Phát triển năng lực số và chuyển đổi doanh nghiệp theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam
ThS. Bùi Thu Hà
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Email: [email protected]
Tóm tắt
Trong bối cảnh chuyển đổi kép (kết hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh) diễn ra mạnh mẽ, năng lực số đã trở thành nguồn lực chiến lược quyết định khả năng thích ứng và sức chống chịu của tổ chức. Nghiên cứu này nhằm làm rõ cơ sở lý luận về năng lực số, chuyển đổi doanh nghiệp và phát triển bền vững; đồng thời phân tích bối cảnh chính sách, cơ hội và rào cản đối với doanh nghiệp Việt Nam dựa trên các khung thể chế hiện hành. Sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu có chọn lọc kết hợp phân tích chính sách trong giai đoạn 2020-2026, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng năng lực số không đơn thuần là hạ tầng công nghệ mà là một dạng năng lực động tích hợp, bao gồm cả tư duy lãnh đạo số, năng lực hấp thụ tri thức và việc tích hợp các tiêu chuẩn ESG vào mô hình kinh doanh. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất khung giải pháp 3 tầng (cấp độ doanh nghiệp, hệ sinh thái kết nối và hoàn thiện thể chế) nhằm thúc đẩy lộ trình chuyển đổi kép hiệu quả và nâng cao lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp.
Từ khóa: Năng lực số, chuyển đổi số, chuyển đổi kép, phát triển bền vững, doanh nghiệp Việt Nam
Abstract
In the context of the accelerating dual transition, which combines digital transformation and green transformation, digital capabilities have become a strategic resource that determines organizational adaptability and resilience. This study aims to clarify the theoretical foundations of digital capabilities, business transformation, and sustainable development, while analyzing the policy context, opportunities, and barriers facing Vietnamese enterprises based on the current institutional framework. Using a selective literature review combined with policy analysis covering the 2020-2026 period, the findings indicate that digital capabilities extend beyond technological infrastructure to encompass an integrated dynamic capability that includes digital leadership, knowledge absorptive capacity, and the integration of environmental, social, and governance (ESG) standards into business models. Based on these findings, the study proposes a three-level solution framework, at the enterprise level, the ecosystem level, and the institutional level, to promote an effective dual transition and enhance the sustainable competitive advantage of Vietnamese enterprises.
Keywords: Digital capabilities, digital transformation, dual transition, sustainable development, Vietnamese enterprises
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuyển đổi số không còn là một lựa chọn mà đã trở thành một điều kiện cạnh tranh mới của doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện đại. Tuy nhiên, hiện nay mục tiêu của doanh nghiệp không dừng ở số hóa quy trình hay gia tăng hiệu quả vận hành, mà còn phải bảo đảm khả năng tăng trưởng dài hạn, giảm phát thải, nâng cao minh bạch quản trị và thích ứng với các chuẩn mực Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) ngày càng chặt chẽ. UNCTAD (2024) nhấn mạnh rằng, tương lai số cần được định hình theo hướng vừa bao trùm vừa bền vững về môi trường, bởi công nghệ số và hạ tầng số cũng tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên, năng lượng và chất thải điện tử. OECD (2024) cũng cho rằng, chuyển đổi số hiện đại phải được nhìn như một tiến trình liên ngành, đòi hỏi phối hợp giữa đổi mới công nghệ, dữ liệu, kỹ năng, niềm tin số và quản trị chính sách.
Tại Việt Nam, định hướng phát triển kinh tế số và doanh nghiệp số đã được thể chế hóa tương đối sớm. Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia xác định mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GDP vào năm 2025 và 30% GDP vào năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Tiếp đó, Quyết định số 411/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đặt trọng tâm vào phát triển doanh nghiệp số, thúc đẩy nền tảng số và hình thành hệ sinh thái số theo ngành, lĩnh vực (Thủ tướng Chính phủ, 2022a). Song song với đó, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn tạo ra khuôn khổ để doanh nghiệp chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình tạo giá trị dựa trên hiệu quả tài nguyên, đổi mới sáng tạo và trách nhiệm môi trường - xã hội (Thủ tướng Chính phủ, 2021, 2022b).
