Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư sản xuất xanh tại làng nghề thủ công nghiệp truyền thống ở Việt Nam: Nghiên cứu điển hình tại làng gốm Bát Tràng và làng lụa Vạn Phúc

Doanh nghiệp - Kinh doanh 14:53 | 31/03/2026 Hoàng Thị Thu Hà, Phạm Minh Vũ
Thực trạng sản xuất hiện nay tại các làng nghề đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường, quy mô nhỏ lẻ và công nghệ lạc hậu. Việc chuyển dịch sang sản xuất xanh tại đây không chỉ đơn thuần là thay đổi kỹ thuật mà còn là sự thay đổi trong tư duy quản trị của các hộ gia đình.

TS. Hoàng Thị Thu Hà

Phạm Minh Vũ

Email: vupham110006@gmail.com

Vũ Thị Ngọc Lan, Vũ Thị Hồng Vân, Nguyễn Thị Thúy Hiền

Đại học Kinh tế Quốc dân

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc quyết định đầu tư sản xuất xanh của các hộ gia đình tại làng nghề thủ công nghiệp truyền thống Việt Nam thông qua khảo sát thực tế tại làng gốm Bát Tràng và làng lụa Vạn Phúc. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gồm định tính và định lượng, kết quả nghiên cứu tổng thể cho thấy các nhân tố: Thái độ, Chuẩn mực chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Kiến thức kinh tế xanh, Hỗ trợ của nhà nước, Áp lực khách hàng, Áp lực cạnh tranh, Áp lực chuỗi cung ứng và đối tác thị trường quốc tế đều có tác động cùng chiều đến Quyết định đầu tư. Dựa trên kết quả nghiên cứu, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản trị nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh bền vững tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống ở Việt Nam.

Từ khóa: Đầu tư sản xuất xanh, làng nghề thủ công nghiệp truyền thống, lý thuyết hành vi có kế hoạch

Summary

This study analyzes the factors influencing households’ decisions to invest in green production in traditional handicraft villages in Viet Nam, based on field surveys conducted in Bat Trang pottery village and Van Phuc silk village. Using a mixed-methods approach combining qualitative and quantitative techniques, the overall findings indicate that factors such as attitude, subjective norms, perceived behavioral control, green economic knowledge, government support, customer pressure, competitive pressure, supply chain pressure, and international market partner pressure all positively influence investment decisions. Based on these results, the study proposes several managerial solutions to promote sustainable green transformation in traditional handicraft villages in Viet Nam.

Keywords: Green production investment, traditional handicraft villages, theory of planned behavior

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, sản xuất xanh đã trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế bền vững tại Việt Nam. Hiện nay, các làng nghề truyền thống không chỉ đóng vai trò trụ cột kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa tinh thần vô giá của dân tộc. Tuy nhiên, thực trạng sản xuất hiện nay tại các làng nghề đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường, quy mô nhỏ lẻ và công nghệ lạc hậu. Việc chuyển dịch sang sản xuất xanh tại đây không chỉ đơn thuần là thay đổi kỹ thuật mà còn là sự thay đổi trong tư duy quản trị của các hộ gia đình. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm nhận diện các yếu tố thúc đẩy các chủ hộ tại 2 làng nghề điển hình là Bát Tràng và Vạn Phúc thực hiện đầu tư vào các quy trình sản xuất thân thiện với môi trường. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp quản trị nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh bền vững tại các làng nghề truyền thống.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở tích hợp Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) và Lý thuyết thể chế của DiMaggio và Powell (1983). Theo TPB, hành vi của cá nhân chịu ảnh hưởng bởi 3 yếu tố chính gồm: thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Lý thuyết thể chế nhấn mạnh vai trò của các quy ước cộng đồng và quy định pháp lý trong việc định hướng hành vi của các thanh viên trong xã hội, bao gồm cả các chủ hộ sản xuất kinh doanh. Sự kết hợp 2 nền tảng lý thuyết này giúp giải thích quá trình ra quyết định đầu tư sản xuất xanh trong bối cảnh các làng nghề truyền thống.

Tổng quan nghiên cứu

Theo Sucheta Agarwal và cộng sự (2020), sản xuất xanh được hiểu theo 2 nghĩa. Thứ nhất, sản xuất xanh tạo ra sản phẩm “xanh”, đặc biệt là những hàng hóa được sử dụng trong các nguồn năng lượng và máy móc có công nghệ sạch, hiện đại. Thứ hai, sản xuất xanh mang nghĩa “xanh hóa” quá trình sản xuất - tức là giảm ô nhiễm và chất thải bằng cách giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tái chế vật liệu và giảm phát thải.

Thái độ đối với đầu tư xanh là mức độ tích cực hoặc tiêu cực mà một người thể hiện dựa trên niềm tin cá nhân về đầu tư xanh (Malzara và cộng sự, 2023). Chuẩn mực chủ quan là niềm tin của một cá nhân về việc thực hiện theo những lời khuyên và ý kiến từ những người xung quanh có ảnh hưởng quan trọng đối với họ, dù những người này ủng hộ hay không ủng hộ, nhằm tác động đến hành vi của cá nhân trong việc đưa ra quyết định đầu tư xanh (Malzara và cộng sự, 2023).

Nhận thức kiểm soát hành vi là niềm tin của một người về việc bản thân mình có đủ khả năng hay không và có thể vượt qua các trở ngại hay không khi thực hiện những hành vi có thể thúc đẩy hoặc cản trở đến quyết định đầu tư xanh (Malzara và cộng sự, 2023).

Kiến thức về kinh tế xanh là sự hiểu biết chung, bao gồm sự am hiểu sâu sắc về các quy định pháp lý, lợi ích kinh tế - xã hội của sản xuất sạch và các giải pháp công nghệ hiện đại (Nguyễn Thị Bích Nguyệt, 2024).

Hỗ trợ của chính phủ là các chương trình cho vay, ưu đãi và các cơ sở đào tạo (Alkahtani và cộng sự 2020). Theo Desai và Shaikh (2018), sự hỗ trợ của chính phủ đóng vai trò then chốt như nguồn lực bên ngoài đóng góp đáng kể vào hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Về áp lực từ khách hàng, trong nghiên cứu 331 doanh nghiệp sản xuất tại khu vực Đông Nam Bộ Việt Nam, Tran (2024) chỉ ra rằng, áp lực khách hàng có tác động tích cực và mạnh mẽ đến “tư duy xanh” và “sáng tạo xanh”, và 2 yếu tố này lần lượt thúc đẩy đổi mới xanh. Đáng chú ý, mối quan hệ giữa áp lực khách hàng và đổi mới xanh là quan hệ trung gian hoàn toàn, cho thấy khách hàng không làm thay đổi hành vi ngay lập tức mà thông qua việc tái cấu trúc nhận thức và năng lực sáng tạo của tổ chức.

Về áp lực cạnh tranh từ các cơ sở sản xuất cùng ngành, theo Kesidou và Demirel (2010), cạnh tranh thị trường và nhu cầu duy trì lợi thế cạnh tranh là yếu tố kích hoạt mạnh mẽ các hoạt động đổi mới xanh. Horbach và cộng sự (2012) khẳng định rằng áp lực cạnh tranh có tác động đến đổi mới quy trình và sản phẩm xanh, bởi doanh nghiệp có xu hướng bắt chước các mô hình thành công nhằm tránh mất thị phần.

Áp lực từ chuỗi cung ứng bao gồm yêu cầu từ nhà cung cấp, đối tác quốc tế và tổ chức trung gian. Li và cộng sự (2023) xác nhận rằng, áp lực chuẩn mực từ khách hàng, nhà cung cấp và tổ chức xã hội có tác động tích cực đến áp dụng quản lý chuỗi cung ứng xanh (GSCM).

Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các giả thuyết dưới đây và mô hình nghiên cứu như Hình:

H1: Thái độ đối với đầu tư sản xuất xanh tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống.

H2: Chuẩn mực chủ quan tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống.

H3. Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống.

H4: Kiến thức về kinh tế xanh có tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh của hộ gia đình làng nghề.

H5: Hỗ trợ của nhà nước có tác động cùng chiều tới Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống.

H6: Áp lực từ khách hàng có tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công truyền thống.

H7: Áp lực từ đối thủ cạnh tranh có tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công truyền thống.

H8: Áp lực từ thị trường cung ứng xuất nhập khẩu có tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công truyền thống.

Hình: Mô hình nghiên cứu

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Với phương pháp nghiên cứu định tính, nhóm tác giả tiến hành 7 cuộc phỏng vấn sâu với các chủ cơ sở sản xuất tiêu biểu (4 hộ tại Bát Tràng và 3 hộ tại Vạn Phúc) và 1 cuộc phỏng vấn với lãnh đạo Hiệp hội/Hợp tác xã làng nghề Vạn Phúc nhằm đưa ra thực trạng đầu tư sản xuất tại làng nghề thủ công và điều chỉnh các biến quan sát sao cho phù hợp với đặc thù làng nghề Việt Nam.

