Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư sản xuất xanh tại làng nghề thủ công nghiệp truyền thống ở Việt Nam: Nghiên cứu điển hình tại làng gốm Bát Tràng và làng lụa Vạn Phúc
TS. Hoàng Thị Thu Hà
Phạm Minh Vũ
Email: vupham110006@gmail.com
Vũ Thị Ngọc Lan, Vũ Thị Hồng Vân, Nguyễn Thị Thúy Hiền
Đại học Kinh tế Quốc dân
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc quyết định đầu tư sản xuất xanh của các hộ gia đình tại làng nghề thủ công nghiệp truyền thống Việt Nam thông qua khảo sát thực tế tại làng gốm Bát Tràng và làng lụa Vạn Phúc. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gồm định tính và định lượng, kết quả nghiên cứu tổng thể cho thấy các nhân tố: Thái độ, Chuẩn mực chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Kiến thức kinh tế xanh, Hỗ trợ của nhà nước, Áp lực khách hàng, Áp lực cạnh tranh, Áp lực chuỗi cung ứng và đối tác thị trường quốc tế đều có tác động cùng chiều đến Quyết định đầu tư. Dựa trên kết quả nghiên cứu, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản trị nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh bền vững tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống ở Việt Nam.
Từ khóa: Đầu tư sản xuất xanh, làng nghề thủ công nghiệp truyền thống, lý thuyết hành vi có kế hoạch
Summary
This study analyzes the factors influencing households’ decisions to invest in green production in traditional handicraft villages in Viet Nam, based on field surveys conducted in Bat Trang pottery village and Van Phuc silk village. Using a mixed-methods approach combining qualitative and quantitative techniques, the overall findings indicate that factors such as attitude, subjective norms, perceived behavioral control, green economic knowledge, government support, customer pressure, competitive pressure, supply chain pressure, and international market partner pressure all positively influence investment decisions. Based on these results, the study proposes several managerial solutions to promote sustainable green transformation in traditional handicraft villages in Viet Nam.
Keywords: Green production investment, traditional handicraft villages, theory of planned behavior
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, sản xuất xanh đã trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế bền vững tại Việt Nam. Hiện nay, các làng nghề truyền thống không chỉ đóng vai trò trụ cột kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa tinh thần vô giá của dân tộc. Tuy nhiên, thực trạng sản xuất hiện nay tại các làng nghề đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường, quy mô nhỏ lẻ và công nghệ lạc hậu. Việc chuyển dịch sang sản xuất xanh tại đây không chỉ đơn thuần là thay đổi kỹ thuật mà còn là sự thay đổi trong tư duy quản trị của các hộ gia đình. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm nhận diện các yếu tố thúc đẩy các chủ hộ tại 2 làng nghề điển hình là Bát Tràng và Vạn Phúc thực hiện đầu tư vào các quy trình sản xuất thân thiện với môi trường. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp quản trị nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh bền vững tại các làng nghề truyền thống.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở tích hợp Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) và Lý thuyết thể chế của DiMaggio và Powell (1983). Theo TPB, hành vi của cá nhân chịu ảnh hưởng bởi 3 yếu tố chính gồm: thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Lý thuyết thể chế nhấn mạnh vai trò của các quy ước cộng đồng và quy định pháp lý trong việc định hướng hành vi của các thanh viên trong xã hội, bao gồm cả các chủ hộ sản xuất kinh doanh. Sự kết hợp 2 nền tảng lý thuyết này giúp giải thích quá trình ra quyết định đầu tư sản xuất xanh trong bối cảnh các làng nghề truyền thống.
Tổng quan nghiên cứu
Theo Sucheta Agarwal và cộng sự (2020), sản xuất xanh được hiểu theo 2 nghĩa. Thứ nhất, sản xuất xanh tạo ra sản phẩm “xanh”, đặc biệt là những hàng hóa được sử dụng trong các nguồn năng lượng và máy móc có công nghệ sạch, hiện đại. Thứ hai, sản xuất xanh mang nghĩa “xanh hóa” quá trình sản xuất - tức là giảm ô nhiễm và chất thải bằng cách giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tái chế vật liệu và giảm phát thải.
Thái độ đối với đầu tư xanh là mức độ tích cực hoặc tiêu cực mà một người thể hiện dựa trên niềm tin cá nhân về đầu tư xanh (Malzara và cộng sự, 2023). Chuẩn mực chủ quan là niềm tin của một cá nhân về việc thực hiện theo những lời khuyên và ý kiến từ những người xung quanh có ảnh hưởng quan trọng đối với họ, dù những người này ủng hộ hay không ủng hộ, nhằm tác động đến hành vi của cá nhân trong việc đưa ra quyết định đầu tư xanh (Malzara và cộng sự, 2023).
Nhận thức kiểm soát hành vi là niềm tin của một người về việc bản thân mình có đủ khả năng hay không và có thể vượt qua các trở ngại hay không khi thực hiện những hành vi có thể thúc đẩy hoặc cản trở đến quyết định đầu tư xanh (Malzara và cộng sự, 2023).
Kiến thức về kinh tế xanh là sự hiểu biết chung, bao gồm sự am hiểu sâu sắc về các quy định pháp lý, lợi ích kinh tế - xã hội của sản xuất sạch và các giải pháp công nghệ hiện đại (Nguyễn Thị Bích Nguyệt, 2024).
Hỗ trợ của chính phủ là các chương trình cho vay, ưu đãi và các cơ sở đào tạo (Alkahtani và cộng sự 2020). Theo Desai và Shaikh (2018), sự hỗ trợ của chính phủ đóng vai trò then chốt như nguồn lực bên ngoài đóng góp đáng kể vào hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Về áp lực từ khách hàng, trong nghiên cứu 331 doanh nghiệp sản xuất tại khu vực Đông Nam Bộ Việt Nam, Tran (2024) chỉ ra rằng, áp lực khách hàng có tác động tích cực và mạnh mẽ đến “tư duy xanh” và “sáng tạo xanh”, và 2 yếu tố này lần lượt thúc đẩy đổi mới xanh. Đáng chú ý, mối quan hệ giữa áp lực khách hàng và đổi mới xanh là quan hệ trung gian hoàn toàn, cho thấy khách hàng không làm thay đổi hành vi ngay lập tức mà thông qua việc tái cấu trúc nhận thức và năng lực sáng tạo của tổ chức.
Về áp lực cạnh tranh từ các cơ sở sản xuất cùng ngành, theo Kesidou và Demirel (2010), cạnh tranh thị trường và nhu cầu duy trì lợi thế cạnh tranh là yếu tố kích hoạt mạnh mẽ các hoạt động đổi mới xanh. Horbach và cộng sự (2012) khẳng định rằng áp lực cạnh tranh có tác động đến đổi mới quy trình và sản phẩm xanh, bởi doanh nghiệp có xu hướng bắt chước các mô hình thành công nhằm tránh mất thị phần.
Áp lực từ chuỗi cung ứng bao gồm yêu cầu từ nhà cung cấp, đối tác quốc tế và tổ chức trung gian. Li và cộng sự (2023) xác nhận rằng, áp lực chuẩn mực từ khách hàng, nhà cung cấp và tổ chức xã hội có tác động tích cực đến áp dụng quản lý chuỗi cung ứng xanh (GSCM).
Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Từ cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các giả thuyết dưới đây và mô hình nghiên cứu như Hình:
H1: Thái độ đối với đầu tư sản xuất xanh tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống.
H2: Chuẩn mực chủ quan tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống.
H3. Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống.
H4: Kiến thức về kinh tế xanh có tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh của hộ gia đình làng nghề.
H5: Hỗ trợ của nhà nước có tác động cùng chiều tới Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống.
H6: Áp lực từ khách hàng có tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công truyền thống.
H7: Áp lực từ đối thủ cạnh tranh có tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công truyền thống.
H8: Áp lực từ thị trường cung ứng xuất nhập khẩu có tác động cùng chiều đến Quyết định sản xuất xanh tại các làng nghề thủ công truyền thống.
Hình: Mô hình nghiên cứu

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Với phương pháp nghiên cứu định tính, nhóm tác giả tiến hành 7 cuộc phỏng vấn sâu với các chủ cơ sở sản xuất tiêu biểu (4 hộ tại Bát Tràng và 3 hộ tại Vạn Phúc) và 1 cuộc phỏng vấn với lãnh đạo Hiệp hội/Hợp tác xã làng nghề Vạn Phúc nhằm đưa ra thực trạng đầu tư sản xuất tại làng nghề thủ công và điều chỉnh các biến quan sát sao cho phù hợp với đặc thù làng nghề Việt Nam.
Với phương pháp nghiên cứu định lượng, nhóm tác giả khảo sát trực tiếp các hộ gia đình và cơ sở sản xuất tại làng gốm Bát Tràng và làng lụa Vạn Phúc. Tổng 700 phiếu thu về, sau khi làm sạch còn 683 phiếu hợp lệ. Nhóm tác giả sử dụng phần mềm SmartPLS 4 để xử lý dữ liệu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha
Bảng 1: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha
|
Tên biến |
Mã hóa |
Cronbach's Alpha |
Độ tin cậy tổng hợp (rho_c) |
|---|---|---|---|
|
Thái độ đối với đầu tư sản xuất xanh |
ATT |
0,938 |
0,951 |
|
Áp lực từ khách hàng |
BP |
0,881 |
0,918 |
|
Áp lực từ đối thủ cạnh tranh |
CP |
0,942 |
0,956 |
|
Nguồn lực về vốn |
CR |
0,932 |
0,947 |
|
Kiến thức về kinh tế xanh |
GEK |
0,828 |
0,887 |
|
Áp lực thị trường cung ứng XNK |
GFI |
0,916 |
0,941 |
|
Hỗ trợ tài chính |
GFS |
0,938 |
0,953 |
|
Quyết định đầu tư sản xuất xanh |
DEC |
0,916 |
0,935 |
|
Hỗ trợ pháp lý |
RP |
0,928 |
0,945 |
|
Chuẩn mực chủ quan |
SN |
0,864 |
0,907 |
|
Nguồn lực về công nghệ |
TC |
0,878 |
0,911 |
|
Nhận thức về năng lực kỹ thuật |
TSE |
0,910 |
0,933 |
|
Hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ |
TTS |
0,942 |
0,955 |
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả
Các biến trong nghiên cứu có giá trị Cronbach’s Alpha dao động từ 0,828 đến 0,942 đều ghi nhận hệ số ở mức cao, phản ánh sự đồng nhất nội bộ chặt chẽ giữa các biến quan sát trong cùng một thang đo. Về giá trị độ tin cậy tổng hợp (rho_c), toàn bộ 13 nhân tố đều có giá trị rho_c vượt đáng kể so với ngưỡng chấp nhận tối thiểu 0,70 (Hair và cộng sự, 2013), dao động từ 0,887 (GEK) đến 0,956 (CP), cho thấy thang đo đạt mức độ tin cậy từ tốt đến xuất sắc.
Kiểm định mô hình đo lường kết quả (Measurement model)
Bảng 2: Kết quả giá trị hội tụ (AVE)
|
Mã hóa |
Phương sai trích trung bình (AVE) |
|---|---|
|
ATT |
0,763 |
|
BP |
0,737 |
|
CP |
0,812 |
|
CR |
0,748 |
|
GEK |
0,662 |
|
GFI |
0,799 |
|
GFS |
0,802 |
|
DEC |
0,705 |
|
RP |
0,776 |
|
SN |
0,710 |
|
TC |
0,672 |
|
TSE |
0,735 |
|
TTS |
0,811 |
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả
Kết quả kiểm định (Bảng 2) cho thấy, chỉ số AVE của các nhân tố đều > 0,5, các giá trị này đều vượt xa ngưỡng tối thiểu 0,5 theo khuyến nghị của Fornell và Larcker (1981). Khi kết hợp sự thỏa mãn của cả hệ số tải ngoài (Outer loadings) và chỉ số AVE, nhóm tác giả có đủ căn cứ khoa học để kết luận rằng toàn bộ các thang đo trong nghiên cứu này đều đạt giá trị hội tụ ổn định.
