Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam
TS. Trần Thị Mười
Email: [email protected]
ThS. Nguyễn Thị Hồng Minh
Email: [email protected]
ThS. Nguyễn Thị Hồng Thủy
Email: [email protected]
Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn
Tóm tắt
Dựa vào mô hình của Yeo (2018), nhóm tác giả áp dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS) để nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư của 60 công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) giai đoạn 2010-2025. Kết quả nghiên cứu đạt được: có 4 nhân tố Dòng tiền tự do, Tài sản hữu hình, Quy mô công ty, Đòn bẩy tác động đến Quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trên HOSE và HNX (mô hình 1); chỉ có nhân tố Dòng tiền tự do tác động đến Quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trên HOSE (mô hình 2); có 3 nhân tố Dòng tiền tự do, Tài sản hữu hình, Quy mô công ty tác động đến Quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trên HNX (mô hình 3); nhân tố Tăng trưởng doanh thu đều không tác động đến Quyết định đầu tư của các công ty ở cả ba mô hình 1, 2, 3. Với kết quả nghiên cứu trên, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm hỗ trợ vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam.
Từ khóa: Chính sách cổ tức, dòng tiền tự do, ngành vận tải kho bãi, Quyết định đầu tư
Abstract
Based on the model of Yeo (2018), the authors apply the Generalized Least Squares (GLS) regression method to investigate the factors affecting the investment decisions of 60 listed companies in the Transportation and Warehousing sector in Viet Nam listed on the Ho Chi Minh Stock Exchange (HOSE) and the Ha Noi Stock Exchange (HNX) during the 2010-2025 period. The research results show that four factors, namely Free Cash Flow, Tangible Assets, Firm Size, and Leverage, affect the Investment Decisions of companies listed on HOSE and HNX (Model 1); only Free Cash Flow affects the Investment Decisions of companies listed on HOSE (Model 2); three factors, namely Free Cash Flow, Tangible Assets, and Firm Size, affect the Investment Decisions of companies listed on HNX (Model 3); the Revenue Growth factor does not affect the Investment Decisions of companies in any of the three models, Models 1, 2, and 3. Based on these findings, the authors propose several policy implications to support capital provision to meet the investment needs of companies in Viet Nam's Transportation and Warehousing sector.
Keywords: Dividend policy, free cash flow, transportation and warehousing sector, investment decisions
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vận tải kho bãi là một trong những ngành đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong nền kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế toàn cầu. Đó là cầu nối giữa các quốc gia trên toàn thế giới trong việc vận chuyển hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng, giải quyết nhu cầu đi lại của con người và truyền tải thông tin. Nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng trên nền tảng công nghệ hiện đại đòi hỏi một lượng vốn đầu tư không nhỏ cho ngành Vận tải kho bãi Việt Nam.
Các nghiên cứu trước ở Việt Nam chủ yếu nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu này tiếp cận khía cạnh quyết định đầu tư có mối quan hệ với chính sách cổ tức của một ngành cụ thể - đó là ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam. Quyết định đầu tư trong nghiên cứu này là tái đầu tư, nghĩa là các công ty giữ lại lợi nhuận sau thuế thay vì chia cổ tức cho cổ đông và dùng nguồn vốn này để mở rộng sản xuất, đầu tư phát triển nhằm gia tăng quy mô và giá trị công ty.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Các nghiên cứu trên thế giới chủ yếu là nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến chính sách cổ tức của các công ty ở các nước khác nhau vào các giai đoạn khác nhau. Hee-Jung YEO (2018) nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư của 135 công ty đặc thù ngành vận tải biển giai đoạn 2009-2014; kết quả cho thấy dòng tiền tự do lớn hơn khiến các công ty tăng đầu tư và giảm cổ tức, việc sử dụng nợ làm giảm việc đầu tư quá mức, lý thuyết đại diện có thể giải thích hành vi của các nhà quản lý đối với chiến lược đầu tư. Annisa Rizal (2021) nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến chính sách cổ tức của 13 công ty ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia giai đoạn 2015-2019.
Yessi Rinanda (2022) phân tích ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô và hiệu quả tài chính đến chính sách cổ tức trong thời kỳ đại dịch tại các công ty sản xuất niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia. Riri Pradika và cộng sự (2022) nghiên cứu các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức của 17 công ty sản xuất thuộc ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia giai đoạn 2016-2020. Doffour và cộng sự (2025) xem xét tác động của các biến số kinh tế vĩ mô là cung tiền, lãi suất, lạm phát và tỷ giá hối đoái đến chính sách cổ tức của 23 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Ghana giai đoạn 2010-2022.
Các nghiên cứu trên chủ yếu là nghiên cứu về chính sách cổ tức, riêng nghiên cứu của Hee-Jung YEO (2018) có sự khác biệt so với các công trình khác trên thế giới là chuyên sâu nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư có mối quan hệ với chính sách cổ tức của các công ty ngành vận tải biển.
Ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng chủ yếu nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam ở các giai đoạn khác nhau, không tiếp cận theo khía cạnh quyết định đầu tư. Phan Ngọc Thùy Như và cộng sự (2021) nghiên cứu các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức của 39 công ty nhóm ngành công nghiệp niêm yết trên HOSE giai đoạn 2009-2020. Đỗ Thị Hà Thương và cộng sự (2022) phân tích các yếu tố nội tại tác động đến chính sách cổ tức của các của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2021. Chau Anh Vu (2023) nghiên cứu tác động của dòng tiền tự do và vòng đời của công ty đến tỷ lệ chi trả cổ tức của 110 công ty niêm yết trên HOSE giai đoạn 2014-2020. Trương Thanh Hằng và cộng sự (2024) nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến chính sách cổ tức của 264 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2015-2020. Phạm Quốc Khang và cộng sự (2026) phân tích tác động của các đặc điểm doanh nghiệp đến chính sách cổ tức của 123 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn 2020-2024.
Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu này dựa vào mô hình của Yeo (2018) để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam theo phương trình sau:
VAR INVit = α + β1VAR FCF + β2TAN + β3FSIZE + β4LEV + β5VAR STDEBT + β6CLtEq + β7SGROWTH + β8NItRev + ℇt
Biến phụ thuộc: VAR INV: Biến động chi tiêu vốn
Biến độc lập:
Bảng 1: Mô tả biến độc lập
|
VAR FCF |
Biến động giá trị sổ sách của dòng tiền tự do |
|
|
TAN |
Tài sản hữu hình/Tổng tài sản |
|
|
FSIZE |
Quy mô công ty = Logarit tự nhiên của tổng tài sản. |
|
|
LEV |
Đòn bẩy = Tổng nợ/Tổng tài sản |
|
|
VAR STDEBT |
Biến động nợ ngắn hạn |
|
|
CLtEq |
Nợ hiện hành/Vốn chủ sở hữu |
|
|
SGROWTH |
Tăng trưởng doanh thu = Tốc độ thay đổi doanh thu thuần |
|
|
NItRev |
Thu nhập ròng/Doanh thu |
|
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
Giả thuyết nghiên cứu
Khi dòng tiền trở nên không chắc chắn, các công ty tàu biển có thể sẽ cắt giảm cổ tức để đầu tư (Yeo, 2018), do đó giả thuyết được đề xuất:
H1: Dòng tiền tự do tác động dương đến Quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam.
Tài sản hữu hình liên quan trực tiếp đến đầu tư và có mối quan hệ ngược chiều với quyết định đầu tư (Yeo, 2018), do đó giả thuyết được đề xuất:
H2: Tài sản hữu hình tác động âm đến Quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam.
Quy mô công ty đo lường mức độ hạn chế tài chính của một công ty. Các công ty bị hạn chế tài chính hơn (quy mô nhỏ) có thể dựa nhiều hơn vào dòng tiền nội bộ để đầu tư do khả năng tiếp cận thị trường vốn bị hạn chế. Các công ty bị hạn chế tài chính ít hơn (quy mô lớn) sẽ phân bổ dòng tiền nhiều hơn để chia cổ tức (Yeo, 2018), do đó giả thuyết được đề xuất:
H3: Quy mô công ty tác động âm đến Quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam.
Theo Yeo (2018), mức độ đòn bẩy có liên quan đến quyết định đầu tư, đầu tư giảm khi công ty tăng đòn bẩy, do đó giả thuyết được đề xuất:
H4: Đòn bẩy tác động âm đến Quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam.
Tăng trưởng doanh thu không gắn liền với các quyết định đầu tư hoặc cổ tức, trong khi độ trễ của tăng trưởng doanh thu có liên quan chặt chẽ đến cổ tức, nghĩa là phản ứng chậm trễ của quyết định chia cổ tức có liên quan đến tăng trưởng doanh thu (Yeo, 2018); do đó giả thuyết được đề xuất:
H5: Tăng trưởng doanh thu tác động dương đến Quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi (kiểm định Ward: 3 mô hình đều có giá trị p-value=0,0000<0,05) và tự tương quan (kiểm định Wooldridge: mô hình 2 có giá trị p-value=0,0018<0,05) xảy ra trong mô hình, nhóm tác giả áp dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát (Generalized Least Squares_GLS) với phần mềm Stata là phù hợp nhất để xử lý 2 khuyết tật trên xảy ra trong mô hình nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2010-2025.
Dữ liệu được thu thập từ nguồn finance.vietstock.vn.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Ngành Vận tải kho bãi Việt Nam có chỉ số ROS của các công ty HOSE và HNX (tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần) bình quân năm 2025 là 7,29% (lợi nhuận sau thuế=21.469.040 triệu đồng, doanh thu thuần=294.494.017 triệu đồng), trong đó ROS-HOSE là 7,55% và ROS-HNX là 4,36%. ROS khá thấp do đặc thù của dịch vụ vận tải kho bãi có quy mô doanh thu cao nhưng chi phí vận hành và khấu hao tài sản rất cao nên biên lợi nhuận thấp. Mặc dù doanh thu cao nhưng lợi nhuận thấp nên lợi nhuận giữ lại tái đầu tư (quyết định đầu tư) sẽ thấp.
Mô hình 1 gồm 60 công ty niêm yết trên HOSE và HNX, mô hình 2 gồm 33 công ty niêm yết trên HOSE có quy mô tài sản lớn (giá trị tổng tài sản năm 2025 bằng 326.586.843 triệu đồng tương đương 94%); mô hình 3 gồm 27 công ty niêm yết trên HNX có quy mô tài sản nhỏ (giá trị tổng tài sản năm 2025 bằng 20.856.906 triệu đồng tương đương 6%).
Bảng 2: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam
|
varinv |
MH1_HOSE-HNX 60 công ty |
MH2_HOSE 33 công ty |
MH3_HNX 27 công ty |
|||
|
Hệ số hồi quy |
P>z |
Hệ số hồi quy |
P>z |
Hệ số hồi quy |
P>z |
|
|
varfcf |
-0,0091*** |
0,0030 |
-0,0076** |
0,0350 |
-0,0464** |
0,0490 |
|
tan |
1,5295*** |
0,0040 |
0,9841 |
0,4140 |
3,6202** |
0,0280 |
|
fsize |
0,7315** |
0,0230 |
0,5623 |
0,4400 |
1,4690* |
0,0650 |
|
lev |
1,2364* |
0,0970 |
0,8224 |
0,6130 |
1,3338 |
0,3800 |
|
varstdebt |
0,1938* |
0,0620 |
0,2816 |
0,3330 |
|
|
|
clteq |
0,1036 |
0,1420 |
0,0986 |
0,2300 |
1,3818 |
0,1980 |
|
sgrowth |
0,0585 |
0,7340 |
0,4091 |
0,2810 |
0,1474 |
0,4900 |
|
nitrev |
-0,2698 |
0,3150 |
-0,8191 |
0,3150 |
-0,1432 |
0,7510 |
|
_cons |
-5,2944*** |
0,0050 |
-3,9977 |
0,3520 |
-10,0052** |
0,0290 |
|
Số quan sát |
763 |
429 |
334 |
|||
|
Kiểm định Ward |
0,0000 |
0,0000 |
0,0000 |
|||
|
Kiểm định Wooldridge |
0,5696 |
0,0018 |
0,1661 |
|||
Ghi chú: (***): mức ý nghĩa thống kê 1% (p-value<0,01), (**): mức ý nghĩa thống kê 5%, (p-value<0,05) (*): mức ý nghĩa thống kê 10% (p-value<0,1).
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả
Bảng 3 trình bày xu hướng tác động của các nhân tố đến quyết định đầu tư của các công ty trong các mô hình 1, 2, 3.
Bảng 3: Tóm tắt tác động của các nhân tố đến quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam
|
Nhân tố |
MH1_HOSE- HNX 60 công ty |
MH2_HOSE 33 công ty |
MH3_HNX 27 công ty |
|---|---|---|---|
|
Dòng tiền tự do (varfcf) |
- |
- |
- |
|
Tài sản hữu hình (tan) |
+ |
0 |
+ |
|
Quy mô công ty (fsize) |
+ |
0 |
+ |
|
Đòn bẩy (lev) |
+ |
0 |
0 |
|
Tăng trưởng doanh thu (sgrowth) |
0 |
0 |
0 |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả
Lợi nhuận sau thuế của các công ty được chia cổ tức cho cổ đông và để lại tái đầu tư, phần lợi nhuận sau thuế để lại tái đầu tư trong nghiên cứu này gọi là quyết định đầu tư. Quyết định đầu tư nhiều thì sẽ chia cổ tức cho cổ đông ít và ngược lại, nghĩa là quyết định đầu tư và chính sách cổ tức của công ty có mối quan hệ ngược chiều.
Dòng tiền tự do trong 3 mô hình đều tác động âm (-) đến quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam niêm yết trên HOSE và HNX, nghĩa là khi dòng tiền tự do tăng thì phần lợi nhuận sau thuế của các công ty này sẽ được chia theo hướng giảm quyết định đầu tư và tăng chia cổ tức cho cổ đông.
Tài sản hữu hình và quy mô công ty (mô hình 1, 3) tác động dương (+) đến quyết định đầu tư của các công ty, nghĩa là khi tài sản hữu hình và quy mô công ty tăng thì phần lợi nhuận sau thuế của các công ty niêm yết trên HOSE và HNX sẽ được chia theo hướng tăng quyết định đầu tư và giảm chia cổ tức cho cổ đông.
Đòn bẩy tác động dương (+) đến quyết định đầu tư của các công ty trên HOSE và HNX (mô hình 1), nghĩa là khi đòn bẩy tăng thì phần lợi nhuận sau thuế của các công ty này sẽ được chia theo hướng tăng quyết định đầu tư và giảm chia cổ tức cho cổ đông.
Như vậy, nhân tố dòng tiền tự do tác động âm (-) (mô hình 1, 2, 3); nhân tố tài sản hữu hình, quy mô công ty tác động dương (+) (mô hình 1, 3); nhân tố đòn bẩy tác động dương (+) (mô hình 1) đến quyết định đầu tư của các công ty: trái với giả thuyết nghiên cứu. Dòng tiền tự do tác động âm (-) (mô hình 1, 2, 3), đòn bẩy tác động dương (+) (mô hình 1) đến quyết định đầu tư của các công ty: trái với kết quả nghiên cứu của Yeo (2018).
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết luận
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty niêm yết trên HOSE và HNX ngành Vận tải kho bãi: (i) Tăng dòng tiền tự do sẽ làm giảm quyết định đầu tư; tăng tài sản hữu hình, quy mô công ty và đòn bẩy sẽ làm tăng quyết định đầu tư; (ii) Các công ty trên HOSE có quy mô lớn, ít bị hạn chế tài chính hơn nên có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay - trong khi đó các công ty trên HNX có quy mô nhỏ, bị hạn chế tài chính hơn nên khó có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; (iii) Có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần thấp nên lợi nhuận sau thuế thấp do đó quyết định đầu tư sẽ thấp.
Điểm mới của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước ở Việt Nam là nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư của các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam, một ngành nghề cụ thể và là cốt lõi của ngành Logistics, có xu thế và tiềm năng phát triển trong tương lai và có đóng góp rất lớn vào tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam. Hạn chế của nghiên cứu là mẫu nghiên cứu gồm 60 công ty trên HOSE và HNX chưa đại diện cho ngành Vận tải kho bãi Việt Nam do có thể có các công ty thuộc ngành Vận tải kho bãi trên sàn UPCOM (Unlisted Public Company Market), đây sẽ là hướng gợi mở cho các nghiên cứu tiếp theo.
Một số khuyến nghị
Các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam: (i) Chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi số nhằm ứng dụng số hóa vào hoạt động kinh doanh vận tải-kho bãi, từ đó có thể nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tăng lợi nhuận từ đó có thể gia tăng lợi nhuận giữ lại (quyết định đầu tư) và tăng cổ tức chia cho cổ đông; (ii) Các công ty trên HOSE ngoài nguồn vốn vay, có thể tiếp cận các nguồn vốn khác như phát hành cổ phiếu-trái phiếu để nâng cao tiềm lực tài chính nhằm khẳng định vị thế trên thị trường và đóng góp phát triển ngành ngày càng lớn mạnh; (iii) Các công ty trên HNX gia tăng quy mô từ đó có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi từ các ngân hàng-tổ chức tín dụng nhằm chủ động nguồn vốn trong việc ứng dụng công nghệ số vào hoạt động kinh doanh; (iv) Trong dài hạn, các công ty trên HOSE và HNX duy trì tỷ lệ lợi nhuận giữ lại (quyết định đầu tư) cao và chính sách cổ tức với tỷ lệ ổn định sẽ có ý nghĩa tích cực trong việc gia tăng lợi nhuận kinh doanh trong tương lai từ đó có thể tăng cả quyết định đầu tư và cổ tức chia cho cổ đông.
Các nhà đầu tư: Góp vốn đầu tư cho các công ty ngành Vận tải kho bãi góp phần phát triển ngành trong tương lai bằng cách lựa chọn hình thức đầu tư vào cổ phiếu với tỷ suất sinh lợi cao hay trái phiếu nhằm hạn chế rủi ro.
Các ngân hàng - tổ chức tín dụng: Hỗ trợ vốn cho các công ty ngành Vận tải kho bãi Việt Nam với lãi suất ưu đãi để đầu tư đổi mới công nghệ trong hoạt động kinh doanh vận tải-kho bãi, đặc biệt là tạo điều kiện cho các công tyHNX với quy mô nhỏ có cơ hội tiếp cận nguồn vốn vay.
Cơ quan quản lý nhà nước về thuế: Áp dụng chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm hỗ trợ các công ty ngành Vận tải kho bãi gia tăng lợi nhuận sau thuế, từ đó có thể tăng lợi nhuận giữ lại (quyết định đầu tư) cho đầu tư phát triển và tăng cổ tức chia cho các cổ đông nhằm khuyến khích nhà đầu tư.
Tài liệu tham khảo:
1. Annisa Rizal, Dedik Nur Triyanto (2021). The effect of earning per share, investment opportunity set, total asset turnover, and collateralizable asset on dividend policy. Jurnal Akuntansi. Vol. 11, No.3.
2. Chau Anh Vu (2023). The impact of the free cash flow and the firm’s life cycle on dividend policy: Evidence from Vietnam’s listed firms. CTU Journal of Innovation and Sustainable Development, 15 (2), 116-125.
3. Emmanuel Kwame Doffour, Emmanuel Boye Asamoah, Isaac Kwadwo Anim, Eric Agyenim-Boateng (2025). Factors that influence dividend policy: Do macroeconomic factors matter? Institute for Economics and Politics University of National and World Economy.
4. Đỗ Thị Hà Thương, Phạm Tuấn Phát, Đặng Thanh Phương Ngọc (2022). Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng. https://tapchinganhang.gov.vn/cac-yeu-to-noi-tai-anh-huong-den-chinh-sach-co-tuc-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-10909.html
5. Hee-Jung YEO (2018). Role of Free Cash Flows in Making Investment and Dividend Decisions: The Case of the Shipping Industry. The Asian Journal of Shipping and Logistics, 34(2), 113-118.
6. Phan Ngọc Thùy Như, Nguyễn Kim Phước (2021). Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các công ty ngành công nghiệp niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, 17(2), 124-137.
7. Phạm Quốc Khang, Phan Khoa Cương (2026). Chính sách cổ tức của các công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE trong bối cảnh đa khủng hoảng. Tạp chí Kinh tế tài chính. https://tapchikinhtetaichinh.vn/chinh-sach-co-tuc-cua-cac-cong-ty-phi-tai-chinh-niem-yet-tren-hose-trong-boi-canh-da-khung-hoang-150948.html
8. Rinanda, Y. (2022). The Influence of Macroeconomic Factors and Financial Performance on Dividend Policy During Pandemic (Manufacturing Company Listed on the IDX). Dinasti International Journal of Economics, Finance & Accounting, 2(6): 637-646.
9. Riri Pradika, Rediyono Rediyono (2022). Factors affecting dividend policy: Study on food and beverage manufacturing sector companies listed on the Indonesia Stock Exchange. International Journal of Economics and Financial Issues, 2022, 12(4), 91-96.
10. Trương Thanh Hằng, Nguyễn Thị Quế, Đặng Thu Hà (2024). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức - Minh chứng từ Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 60(2), 135-140.
| Ngày nhận bài: 22/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/8/2026; Ngày duyệt đăng: 24/8/2026 |
Các tin khác
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội
Các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả kinh doanh tại doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ
Tác động của marketing xã hội doanh nghiệp và marketing gắn với mục đích xã hội đến tài sản thương hiệu trong ngành sữa tại Việt Nam
Nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng thực hiện chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng chuyển đổi số của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh
Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Trường hợp nghiên cứu điển hình tại TP. Hồ Chí Minh
Tăng cường kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp trong bối cảnh đổi mới quản lý thuế tại Việt Nam
Hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam: Đề xuất khung phân tích tích hợp
Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Đồng Nai