Với phương pháp nghiên cứu định lượng, nhóm tác giả khảo sát trực tiếp các hộ gia đình và cơ sở sản xuất tại làng gốm Bát Tràng và làng lụa Vạn Phúc. Tổng 700 phiếu thu về, sau khi làm sạch còn 683 phiếu hợp lệ. Nhóm tác giả sử dụng phần mềm SmartPLS 4 để xử lý dữ liệu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

Bảng 1: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha

Tên biến

Mã hóa

Cronbach's

Alpha

Độ tin cậy tổng hợp

(rho_c)

Thái độ đối với đầu tư sản xuất xanh

ATT

0,938

0,951

Áp lực từ khách hàng

BP

0,881

0,918

Áp lực từ đối thủ cạnh tranh

CP

0,942

0,956

Nguồn lực về vốn

CR

0,932

0,947

Kiến thức về kinh tế xanh

GEK

0,828

0,887

Áp lực thị trường cung ứng XNK

GFI

0,916

0,941

Hỗ trợ tài chính

GFS

0,938

0,953

Quyết định đầu tư sản xuất xanh

DEC

0,916

0,935

Hỗ trợ pháp lý

RP

0,928

0,945

Chuẩn mực chủ quan

SN

0,864

0,907

Nguồn lực về công nghệ

TC

0,878

0,911

Nhận thức về năng lực kỹ thuật

TSE

0,910

0,933

Hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ

TTS

0,942

0,955

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

Các biến trong nghiên cứu có giá trị Cronbach’s Alpha dao động từ 0,828 đến 0,942 đều ghi nhận hệ số ở mức cao, phản ánh sự đồng nhất nội bộ chặt chẽ giữa các biến quan sát trong cùng một thang đo. Về giá trị độ tin cậy tổng hợp (rho_c), toàn bộ 13 nhân tố đều có giá trị rho_c vượt đáng kể so với ngưỡng chấp nhận tối thiểu 0,70 (Hair và cộng sự, 2013), dao động từ 0,887 (GEK) đến 0,956 (CP), cho thấy thang đo đạt mức độ tin cậy từ tốt đến xuất sắc.

Kiểm định mô hình đo lường kết quả (Measurement model)

Bảng 2: Kết quả giá trị hội tụ (AVE)

Mã hóa

Phương sai trích trung bình

(AVE)

ATT

0,763

BP

0,737

CP

0,812

CR

0,748

GEK

0,662

GFI

0,799

GFS

0,802

DEC

0,705

RP

0,776

SN

0,710

TC

0,672

TSE

0,735

TTS

0,811

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

Kết quả kiểm định (Bảng 2) cho thấy, chỉ số AVE của các nhân tố đều > 0,5, các giá trị này đều vượt xa ngưỡng tối thiểu 0,5 theo khuyến nghị của Fornell và Larcker (1981). Khi kết hợp sự thỏa mãn của cả hệ số tải ngoài (Outer loadings) và chỉ số AVE, nhóm tác giả có đủ căn cứ khoa học để kết luận rằng toàn bộ các thang đo trong nghiên cứu này đều đạt giá trị hội tụ ổn định.

Kiểm định mô hình cấu trúc (strusctural model)

Bảng 3: Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Hệ số đường dẫn (β)

P values

Kết luận

ATT → DEC

0,060

0,014

Chấp nhận

BP → DEC

0,131

0,000

Chấp nhận

CP → DEC

0,078

0,008

Chấp nhận

GEK → DEC

0,188

0,000

Chấp nhận

GFI → DEC

0,239

0,000

Chấp nhận

GS → DEC

0,145

0,000

Chấp nhận

PBC → DEC

0,188

0,000

Chấp nhận

SN → DEC

0,212

0,000

Chấp nhận

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

Kết quả tại Bảng 3 cho thấy toàn bộ 8 giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận khi tất cả các mối quan hệ trong mô hình cấu trúc đều có ý nghĩa thống kê với P-value < 0,05, trong đó 6 trong 8 biến đạt mức P-value = 0,000. Tất cả các hệ số đường dẫn (β) đều mang dấu dương, khẳng định chiều tác động thuận chiều của các nhân tố đối với Quyết định đầu tư sản xuất xanh (DEC).

Bảng 4: Giá trị hiệu chỉnh R²

Nhân tố

R² hiệu chỉnh

DEC

0,589

0,584

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

Tại Bảng 4, biến phụ thuộc Quyết định đầu tư sản xuất xanh (DEC) có R² = 0,589 và R² hiệu chỉnh = 0,584, cho thấy 8 biến độc lập trong mô hình cộng lại giải thích được 58,4% sự biến thiên của Quyết định đầu tư sản xuất xanh. Đây là mức giải thích khá cao trong nghiên cứu khoa học xã hội, đặc biệt trong bối cảnh nghiên cứu hành vi của các hộ sản xuất tại làng nghề truyền thống - nơi quyết định đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố phi cấu trúc khó đo lường như kinh nghiệm cá nhân, thói quen sản xuất lâu đời hay mạng lưới quan hệ xã hội đặc thù.

Đánh giá sự khác biệt bằng phương pháp phân tích đa nhóm (MGA)

Để kiểm định biến định tính “Loại hình làng nghề” có tạo ra sự khác biệt về ý nghĩa thống kê trong mối quan hệ của mô hình hay không, nhóm tác giả tiến hành phương pháp phân tích đa nhóm (MGA), bao gồm 2 nhóm: làng gốm Bát Tràng và làng lụa Vạn Phúc.

Bảng 5: Kết quả phân tích đa nhóm (MGA)

Mối

quan hệ

Giả thuyết

Hệ số β (Gốm)

Hệ số β (Lụa)

p-value (Gốm)

p-value (Lụa)

Kết quả (Gốm)

Kết quả (Lụa)

ATT → DEC

H1

0,091

0,005

0,007

0,907

Chấp nhận

Bác bỏ

BP → DEC

H6

0,239

0,071

0,000

0,129

Chấp nhận

Bác bỏ

CP → DEC

H7

0,245

-0,007

0,000

0,884

Chấp nhận

Bác bỏ

GEK → DEC

H4

0,133

0,201

0,000

0,000

Chấp nhận

Chấp nhận

GFI → DEC

H8

0,140

0,238

0,002

0,000

Chấp nhận

Chấp nhận

GS → DEC

H5

0,095

0,171

0,001

0,000

Chấp nhận

Chấp nhận

PBC → DEC

H3

0,131

0,208

0,000

0,000

Chấp nhận

Chấp nhận

SN → DEC

H2

0,132

0,256

0,001

0,000

Chấp nhận

Chấp nhận

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

Theo kết quả phân tích (Bảng 5), tại làng gốm Bát Tràng, nhân tố có hệ số tác động lớn nhất là Áp lực từ đối thủ cạnh tranh (CP) với β = 0,245, tiếp theo là Áp lực từ khách hàng (BP) với β = 0,239. Như vậy, tại làng nghề gốm, động lực chuyển đổi xanh chủ yếu đến từ áp lực thị trường cạnh tranh trực tiếp. Mô hình hành vi tại Bát Tràng nghiêng về cơ chế phản ứng thị trường: các chủ hộ quan sát hành động của đối thủ và nhu cầu của khách hàng, từ đó quyết định đổi mới để không mất lợi thế cạnh tranh.

Tại làng lụa Vạn Phúc, nhân tố tác động mạnh nhất là Chuẩn mực chủ quan (SN) với β = 0,256, tiếp theo là Áp lực thị trường cung ứng xuất nhập khẩu (GFI) với β = 0,238. Ba nhân tố: Thái độ đối với đầu tư sản xuất xanh (ATT), Áp lực từ khách hàng (BP) và Áp lực từ đối thủ cạnh tranh (CP) không có ý nghĩa thống kê. Mô hình hành vi tại Vạn Phúc nghiêng về cơ chế tuân thủ chuẩn mực xã hội và chuỗi cung ứng: khi cộng đồng và các đối tác xuất khẩu kỳ vọng sản xuất xanh, chủ hộ có xu hướng tuân theo để duy trì tính hợp pháp xã hội và vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Từ kết qua nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh bền vững tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất, Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ sản xuất xanh. Mặc dù đã có nhiều chủ trương và chương trình liên quan đến tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, nhưng việc tiếp cận và triển khai các chính sách này tại các làng nghề vẫn còn nhiều khó khăn. Theo đó, cần xây dựng và mở rộng các chương trình tín dụng xanh nhằm hỗ trợ các cơ sở sản xuất tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để đầu tư vào sản xuất thân thiện môi trường.

Thứ hai, các hiệp hội làng nghề tăng cường vai trò định hướng và lan tỏa nhận thức về sản xuất xanh trong cộng đồng làng nghề nhằm hình thành các chuẩn mực sản xuất thân thiện môi trường. Đồng thời kết hợp đẩy mạnh hoạt động đào tạo, tư vấn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ sạch cho các cơ sở, hộ sản xuất, tăng cường vai trò kết nối thị trường và hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề theo hướng bền vững.

Thứ ba, các cơ sở sản xuất chủ động nâng cao nhận thức, hiểu biết về sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn cùng với nâng cao năng lực quản lý sản xuất, đầu tư cải tiến thiết bị, tối ưu hóa quy trình sản xuất. Chủ động thích ứng với xu hướng tiêu dùng xanh và áp lực từ thị trường để có thể tạo ra những sản phẩm vừa phù hợp với yêu cầu thị trường, vừa giữ được nét truyền thống văn hóa của nghề thủ công.

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy toàn bộ 8 giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận; 8 nhân tố được đều tác động thuận chiều đến Quyết định đầu tư sản xuất xanh, trong đó, Áp lực thị trường cung ứng xuất nhập khẩu (GFI) có tác động mạnh nhất, tiếp theo là Chuẩn mực chủ quan (SN).

Kết quả phân tích đa nhóm (MGA) chỉ ra 2 mô hình hành vi hoàn toàn khác nhau về bản chất. Đáng chú ý, 3 nhân tố ATT, BP và CP chỉ có ý nghĩa thống kê tại Bát Tràng và bị bác bỏ tại Vạn Phúc, cho thấy tại làng Lụa, quyết định đầu tư xanh được dẫn dắt chủ yếu bởi các lực lượng bên ngoài hơn là thái độ hay áp lực cạnh tranh nội ngành - cho thấy sự phân hóa rõ rệt về cơ chế tác động giữa 2 loại hình làng nghề. Qua đó đặt ra những yêu cầu cụ thể cho việc thiết kế các khuyến nghị phù hợp với đặc thù từng ngành nghề.

Tài liệu tham khảo:

1. Agarwal, S., Agrawal, V., & Dixit, J. K. (2020). Green manufacturing: A MCDM approach. Materials Today: Proceedings, 26(1), 2869-2874. https://doi.org/10.1016/j.matpr.2020.02.595

2. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T

3. Alkahtani, A., Nordin, N., & Khan, R. U. (2020). Does government support enhance the relation between networking structure and sustainable competitive performance among SMEs? Journal of Innovation and Entrepreneurship, 9(1). https://doi.org/10.1186/s13731-020-00127-3

4. Desai, D. A., & Shaikh, A. J. A. (2018). Reducing failure rate at high voltage (HV) testing of insulator using six sigma methodology. International Journal of Productivity and Performance Management.

5. DiMaggio, P. J., & Powell, W. W. (1983). The Iron Cage Revisited: Institutional Isomorphism and Collective Rationality in Organizational Fields. American Sociological Review, 48(2), 147–160. https://doi.org/10.2307/2095101

6. Fornell, C. & Larcker, D. F. (1981). Evaluating Structural Equation Models withUnobservable Variables and Measurement Error. Journal of Marketing Research,18(1), 39. https://doi.org/10.2307/3151312

7. Hair, J. F., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2013). Partial Least Squares StructuralEquation Modeling: Rigorous Applications, Better Results and Higher Acceptance.Long Range Planning, 46(1-2), 1-12. https://doi.org/10.1016/j.lrp.2013.01.001

8. Horbach, J., Rammer, C., & Rennings, K. (2012). Determinants of eco-innovations by type of environmental impact - The role of regulatory push/pull, technology push and market pull. Ecological Economics, 78(1), 112-122. https://doi.org/10.1016/j.ecolecon.2012.04.005

9. Kesidou, E., & Demirel, P. (2010). On the Drivers of Eco-Innovations: Empirical Evidence from the UK. SSRN Electronic Journal, 41(5). https://doi.org/10.2139/ssrn.1555733

10. Li, Z., Nazir, S., Hussain, I., Mehmood, S., & Nazir, Z. (2023). Exploration of the impact of green supply chain management practices on manufacturing firms’ performance through a mediated-moderated model. Frontiers in Environmental Science, 11. https://doi.org/10.3389/fenvs.2023.1291688

11. Malzara, V. R.B., WidyastutI, U., & Buchdadi, A. D. (2023). Analysis of Gen Z’s greeninvestment intention: The application of theory of planned behavior. JurnalDinamika Manajemen Dan Bisnis, 6(2), 63-84. https://journal.unj.ac.id/unj/index.php/jdmb/article/view/36376/15484

12. Nguyễn, T. B. N. (2024). Kinh tế xanh và các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam. Tạp Chí Công Thương. https://tapchicongthuong.vn/kinh-te-xanh-va-cac-nhan-to-anh-huong-den-ket-qua-thuc-hien-chien-luoc-phat-trien-kinh-te-xanh-tai-viet-nam-123810.htm

13. Tran, N. K. H. (2024). Customer Pressure and Creating Green Innovation: The Role of Green Thinking and Green Creativity. Sustainable Futures, 7, 100177-100177. https://doi.org/10.1016/j.sftr.2024.100177

Ngày nhận bài: 14/2/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/3/2026; Ngày duyệt đăng: 31/3/2026

Các tin khác

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Các yếu tố quyết định thành công trong triển khai bảo trì năng suất toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam

Các yếu tố quyết định thành công trong triển khai bảo trì năng suất toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam

Về bản chất, bảo trì năng suất toàn diện không chỉ là một kỹ thuật bảo trì thiết bị, mà là một triết lý quản trị sản xuất hướng đến tối đa hóa hiệu suất thiết bị thông qua sự tham gia của toàn bộ tổ chức, từ lãnh đạo cấp cao, bộ phận bảo trì, bộ phận sản xuất đến người vận hành trực tiếp.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu suất công việc của nhân viên hành chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TP.  Hồ Chí Minh

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu suất công việc của nhân viên hành chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TP. Hồ Chí Minh

Chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi quy trình vận hành của doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà còn tác động trực tiếp đến môi trường làm việc và trải nghiệm của nhân viên. Trong bối cảnh đó, việc làm rõ mối quan hệ giữa công nghệ, văn hóa tổ chức, sự hài lòng và hiệu suất công việc có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hậu cần hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài: Vai trò trung gian của giá trị cảm nhận

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hậu cần hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài: Vai trò trung gian của giá trị cảm nhận

Trong lĩnh vực hậu cần hàng không tại Nội Bài, giá trị cảm nhận là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ của khách hàng.
Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Supertex, TP. Hà Nội

Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Supertex, TP. Hà Nội

Trong ngành dệt may - lĩnh vực thâm dụng lao động đặc trưng - quản trị nguồn nhân lực là yếu tố cốt lõi quyết định đến năng suất, chi phí vận hành và khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động thị trường.
Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh và biến động, khả năng duy trì lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để đánh giá tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động, các chỉ số tài chính được sử dụng như những công cụ quan trọng, giúp phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau về sức khỏe tài chính, khả năng quản lý nguồn lực và kết quả kinh doanh.
Các đòn bẩy chiến lược nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp giao nhận vận tải: Khung ưu tiên quản trị dựa trên bằng chứng thực nghiệm

Các đòn bẩy chiến lược nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp giao nhận vận tải: Khung ưu tiên quản trị dựa trên bằng chứng thực nghiệm

Trong bối cảnh cạnh tranh gia tăng, chuyển đổi số, yêu cầu phát triển bền vững và chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp giao nhận vận tải ngày càng phụ thuộc vào khả năng huy động và chuyển hóa nguồn lực vô hình, tri thức, quan hệ và năng lực tổ chức.
Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên

Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên

Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đang trở thành định hướng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 nhấn mạnh việc gắn tăng trưởng với bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tác động của IFRS 16 đối với các doanh nghiệp hàng không Việt Nam: Trường hợp Vietnam Airlines và VietJet Air

Tác động của IFRS 16 đối với các doanh nghiệp hàng không Việt Nam: Trường hợp Vietnam Airlines và VietJet Air

Giai đoạn 2020-2023, ngành hàng không Việt Nam trải qua biến động mạnh do đại dịch COVID-19 và quá trình phục hồi nhu cầu vận tải. Vietnam Airlines và VietJet Air, đại diện cho 2 mô hình kinh doanh khác nhau, đều có đặc điểm chung là sử dụng đáng kể tàu bay thuê, trong đó nhiều hợp đồng được thực hiện dưới hình thức thuê hoạt động.