Áp lực này càng trở nên rõ rệt trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu mới. Theo World Bank (2025), biến đổi khí hậu có thể làm giảm sản lượng quốc gia của Việt Nam so với kịch bản cơ sở khoảng 9,1% vào năm 2030 và 12,5% vào năm 2050 nếu thiếu các biện pháp thích ứng phù hợp. Đồng thời, báo cáo Viet Nam 2045 cho thấy sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị toàn cầu đã giảm từ 35% xuống 18% trong giai đoạn 2009-2023; do đó, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cấp kỹ năng và thúc đẩy số hóa doanh nghiệp là yêu cầu cấp bách để nâng cấp vị thế của khu vực doanh nghiệp nội địa (World Bank, 2024). Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024) cũng xác định chuyển đổi kép (kết hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh) là xu hướng quốc tế tất yếu và là hướng đi quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam hướng tới nền kinh tế số bền vững.
Từ các lập luận trên, nghiên cứu này tập trung phân tích các nội dung gồm: (i) năng lực số của doanh nghiệp nên được hiểu như thế nào trong gắn kết với mục tiêu phát triển bền vững; (ii) chuyển đổi doanh nghiệp theo hướng bền vững tại Việt Nam đang đối mặt với những cơ hội và rào cản gì; và (iii) cần một khung giải pháp ra sao để phát triển năng lực số và thúc đẩy chuyển đổi doanh nghiệp theo hướng phát triển bền vững. Kết quả của nghiên cứu góp phần tích hợp góc nhìn năng lực động, chuyển đổi số và phát triển bền vững thành một khung phân tích thống nhất, đồng thời đề xuất các hàm ý quản trị và chính sách theo hướng có thể vận dụng cho bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Khái niệm chuyển đổi số, chuyển đổi doanh nghiệp và năng lực số
Khái niệm chuyển đổi số trong nghiên cứu hiện đại không đồng nhất với việc ứng dụng công nghệ đơn lẻ. Vial (2019) xem chuyển đổi số là quá trình doanh nghiệp phản ứng trước các thay đổi của môi trường bằng cách sử dụng công nghệ số để làm biến đổi mô thức tạo giá trị, cấu trúc tổ chức và quan hệ với các bên liên quan. Từ góc nhìn này, số hóa (digitization) chỉ là bước chuyển đổi dữ liệu vật lý sang dữ liệu số; số hóa hoạt động (digitalization) là việc cải thiện quy trình nhờ công nghệ; còn chuyển đổi số (digital transformation) là sự tái cấu trúc toàn diện mô hình kinh doanh, chuỗi giá trị, cơ chế ra quyết định và năng lực cạnh tranh.
Năng lực số của doanh nghiệp vì vậy cần được hiểu như một tập hợp năng lực tổ chức có tính tích hợp, không tách rời giữa công nghệ và quản trị. Ở nghĩa hẹp, đó là khả năng xây dựng và vận hành hạ tầng số, quản trị dữ liệu, bảo đảm kết nối, an toàn thông tin và ứng dụng các nền tảng như ERP, CRM, điện toán đám mây, phân tích dữ liệu hay AI. Ở nghĩa rộng hơn, năng lực số bao gồm khả năng học hỏi và hấp thụ tri thức số, năng lực tái thiết kế quy trình, năng lực phối hợp liên phòng ban, năng lực lãnh đạo số và khả năng triển khai thay đổi ở quy mô tổ chức (Fu và cộng sự, 2023; Hoang và cộng sự, 2025; Nguyen và Dang, 2025). Theo cách tiếp cận này, năng lực số là một biểu hiện của năng lực động, cho phép doanh nghiệp cảm nhận cơ hội, nắm bắt công nghệ mới và tái cấu hình nguồn lực để thích ứng với môi trường cạnh tranh biến động.
Cơ chế tác động của năng lực số tới phát triển bền vững
Mối quan hệ giữa năng lực số và phát triển bền vững có thể được giải thích thông qua ít nhất 4 cơ chế. Thứ nhất, công nghệ số giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào, tối ưu hóa quy trình và tiết giảm chi phí giao dịch, từ đó cải thiện hiệu quả kinh tế. Thứ hai, chuyển đổi số mở rộng khả năng đổi mới sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh; Su và Wu (2024) cho thấy chuyển đổi số có tác động tích cực đến phát triển bền vững của doanh nghiệp thông qua năng lực đổi mới. Thứ ba, chuyển đổi số tạo điều kiện cải thiện quản trị, tính minh bạch, khả năng truy xuất và năng lực kiểm soát rủi ro; Li và Zhang (2024) chỉ ra rằng năng lực hấp thụ tri thức là một cơ chế quan trọng kết nối chuyển đổi số với kết quả ESG. Thứ tư, chuyển đổi số giúp doanh nghiệp kết nối sâu hơn với khách hàng, nhà cung ứng, nhà đầu tư và các tổ chức tài chính, qua đó gia tăng khả năng tiếp cận thị trường và nguồn vốn bền vững.
Ở cấp độ nhân lực và tổ chức, Fu và cộng sự (2023) nhấn mạnh rằng, năng lực số của doanh nghiệp còn tác động tới hiệu suất bền vững của người lao động thông qua học hỏi và cập nhật kỹ năng. Trong bối cảnh Việt Nam, Hoang và cộng sự (2025) cho thấy năng lực số có tương quan dương với lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa; vai trò của lãnh đạo số và năng lực hấp thụ số được xác định là những mắt xích trung gian rất quan trọng. Điều này cho thấy phát triển năng lực số không thể chỉ dừng ở đầu tư phần mềm hay thiết bị, mà phải được đặt trong tổng thể chiến lược nhân lực, quản trị và đổi mới mô hình kinh doanh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên tổ hợp 2 phương pháp cốt lõi: Tổng quan tài liệu có chọn lọc và Phân tích chính sách, thể chế trong giai đoạn 2020-2026.
THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Thuận lợi lớn nhất của Việt Nam là hệ thống chiến lược quốc gia về chuyển đổi số, kinh tế số, tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn tạo ra một nền tảng thể chế tương đối đầy đủ để doanh nghiệp hoạch định lộ trình chuyển đổi dài hạn (Thủ tướng Chính phủ, 2020, 2021, 2022a, 2022b). Tại cấp thực thi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024) đã thúc đẩy các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, nhấn mạnh chuyển đổi kép như một xu hướng tất yếu và tăng cường kết nối doanh nghiệp với các nền tảng, giải pháp và đối tác công nghệ. Ở góc độ tài chính, IFC (2024) cho biết Việt Nam đạt mức cam kết tài chính khí hậu cao kỷ lục trong năm tài khóa 2024, đồng thời xuất hiện các công cụ như trái phiếu xanh, trái phiếu xanh dương và trái phiếu liên kết bền vững, cho thấy hệ sinh thái tài chính bền vững đang dần hình thành.
Tuy nhiên, cơ hội chính sách không đồng nghĩa với năng lực thực thi đã đủ mạnh ở cấp doanh nghiệp. Nguyen và Dang (2025) khảo sát 352 doanh nghiệp cho thấy mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của doanh nghiệp Việt Nam còn có độ vênh lớn giữa các khu vực: doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ mới ở giai đoạn đầu của quá trình làm chủ công nghệ, trong khi nhiều doanh nghiệp sản xuất mới bắt đầu tiếp cận; doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn cũng còn khoảng cách đáng kể so với khối có vốn đầu tư nước ngoài. Kết quả này hàm ý rằng vấn đề không chỉ nằm ở chỗ doanh nghiệp có sử dụng công nghệ hay không, mà quan trọng hơn là mức độ làm chủ dữ liệu, quản trị chuyển đổi và tích hợp công nghệ vào hoạt động cốt lõi.
Một rào cản khác là chất lượng nguồn nhân lực và vị trí của doanh nghiệp nội địa trong chuỗi giá trị. World Bank (2024) chỉ ra rằng Việt Nam mới có tỷ lệ lao động kỹ năng cao trong ngành sản xuất ở mức khá thấp và doanh nghiệp trong nước chưa kết nối đủ sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp chỉ dừng ở mức ứng dụng công cụ rời rạc, thiếu khả năng biến dữ liệu thành tri thức quản trị, biến công nghệ thành đổi mới quy trình, hoặc biến chuẩn mực ESG thành lợi thế cạnh tranh. Trong thực tế, không ít doanh nghiệp vẫn xem chuyển đổi số là dự án công nghệ của bộ phận CNTT, còn chuyển đổi xanh là yêu cầu tuân thủ môi trường, thay vì coi đây là sự tái thiết đồng thời của chiến lược, vận hành, tài chính và quan hệ thị trường.
Ngoài ra, mức độ chênh lệch giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ, giữa khu vực xuất khẩu và khu vực nội địa, giữa doanh nghiệp có vốn FDI và doanh nghiệp tư nhân trong nước vẫn khá lớn. Những doanh nghiệp dẫn đầu thường có lợi thế về quản trị dữ liệu, khả năng thuê chuyên gia, quy mô đầu tư công nghệ, tiếp cận vốn và liên kết chuỗi cung ứng. Ngược lại, doanh nghiệp nhỏ và vừa đối mặt với hạn chế về chi phí đầu tư ban đầu, thiếu nhân lực số, thiếu chuẩn dữ liệu, e ngại rủi ro an ninh mạng và thiếu tầm nhìn chiến lược. Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển từ tư duy hỗ trợ đại trà sang tư duy phát triển năng lực số theo mức độ trưởng thành, theo ngành và theo vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị.
Nhìn tổng thể, bức tranh Việt Nam cho thấy áp lực chuyển đổi là rất lớn, định hướng chính sách đã tương đối rõ, nhưng khả năng biến áp lực đó thành năng lực cạnh tranh bền vững ở khu vực doanh nghiệp vẫn còn phân hóa. Đây chính là điểm mấu chốt mà chính sách công, hệ sinh thái hỗ trợ và nỗ lực tự thân của doanh nghiệp phải gặp nhau.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ VÀ THÚC ĐẨY CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Thứ nhất, ở cấp doanh nghiệp, điểm khởi đầu không phải là mua thêm phần mềm mà là đánh giá lại mô hình tạo giá trị và mức độ trưởng thành số của tổ chức. Doanh nghiệp cần xây dựng bản đồ năng lực số theo ít nhất 6 hợp phần: hạ tầng và nền tảng số; dữ liệu và quản trị dữ liệu; số hóa quy trình và tích hợp hệ thống; kỹ năng số của nhân sự; lãnh đạo và quản trị thay đổi; an ninh mạng và quản trị rủi ro. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp xác định những khâu có thể tạo ra hiệu quả tức thời như chuẩn hóa dữ liệu, số hóa khâu bán hàng, quản trị tồn kho, dự báo nhu cầu, kiểm soát năng lượng hay giám sát tuân thủ. Cách tiếp cận này giúp chuyển đổi số đi từ giá trị kinh doanh đo được, thay vì chạy theo phong trào công nghệ.
Thứ hai, chuyển đổi doanh nghiệp theo hướng bền vững đòi hỏi tích hợp mục tiêu số hóa với mục tiêu xanh hóa và minh bạch hóa quản trị. Điều này có nghĩa là dữ liệu số không chỉ phục vụ bán hàng hay vận hành, mà còn phải được dùng để đo lường tiêu hao năng lượng, lượng phát thải, tỷ lệ tái sử dụng vật liệu, tỷ lệ lỗi sản phẩm, an toàn lao động, truy xuất nguồn gốc và chất lượng quan hệ với người lao động, khách hàng, cộng đồng. Khi dữ liệu ESG được tích hợp vào hệ thống quản trị, doanh nghiệp có thể chuyển từ trạng thái “tuân thủ bị động” sang trạng thái “quản trị chủ động”, vừa kiểm soát rủi ro vừa cải thiện khả năng tiếp cận vốn, khách hàng và đối tác quốc tế.
Thứ ba, phát triển năng lực số phải gắn chặt với phát triển con người. Nhiều doanh nghiệp thất bại trong chuyển đổi không phải do thiếu công nghệ, mà do thiếu kỹ năng, thiếu đồng thuận nội bộ và thiếu cơ chế phối hợp giữa các bộ phận. Vì vậy, doanh nghiệp cần thiết lập chương trình bồi dưỡng kỹ năng số theo tầng bậc: lãnh đạo cấp cao tập trung vào tư duy chiến lược số và phân bổ nguồn lực; quản lý trung gian tập trung vào tái thiết kế quy trình, khai thác dữ liệu và quản trị hiệu suất; người lao động trực tiếp tập trung vào kỹ năng sử dụng nền tảng, an toàn thông tin, tác phong dữ liệu và cải tiến liên tục. Cùng với đó là cơ chế khuyến khích học tập, chấp nhận thử nghiệm, chấp nhận sai số có kiểm soát để hình thành văn hóa đổi mới.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã làm rõ rằng năng lực số là một năng lực tổ chức có tính chiến lược, vượt xa phạm vi của hạ tầng công nghệ đơn thuần. Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy đồng thời chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn, phát triển năng lực số của doanh nghiệp chính là điều kiện để chuyển đổi doanh nghiệp theo hướng phát triển bền vững. Các bằng chứng lý thuyết và thực tiễn cho thấy năng lực số tác động đến phát triển bền vững thông qua đổi mới, năng lực hấp thụ tri thức, minh bạch quản trị, tối ưu hóa nguồn lực và mở rộng khả năng tiếp cận tài chính bền vững.
Tuy vậy, mức độ trưởng thành số của doanh nghiệp Việt Nam còn phân hóa, đặc biệt giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn, giữa khu vực nội địa với khu vực FDI, và giữa các ngành có cường độ công nghệ khác nhau. Bởi vậy, chuyển đổi doanh nghiệp theo hướng bền vững cần được tiếp cận như một quá trình nâng cấp đồng thời về chiến lược, con người, quy trình, dữ liệu, tài chính và liên kết chuỗi giá trị. Khung giải pháp 3 tầng mà nghiên cứu đề xuất - doanh nghiệp, hệ sinh thái và chính sách - có thể là cơ sở tham khảo cho nhà quản trị, cơ quan hoạch định chính sách và các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn tới.
Về phương diện nghiên cứu tiếp theo, cần có thêm các nghiên cứu định lượng kiểm định tác động của từng hợp phần năng lực số đến kết quả ESG, hiệu quả tài chính, năng lực đổi mới và sức chống chịu của doanh nghiệp Việt Nam theo ngành, quy mô và hình thức sở hữu. Đây sẽ là cơ sở thực chứng quan trọng để hoàn thiện hơn các chính sách thúc đẩy chuyển đổi kép trong nền kinh tế Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Hội nghị Chuyển đổi số trong doanh nghiệp hướng tới nền kinh tế số bền vững. Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2. Fu, F., Zha, W., & Zhou, Q. (2023). The impact of enterprise digital capability on employee sustainable performance: From the perspective of employee learning. Sustainability, 15(17), Article 12897. https://doi.org/10.3390/su151712897
3. Hoang, D. V., Hien, N. T., Thang, V. V., Phuong, P. N. T., & Duong, T. T.-T. (2025). Digital capabilities and sustainable competitive advantages: The case of emerging market manufacturing SMEs. SAGE Open, 15(2). https://doi.org/10.1177/21582440251329967
4. IFC (2024). IFC's record climate financing in Viet Nam supports green transition, private sector resilience. International Finance Corporation.
5. Li, W., & Zhang, M. (2024). Digital transformation, absorptive capacity and enterprise ESG performance: A case study of strategic emerging industries. Sustainability, 16(12), Article 5018. https://doi.org/10.3390/su16125018
6. Nguyen, T., & Dang, L. T. T. (2025). Evaluating digital transformation preparedness among Vietnamese enterprises. Ho Chi Minh City Open University Journal of Science - Economics and Business Administration, 15(3), 21-43. https://doi.org/10.46223/HCMCOUJS.econ.en.15.3.3349.2025
7. OECD (2024). OECD Digital Economy Outlook 2024 (Volume 1): Embracing the technology frontier. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/a1689dc5-en
8. Su, Y., & Wu, J. (2024). Digital transformation and enterprise sustainable development. Finance Research Letters, 60, Article 104902. https://doi.org/10.1016/j.frl.2023.104902
9. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
10. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.
11. Thủ tướng Chính phủ (2022a). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
12. Thủ tướng Chính phủ (2022b). Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 7/6/2022 phê duyệt Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.
13. UNCTAD (2024). Digital Economy Report 2024: Shaping an environmentally sustainable and inclusive digital future. United Nations.
14. Vial, G. (2019). Understanding digital transformation: A review and a research agenda. Journal of Strategic Information Systems, 28(2), 118-144. https://doi.org/10.1016/j.jsis.2019.01.003
15. World Bank (2024). Viet Nam 2045: Trading up in a changing world. World Bank Group.
16. World Bank (2025). Viet Nam 2045 - Growing greener: Pathways to a resilient and sustainable future. World Bank Group.
| Ngày nhận bài: 13/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/6/2026; Ngày duyệt đăng: 30/6/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị