàn Quốc trong xây dựng hệ thống kết nối, chia sẻ và quản trị dữ liệu công. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy phát triển hệ sinh thái dữ liệu công hiệu quả tại Việt Nam.
Phân tích tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Phân tích tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Kết quả phát triển kinh tế tuần hoàn không chỉ phụ thuộc vào năng lực kỹ thuật của hộ sản xuất và doanh nghiệp mà còn chịu tác động trực tiếp từ chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch, thể chế, đầu tư, tiêu chuẩn, thanh tra, khuyến nông, tín dụng và phối hợp liên ngành.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Số hóa giúp ngân hàng mở rộng tiếp cận khách hàng, tăng tốc độ giao dịch, giảm chi phí và tái cấu trúc dịch vụ tài chính.
Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Nghiên cứu phân tích tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế và vai trò điều tiết của chất lượng thể chế tại các thành phố Việt Nam giai đoạn 2012-2024. Kết quả cho thấy phân cấp chi có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời chất lượng thể chế cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của 20 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2020-2025 với 100 quan sát bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (FEM). Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh và biến động, khả năng duy trì lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để đánh giá tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động, các chỉ số tài chính được sử dụng như những công cụ quan trọng, giúp phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau về sức khỏe tài chính, khả năng quản lý nguồn lực và kết quả kinh doanh.
Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Tổng hợp các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số cho thấy các khoảng trống: Các nhóm nguồn lực công nghệ, tổ chức và cá nhân phần lớn được nghiên cứu độc lập; nguồn lực tổ chức số chưa được tích hợp thành khái niệm bậc cao; vai trò trung gian của vốn tâm lý giữa cả 2 nhóm nguồn lực và sự gắn kết với công việc của nhân viên chưa được kiểm định đồng thời; và bằng chứng tại doanh nghiệp lữ hành, đặc biệt ở TP. Hồ Chí Minh, còn thiếu vắng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội của sinh viên Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội của sinh viên Việt Nam

Khởi nghiệp xã hội đã và đang trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.