Kiểm định mô hình cấu trúc (strusctural model)
Bảng 3: Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
|
|
Hệ số đường dẫn (β) |
P values |
Kết luận |
|---|---|---|---|
|
ATT → DEC |
0,060 |
0,014 |
Chấp nhận |
|
BP → DEC |
0,131 |
0,000 |
Chấp nhận |
|
CP → DEC |
0,078 |
0,008 |
Chấp nhận |
|
GEK → DEC |
0,188 |
0,000 |
Chấp nhận |
|
GFI → DEC |
0,239 |
0,000 |
Chấp nhận |
|
GS → DEC |
0,145 |
0,000 |
Chấp nhận |
|
PBC → DEC |
0,188 |
0,000 |
Chấp nhận |
|
SN → DEC |
0,212 |
0,000 |
Chấp nhận |
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả
Kết quả tại Bảng 3 cho thấy toàn bộ 8 giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận khi tất cả các mối quan hệ trong mô hình cấu trúc đều có ý nghĩa thống kê với P-value < 0,05, trong đó 6 trong 8 biến đạt mức P-value = 0,000. Tất cả các hệ số đường dẫn (β) đều mang dấu dương, khẳng định chiều tác động thuận chiều của các nhân tố đối với Quyết định đầu tư sản xuất xanh (DEC).
Bảng 4: Giá trị hiệu chỉnh R²
|
Nhân tố |
R² |
R² hiệu chỉnh |
|---|---|---|
|
DEC |
0,589 |
0,584 |
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả
Tại Bảng 4, biến phụ thuộc Quyết định đầu tư sản xuất xanh (DEC) có R² = 0,589 và R² hiệu chỉnh = 0,584, cho thấy 8 biến độc lập trong mô hình cộng lại giải thích được 58,4% sự biến thiên của Quyết định đầu tư sản xuất xanh. Đây là mức giải thích khá cao trong nghiên cứu khoa học xã hội, đặc biệt trong bối cảnh nghiên cứu hành vi của các hộ sản xuất tại làng nghề truyền thống - nơi quyết định đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố phi cấu trúc khó đo lường như kinh nghiệm cá nhân, thói quen sản xuất lâu đời hay mạng lưới quan hệ xã hội đặc thù.
Đánh giá sự khác biệt bằng phương pháp phân tích đa nhóm (MGA)
Để kiểm định biến định tính “Loại hình làng nghề” có tạo ra sự khác biệt về ý nghĩa thống kê trong mối quan hệ của mô hình hay không, nhóm tác giả tiến hành phương pháp phân tích đa nhóm (MGA), bao gồm 2 nhóm: làng gốm Bát Tràng và làng lụa Vạn Phúc.
Bảng 5: Kết quả phân tích đa nhóm (MGA)
|
Mối quan hệ |
Giả thuyết |
Hệ số β (Gốm) |
Hệ số β (Lụa) |
p-value (Gốm) |
p-value (Lụa) |
Kết quả (Gốm) |
Kết quả (Lụa) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
ATT → DEC |
H1 |
0,091 |
0,005 |
0,007 |
0,907 |
Chấp nhận |
Bác bỏ |
|
BP → DEC |
H6 |
0,239 |
0,071 |
0,000 |
0,129 |
Chấp nhận |
Bác bỏ |
|
CP → DEC |
H7 |
0,245 |
-0,007 |
0,000 |
0,884 |
Chấp nhận |
Bác bỏ |
|
GEK → DEC |
H4 |
0,133 |
0,201 |
0,000 |
0,000 |
Chấp nhận |
Chấp nhận |
|
GFI → DEC |
H8 |
0,140 |
0,238 |
0,002 |
0,000 |
Chấp nhận |
Chấp nhận |
|
GS → DEC |
H5 |
0,095 |
0,171 |
0,001 |
0,000 |
Chấp nhận |
Chấp nhận |
|
PBC → DEC |
H3 |
0,131 |
0,208 |
0,000 |
0,000 |
Chấp nhận |
Chấp nhận |
|
SN → DEC |
H2 |
0,132 |
0,256 |
0,001 |
0,000 |
Chấp nhận |
Chấp nhận |
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả
Theo kết quả phân tích (Bảng 5), tại làng gốm Bát Tràng, nhân tố có hệ số tác động lớn nhất là Áp lực từ đối thủ cạnh tranh (CP) với β = 0,245, tiếp theo là Áp lực từ khách hàng (BP) với β = 0,239. Như vậy, tại làng nghề gốm, động lực chuyển đổi xanh chủ yếu đến từ áp lực thị trường cạnh tranh trực tiếp. Mô hình hành vi tại Bát Tràng nghiêng về cơ chế phản ứng thị trường: các chủ hộ quan sát hành động của đối thủ và nhu cầu của khách hàng, từ đó quyết định đổi mới để không mất lợi thế cạnh tranh.
Tại làng lụa Vạn Phúc, nhân tố tác động mạnh nhất là Chuẩn mực chủ quan (SN) với β = 0,256, tiếp theo là Áp lực thị trường cung ứng xuất nhập khẩu (GFI) với β = 0,238. Ba nhân tố: Thái độ đối với đầu tư sản xuất xanh (ATT), Áp lực từ khách hàng (BP) và Áp lực từ đối thủ cạnh tranh (CP) không có ý nghĩa thống kê. Mô hình hành vi tại Vạn Phúc nghiêng về cơ chế tuân thủ chuẩn mực xã hội và chuỗi cung ứng: khi cộng đồng và các đối tác xuất khẩu kỳ vọng sản xuất xanh, chủ hộ có xu hướng tuân theo để duy trì tính hợp pháp xã hội và vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Từ kết qua nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh bền vững tại các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất, Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ sản xuất xanh. Mặc dù đã có nhiều chủ trương và chương trình liên quan đến tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, nhưng việc tiếp cận và triển khai các chính sách này tại các làng nghề vẫn còn nhiều khó khăn. Theo đó, cần xây dựng và mở rộng các chương trình tín dụng xanh nhằm hỗ trợ các cơ sở sản xuất tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để đầu tư vào sản xuất thân thiện môi trường.
Thứ hai, các hiệp hội làng nghề tăng cường vai trò định hướng và lan tỏa nhận thức về sản xuất xanh trong cộng đồng làng nghề nhằm hình thành các chuẩn mực sản xuất thân thiện môi trường. Đồng thời kết hợp đẩy mạnh hoạt động đào tạo, tư vấn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ sạch cho các cơ sở, hộ sản xuất, tăng cường vai trò kết nối thị trường và hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề theo hướng bền vững.
Thứ ba, các cơ sở sản xuất chủ động nâng cao nhận thức, hiểu biết về sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn cùng với nâng cao năng lực quản lý sản xuất, đầu tư cải tiến thiết bị, tối ưu hóa quy trình sản xuất. Chủ động thích ứng với xu hướng tiêu dùng xanh và áp lực từ thị trường để có thể tạo ra những sản phẩm vừa phù hợp với yêu cầu thị trường, vừa giữ được nét truyền thống văn hóa của nghề thủ công.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy toàn bộ 8 giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận; 8 nhân tố được đều tác động thuận chiều đến Quyết định đầu tư sản xuất xanh, trong đó, Áp lực thị trường cung ứng xuất nhập khẩu (GFI) có tác động mạnh nhất, tiếp theo là Chuẩn mực chủ quan (SN).
Kết quả phân tích đa nhóm (MGA) chỉ ra 2 mô hình hành vi hoàn toàn khác nhau về bản chất. Đáng chú ý, 3 nhân tố ATT, BP và CP chỉ có ý nghĩa thống kê tại Bát Tràng và bị bác bỏ tại Vạn Phúc, cho thấy tại làng Lụa, quyết định đầu tư xanh được dẫn dắt chủ yếu bởi các lực lượng bên ngoài hơn là thái độ hay áp lực cạnh tranh nội ngành - cho thấy sự phân hóa rõ rệt về cơ chế tác động giữa 2 loại hình làng nghề. Qua đó đặt ra những yêu cầu cụ thể cho việc thiết kế các khuyến nghị phù hợp với đặc thù từng ngành nghề.
Tài liệu tham khảo:
1. Agarwal, S., Agrawal, V., & Dixit, J. K. (2020). Green manufacturing: A MCDM approach. Materials Today: Proceedings, 26(1), 2869-2874. https://doi.org/10.1016/j.matpr.2020.02.595
2. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T
3. Alkahtani, A., Nordin, N., & Khan, R. U. (2020). Does government support enhance the relation between networking structure and sustainable competitive performance among SMEs? Journal of Innovation and Entrepreneurship, 9(1). https://doi.org/10.1186/s13731-020-00127-3
4. Desai, D. A., & Shaikh, A. J. A. (2018). Reducing failure rate at high voltage (HV) testing of insulator using six sigma methodology. International Journal of Productivity and Performance Management.
5. DiMaggio, P. J., & Powell, W. W. (1983). The Iron Cage Revisited: Institutional Isomorphism and Collective Rationality in Organizational Fields. American Sociological Review, 48(2), 147–160. https://doi.org/10.2307/2095101
6. Fornell, C. & Larcker, D. F. (1981). Evaluating Structural Equation Models withUnobservable Variables and Measurement Error. Journal of Marketing Research,18(1), 39. https://doi.org/10.2307/3151312
7. Hair, J. F., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2013). Partial Least Squares StructuralEquation Modeling: Rigorous Applications, Better Results and Higher Acceptance.Long Range Planning, 46(1-2), 1-12. https://doi.org/10.1016/j.lrp.2013.01.001
8. Horbach, J., Rammer, C., & Rennings, K. (2012). Determinants of eco-innovations by type of environmental impact - The role of regulatory push/pull, technology push and market pull. Ecological Economics, 78(1), 112-122. https://doi.org/10.1016/j.ecolecon.2012.04.005
9. Kesidou, E., & Demirel, P. (2010). On the Drivers of Eco-Innovations: Empirical Evidence from the UK. SSRN Electronic Journal, 41(5). https://doi.org/10.2139/ssrn.1555733
10. Li, Z., Nazir, S., Hussain, I., Mehmood, S., & Nazir, Z. (2023). Exploration of the impact of green supply chain management practices on manufacturing firms’ performance through a mediated-moderated model. Frontiers in Environmental Science, 11. https://doi.org/10.3389/fenvs.2023.1291688
11. Malzara, V. R.B., WidyastutI, U., & Buchdadi, A. D. (2023). Analysis of Gen Z’s greeninvestment intention: The application of theory of planned behavior. JurnalDinamika Manajemen Dan Bisnis, 6(2), 63-84. https://journal.unj.ac.id/unj/index.php/jdmb/article/view/36376/15484
12. Nguyễn, T. B. N. (2024). Kinh tế xanh và các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam. Tạp Chí Công Thương. https://tapchicongthuong.vn/kinh-te-xanh-va-cac-nhan-to-anh-huong-den-ket-qua-thuc-hien-chien-luoc-phat-trien-kinh-te-xanh-tai-viet-nam-123810.htm
13. Tran, N. K. H. (2024). Customer Pressure and Creating Green Innovation: The Role of Green Thinking and Green Creativity. Sustainable Futures, 7, 100177-100177. https://doi.org/10.1016/j.sftr.2024.100177
| Ngày nhận bài: 14/2/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/3/2026; Ngày duyệt đăng: 31/3/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing
Các yếu tố quyết định thành công trong triển khai bảo trì năng suất toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu suất công việc của nhân viên hành chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TP. Hồ Chí Minh
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hậu cần hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài: Vai trò trung gian của giá trị cảm nhận
Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Supertex, TP. Hà Nội
Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh
Các đòn bẩy chiến lược nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp giao nhận vận tải: Khung ưu tiên quản trị dựa trên bằng chứng thực nghiệm
Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên