Ý định mua quần áo second-hand của thế hệ Z: Tiếp cận tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch và mô hình kích hoạt chuẩn mực

Nghiên cứu - Trao đổi 11:36 | 28/05/2026
Trong bối cảnh ngành thời trang nhanh gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, tiêu dùng quần áo second-hand đang trở thành xu hướng tiêu dùng bền vững nổi bật trên toàn cầu.

Bùi Thị Hoàng Diệu

Công ty cổ phần Imperial Premium Health Care

Email: dieuyoga@gmail.com

PGS.TS. Bùi Thị Thanh

Khoa Quản trị, Trường Kinh doanh (COB), Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH)

Email: btthanh@ueh.edu.vn

Tóm tắt

Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua quần áo second-hand của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở tích hợp Thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB) và Mô hình Kích hoạt Chuẩn mực (NAM), đồng thời xem xét vai trò điều tiết của kinh nghiệm mua trước trong mối quan hệ giữa thái độ, chuẩn mực xã hội, nhận thức kiểm soát hành vi và ý định mua. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp được sử dụng, kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng với 380 mẫu khảo sát hợp lệ. Dữ liệu được phân tích bằng SPSS và AMOS thông qua các kỹ thuật Cronbach’s Alpha, EFA, CFA và SEM. Kết quả cho thấy động lực kinh tế, động lực thời trang và động lực bền vững đều tác động tích cực đến thái độ; trong đó động lực thời trang có ảnh hưởng mạnh nhất. Nhận thức hậu quả và gán trách nhiệm tác động tích cực đến chuẩn mực cá nhân. Thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi và chuẩn mực cá nhân ảnh hưởng tích cực đến ý định mua, trong khi chuẩn mực xã hội không có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, kinh nghiệm mua trước được xác định có vai trò điều tiết trong mối quan hệ giữa thái độ, chuẩn mực xã hội, nhận thức kiểm soát hành vi và ý định mua.

Từ khóa: Ý định mua, Second-hand, Gen Z, NAM, TPB

Abstract

This study aims to identify factors influencing Generation Z's intention to buy second-hand clothing in Ho Chi Minh City. It also examines the moderating role of prior purchase experience in the relationship between attitudes, social norms, perceived behavioral control, and purchase intention. A mixed-method research approach was used, combining qualitative and quantitative research with 380 valid survey samples. Data were analyzed using SPSS and AMOS through Cronbach’s Alpha, EFA, CFA, and SEM techniques. The results showed that economic motivation, fashion motivation, and sustainability motivation all positively impacted attitudes; with fashion motivation having the strongest influence. Perceived consequences and accountability positively impacted personal norms. Attitudes, perceived behavioral control, and personal norms positively influenced purchase intention, while social norms were not statistically significant. Furthermore, prior purchase experience was identified as a moderating factor in the relationship between attitude, social norms, perceived behavioral control, and purchase intention.

Keywords: Purchase intention, Second-hand, Gen Z, Male, TPB

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh ngành thời trang nhanh gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, tiêu dùng quần áo second-hand đang trở thành xu hướng tiêu dùng bền vững nổi bật trên toàn cầu. Đặc biệt, thế hệ Z ngày càng xem quần áo second-hand không chỉ là giải pháp tiết kiệm chi phí mà còn là cách thể hiện phong cách sống, cá tính và nhận thức môi trường. Mặc dù thị trường second-hand đang tăng trưởng mạnh, các nghiên cứu trước đây vẫn chưa thống nhất về vai trò của các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường đối với ý định mua second-hand của Gen Z. Tại Việt Nam, xu hướng tiêu dùng quần áo second-hand trong giới trẻ cũng phát triển nhanh, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng các nghiên cứu liên quan vẫn còn hạn chế. Về mặt lý thuyết, nhiều nghiên cứu gần đây đề xuất kết hợp Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và Mô hình kích hoạt chuẩn mực (NAM) để giải thích hành vi tiêu dùng bền vững, tuy nhiên việc ứng dụng đồng thời hai lý thuyết này trong nghiên cứu ý định mua quần áo second-hand của Gen Z tại Việt Nam vẫn chưa được khai thác đầy đủ. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua quần áo second-hand của thế hệ Z tại Thành phố Hồ Chí Minh.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) và Mô hình Kích hoạt Chuẩn mực (NAM) của Schwartz (1977). TPB cho rằng ý định hành vi được hình thành từ thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong khi đó, NAM nhấn mạnh vai trò của chuẩn mực cá nhân và trách nhiệm đạo đức trong việc thúc đẩy hành vi tiêu dùng bền vững. Hai lý thuyết này phù hợp để giải thích ý định mua quần áo second-hand của Gen Z.

Động lực kinh tế phản ánh mức độ người tiêu dùng coi trọng lợi ích tiết kiệm chi phí và giá trị nhận được khi mua quần áo second-hand (Guiot & Roux, 2010). Nhiều nghiên cứu trước như Styvén và Mariani (2020), Yeap và cộng sự (2022), Sepe và cộng sự (2024) và Akasreku và cộng sự (2025) đều ghi nhận mối quan hệ tích cực giữa động lực kinh tế và thái độ đối với hành vi mua quần áo second-hand. Trên cơ sở đó, giả thuyết được đề xuất như sau:

H1: Động lực kinh tế có tác động tích cực đến Thái độ đối với việc mua quần áo second-hand.

Động lực thời trang phản ánh nhu cầu thể hiện phong cách và sự độc đáo khi mua quần áo second-hand (Guiot & Roux, 2010). Theo TPB, nhận thức về lợi ích tích cực sẽ hình thành thái độ tích cực đối với hành vi (Ajzen, 1991). Nghiên cứu của Herjanto và cộng sự (2023) ghi nhận tác động tích cực của động lực thời trang đến thái độ, dù Sepe và cộng sự (2024) chưa tìm thấy ý nghĩa thống kê. Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H2: Động lực thời trang có tác động tích cực đến Thái độ đối với việc mua quần áo second-hand.

Động lực bền vững phản ánh sự quan tâm của cá nhân đến môi trường và xã hội trong tiêu dùng (Ajzen, 1991). Việc mua quần áo second-hand giúp giảm rác thải và hạn chế sản xuất mới (Fishbein & Yzer, 2003). Các nghiên cứu của Yeap và cộng sự (2024) và Sepe và cộng sự (2024) cho thấy động lực bền vững tác động tích cực đến thái độ, dù Akasreku và cộng sự (2025) có kết quả chưa thống nhất. Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H3: Động lực bền vững có tác động tích cực đến Thái độ đối với việc mua quần áo second-hand.

Theo NAM, nhận thức về hậu quả tiêu cực của hành vi tiêu dùng không bền vững sẽ kích hoạt chuẩn mực cá nhân (Schwartz, 1977; De Groot & Steg, 2009). Các nghiên cứu của De Groot và Steg (2009), Sepe và cộng sự (2024) và Fan và Ye (2024) đều ghi nhận tác động tích cực này. Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H4: Nhận thức về hậu quả có tác động tích cực đến Chuẩn mực cá nhân.

Gán trách nhiệm phản ánh mức độ cá nhân cảm thấy bản thân có trách nhiệm với các vấn đề môi trường và xã hội (Schwartz, 1977). Theo NAM, cảm nhận trách nhiệm thúc đẩy hình thành chuẩn mực cá nhân (De Groot & Steg, 2009). Các nghiên cứu của Fan và Ye (2024), Prisco và cộng sự (2025) và Sepe và cộng sự (2024) đều xác nhận mối quan hệ tích cực này. Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H5: Gán trách nhiệm có tác động tích cực đến Chuẩn mực cá nhân.

Theo TPB, thái độ là yếu tố dự báo trực tiếp của ý định hành vi (Ajzen, 1991). Nhiều nghiên cứu như Sepe và cộng sự (2024), Akasreku và cộng sự (2025), Yeap và cộng sự (2024) và Fan và Ye (2024) đều ghi nhận thái độ tác động tích cực đến ý định mua quần áo second-hand. Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H6: Thái độ có tác động tích cực đến Ý định mua quần áo second-hand.

Chuẩn mực xã hội phản ánh ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè và cộng đồng đối với hành vi mua second-hand (Ajzen, 1991). Nghiên cứu của Fan và Ye (2024) cho thấy chuẩn mực xã hội ảnh hưởng tích cực đến ý định mua, dù một số nghiên cứu khác chưa ghi nhận ý nghĩa thống kê (Rausch & Kopplin, 2021; Sepe và cộng sự, 2024; Akasreku và cộng sự, 2025). Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H7: Chuẩn mực xã hội có tác động tích cực đến Ý định mua quần áo second-hand.

Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh mức độ cá nhân tin rằng họ có đủ khả năng và nguồn lực để mua quần áo second-hand (Ajzen, 1991). Các nghiên cứu của Yeap và cộng sự (2022) và Fan và Ye (2024) đều ghi nhận tác động tích cực của yếu tố này đến ý định mua. Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H8: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động tích cực đến Ý định mua quần áo second-hand.

Chuẩn mực cá nhân phản ánh nghĩa vụ đạo đức trong tiêu dùng bền vững (Schwartz, 1977). Khi cá nhân cho rằng mua quần áo second-hand phù hợp với giá trị đạo đức và trách nhiệm môi trường, ý định mua sẽ gia tăng (Onel & Mukherjee, 2017). Các nghiên cứu của Sepe và cộng sự (2024), Prisco và cộng sự (2025) và Fan và Ye (2024) đều xác nhận mối quan hệ này. Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H9: Chuẩn mực cá nhân có tác động tích cực đến Ý định mua quần áo second-hand.

Người có kinh nghiệm mua second-hand thường hiểu rõ sản phẩm hơn, giảm cảm nhận rủi ro và tăng khả năng chuyển hóa thái độ thành ý định mua (Hsieh và cộng sự, 2016; Zhou và cộng sự, 2025). Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H10a: Kinh nghiệm mua trước điều tiết mối quan hệ giữa Thái độ và Ý định mua.

Người chưa có kinh nghiệm thường phụ thuộc nhiều hơn vào ý kiến xã hội khi ra quyết định (Kidwell & Jewell, 2008), trong khi người có kinh nghiệm dựa nhiều hơn vào đánh giá cá nhân (Hsieh và cộng sự, 2016). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu trước còn chưa thống nhất (McNeill & Moore, 2015; Zhou và cộng sự, 2025). Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H10b: Kinh nghiệm mua trước điều tiết mối quan hệ giữa Chuẩn mực xã hội và Ý định mua.

Người đã từng mua second-hand thường tự tin hơn trong việc tìm kiếm và đánh giá sản phẩm (Chien và cộng sự, 2012; Hsieh và cộng sự, 2016), trong khi người chưa có kinh nghiệm dễ gặp khó khăn về thông tin và kỹ năng. Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H10c: Kinh nghiệm mua trước điều tiết mối quan hệ giữa Nhận thức kiểm soát hành vi và Ý định mua.

Dựa trên lý thuyết nền và các giả thuyết nghiên cứu, bài viết đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Ý định mua quần áo second-hand của thế hệ Z: Tiếp cận tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch và mô hình kích hoạt chuẩn mực

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp theo thiết kế tuần tự khám phá, kết hợp định tính và định lượng. Giai đoạn định tính thực hiện phỏng vấn chuyên sâu với 5 chuyên gia trong lĩnh vực hành vi người tiêu dùng và marketing cùng 9 cá nhân thuộc thế hệ Z đã từng mua quần áo second-hand nhằm điều chỉnh thang đo và hoàn thiện bảng hỏi.

Giai đoạn định lượng thu thập dữ liệu từ 450 bảng khảo sát, thu về 392 phản hồi, sau khi loại bỏ các bảng không hợp lệ còn lại 380 mẫu hợp lệ để phân tích. Dữ liệu được xử lý bằng SPSS và AMOS thông qua Cronbach’s Alpha, EFA, CFA và SEM để kiểm định mô hình nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đánh giá độ tin cậy

Tất cả các biến trong nghiên cứu được đo lường bằng thang đo Likert 5 điểm, từ “Rất không đồng ý” đến “Rất đồng ý”. Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thấy các thang đo đều đạt độ tin cậy tốt với hệ số dao động từ 0,832 đến 0,898. Cụ thể, động lực kinh tế (EM) đạt 0,872; động lực thời trang (FM) đạt 0,874; động lực bền vững (SM) đạt 0,898; nhận thức hậu quả (AC) đạt 0,852; gán trách nhiệm (AR) đạt 0,859; thái độ (ATT) đạt 0,869; chuẩn mực xã hội (SN) đạt 0,866; nhận thức kiểm soát hành vi (PBC) đạt 0,851; chuẩn mực cá nhân (PN) đạt 0,832; ý định mua (PI) đạt 0,842 và kinh nghiệm mua trước (PE) đạt 0,841. Đồng thời, tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến – tổng > 0,3, trong đó giá trị nhỏ nhất là 0,402, đáp ứng yêu cầu về tính nhất quán nội tại của thang đo. Do đó, không có biến quan sát nào bị loại bỏ và toàn bộ các thang đo được giữ lại để tiếp tục thực hiện phân tích EFA, CFA và SEM ở các bước tiếp theo.

Phân tích nhân tố khám phá

Sau khi kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, 43 biến quan sát thuộc 10 nhân tố được đưa vào phân tích EFA. Kết quả phân tích EFA lần 1 cho thấy hệ số KMO đạt 0,842 (>0,5) và kiểm định Bartlett’s Test có Sig. = 0,000 (<0,05), chứng tỏ dữ liệu phù hợp để phân tích nhân tố. Kết quả thu được 10 nhân tố tại điểm dừng Eigenvalue = 1,326 (>1) với tổng phương sai trích đạt 70,768% (>50%). Tuy nhiên, biến quan sát PBC5 có hệ số tải nhân tố < 0,5 nên bị loại khỏi mô hình.

Bảng 1: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett lần 2 sau khi loại biến PBC5

Ý định mua quần áo second-hand của thế hệ Z: Tiếp cận tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch và mô hình kích hoạt chuẩn mực

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

Sau khi loại biến PBC5 và tiến hành phân tích EFA lần 2 (Bảng 1), kết quả cho thấy hệ số KMO vẫn đạt 0,842 và kiểm định Bartlett’s Test có Sig. = 0,000 (<0,05). Đồng thời, mô hình tiếp tục trích được 10 nhân tố tại điểm dừng Eigenvalue = 1,326 (>1) với tổng phương sai trích tăng lên 71,778% (>50%). Tất cả các biến quan sát còn lại đều có hệ số tải nhân tố > 0,5, đáp ứng yêu cầu về giá trị hội tụ và được giữ lại cho các bước phân tích tiếp theo (Bảng 2).

Bảng 2: Ma trận xoay nhân tố khám phá EFA

Ý định mua quần áo second-hand của thế hệ Z: Tiếp cận tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch và mô hình kích hoạt chuẩn mực

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

Phân tích tương quan

Bảng 3: Ma trận tương quan giữa các biến nghiên cứu

Ý định mua quần áo second-hand của thế hệ Z: Tiếp cận tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch và mô hình kích hoạt chuẩn mực

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

Các biến trong mô hình chủ yếu có tương quan dương với nhau và hệ số tương quan đều nhỏ hơn 0,8, cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng (Bảng 3).

Phân tích nhân tố khẳng định CFA

Kết quả phân tích CFA cho thấy các thang đo đều đạt độ tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Cụ thể, hệ số độ tin cậy tổng hợp (CR) dao động từ 0,829 đến 0,899 và tổng phương sai trích (AVE) dao động từ 0,542 đến 0,690, đều lớn hơn ngưỡng yêu cầu. Đồng thời, giá trị AVE của các nhân tố đều lớn hơn MSV và căn bậc hai AVE của từng biến đều lớn hơn hệ số tương quan với các biến còn lại, cho thấy thang đo đạt giá trị phân biệt.

Kết quả CFA cũng cho thấy mô hình phù hợp với dữ liệu nghiên cứu thông qua các chỉ số: Chi-square/df = 1,949 (<5), TLI = 0,908 (>0,9), CFI = 0,917 (>0,9), GFI = 0,837 (>0,8) và RMSEA = 0,050 (<0,08). Ngoài ra, tất cả các trọng số chuẩn hóa đều lớn hơn 0,5 và có ý nghĩa thống kê với p-value < 0,05, chứng tỏ các biến quan sát đạt giá trị hội tụ và có khả năng đại diện tốt cho các nhân tố trong mô hình. Do đó, các thang đo được giữ lại để tiếp tục thực hiện phân tích SEM.

Kiểm định mô hình cấu trúc

Hình 2: Kết quả mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

Ý định mua quần áo second-hand của thế hệ Z: Tiếp cận tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch và mô hình kích hoạt chuẩn mực

Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả

Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM cho thấy mô hình nghiên cứu phù hợp với dữ liệu khảo sát khi các chỉ số đánh giá đều đạt ngưỡng chấp nhận, bao gồm Chi-square/df = 1,963 (<3), GFI = 0,834 (>0,8), TLI = 0,904 (>0,9), CFI = 0,912 (>0,9) và RMSEA = 0,050 (<0,08). Điều này khẳng định mô hình lý thuyết đề xuất có khả năng giải thích tốt ý định mua quần áo second-hand của thế hệ Z (Hình 2).

Bảng 4: Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu (chuẩn hóa)

Ý định mua quần áo second-hand của thế hệ Z: Tiếp cận tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch và mô hình kích hoạt chuẩn mực
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả

Kết quả SEM cho thấy hầu hết các giả thuyết đều được chấp nhận. Trong đó, thái độ có tác động mạnh nhất đến ý định mua, còn giả thuyết H7 bị bác bỏ do không có ý nghĩa thống kê (Bảng 4).

Bảng 5: Kết quả đánh giá mối quan hệ điều tiết của biến PE

Ý định mua quần áo second-hand của thế hệ Z: Tiếp cận tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch và mô hình kích hoạt chuẩn mực

Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả

Kết quả phân tích vai trò điều tiết của biến kinh nghiệm mua trước (PE) cho thấy cả ba mối quan hệ điều tiết đều có ý nghĩa thống kê với p-value < 0,05, do đó các giả thuyết H10a, H10b và H10c đều được chấp nhận (Bảng 5). Cụ thể, PE điều tiết tích cực mối quan hệ giữa thái độ và ý định mua (PI) với hệ số β = 0,1402 và p = 0,0001; giữa chuẩn mực xã hội và PI với β = 0,1375 và p = 0,0001; đồng thời giữa nhận thức kiểm soát hành vi và PI với β = 0,1307 và p = 0,0180. Kết quả này cho thấy khi người tiêu dùng đã từng có trải nghiệm mua quần áo second-hand, tác động của thái độ, chuẩn mực xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi đến ý định mua sẽ trở nên mạnh hơn. Điều này phản ánh vai trò của kinh nghiệm mua trước trong việc gia tăng sự quen thuộc, giảm e ngại và củng cố niềm tin của người tiêu dùng Gen Z đối với hành vi mua quần áo second-hand.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Nghiên cứu cho thấy động lực kinh tế, động lực thời trang và động lực bền vững đều tác động tích cực đến thái độ mua quần áo second-hand của Gen Z, trong đó động lực thời trang ảnh hưởng mạnh nhất. Nhận thức về hậu quả và gán trách nhiệm tác động tích cực đến chuẩn mực cá nhân. Thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi và chuẩn mực cá nhân đều thúc đẩy ý định mua, trong khi chuẩn mực xã hội không có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, kinh nghiệm mua trước có vai trò điều tiết đối với ý định mua. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lý thuyết và cung cấp hàm ý thực tiễn cho doanh nghiệp thời trang second-hand.

Doanh nghiệp cần xây dựng giá cả hợp lý, nhấn mạnh giá trị sử dụng và định vị second-hand như lựa chọn thời trang cá tính, hợp xu hướng. Đồng thời, cần tăng cường truyền thông về tiêu dùng bền vững và tối ưu trải nghiệm mua sắm thông qua minh bạch thông tin, cải thiện nền tảng mua hàng và nâng cao trải nghiệm mua đầu tiên nhằm thúc đẩy ý định mua lặp lại của Gen Z.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50, 179–211.

2. Akasreku, F., Mensah, K., Amenuvor, F.E., Oko-Adjei, G.A. and Amoah, S.K. (2025). Using the theory of interpersonal behaviour to determine sustainable consumer behaviour in purchasing secondhand clothes in developing economies. SN Business and Economics, 5, 166.

3. De Groot, J.I.M. and Steg, L. (2009). Morality and prosocial behavior: The role of awareness, responsibility, and norms in the norm activation model. The Journal of Social Psychology, 149(4), pp. 425–449.

4. Fan, X. and Ye, J. (2024). Determinants of consumers’ apparel recycling behavior intention using the extended norm activation model and the theory of planned behavior: An empirical study from China. Environment Development and Sustainability, December 2024, DOI:10.1007/s10668-024-05925-3

5. Fishbein, M. and Yzer, M.C. (2003). Using theory to design effective health behavior interventions. Communication Theory, 13(2), pp. 164–183.

6. Guiot, D. and Roux, D. (2010). A second-hand shoppers’ motivation scale: Antecedents, consequences, and implications for retailers. Journal of Retailing, 86(4), pp. 355–371.

7. Herjanto, H., Amin, M., Purinton, E. & Lindle II, E.L. (2023). Secondhand clothing purchase intentions: Generation Z’s perspective. Journal of Global Responsibility. https://doi.org/10.1108/JGR-08-2022-0077

8. Hsieh, C.M., Park, S.H. and McNally, R. (2016). Application of the theory of planned behavior to intentions to travel to a casino resort. International Journal of Hospitality Management, 52, pp. 1–11.

9. Onel, N. and Mukherjee, A. (2017). Why do consumers recycle? A holistic perspective encompassing moral considerations, affective responses, and self-interest motives. Psychology and Marketing, 34(10), pp. 956–971.

10. Rausch, T.M. and Kopplin, C.S. (2021). Bridge the gap: Consumers’ purchase intention and behavior regarding sustainable clothing. Journal of Cleaner Production, 278, 123882.

11. Schwartz, S.H. (1977). Normative influences on altruism. In: Berkowitz, L. (ed.) Advances in experimental social psychology. Vol. 10. New York: Academic Press, pp. 221–279.

12. Sepe, F., Valerio, M., Anna, P., & Mario, T. (2025). Fashion and sustainability: Evidence from the consumption of second‐hand clothes. Corporate Social Responsibility and Environmental Management, 32(1), 947-962. https:// doi.org/10.1002/csr.2973

13. Styvén, M. E., & Mariani, M. M. (2020). Understanding the intention to buy secondhand clothing on sharing economy platforms: The influence of sustainability, distance from the consumption system, and economic motivations. Psychology & Marketing, 37(5), 724–739.

14. Yeap, J. A., Ooi, S. K., Yapp, E. H., & Ramesh, N. (2022). Preloved is reloved: investigating predispositions of second-hand clothing purchase on C2C platforms. The Service Industries Journal, 44(13-14), 993-1017. https://doi.org/10.1080/02642069.2022.2127689

15. Zhou, Q., Ji, X., Li, N. and Zhou, L. (2025). Consumers’ second-hand clothing purchase intention: Integrating TPB, face consciousness and past purchase experience. Frontiers in Psychology, 16, 1645116.

Ngày nhận bài: 24/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 17/5/2026; Ngày duyệt đăng: 26/5/2026

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"