Phát triển năng lực số của giảng viên quân đội trong bối cảnh khoa học, công nghệ thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam

Thực tiễn - Kinh nghiệm 15:57 | 09/06/2026 TS. Lê Duy Dũng
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số ngày càng giữ vai trò quan trọng, có tính chất quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại nói riêng.

TS. Lê Duy Dũng

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Emai: [email protected]

Tóm tắt

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số ngày càng giữ vai trò quan trọng, có tính chất quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại nói riêng. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển năng lực số cho đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội - lực lượng nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội.

Từ khóa: Năng lực số, giảng viên quân đội, khoa học và công nghệ, lực lượng sản xuất, chuyển đổi số

Abstract

Amid the rapid advancement of the Fourth Industrial Revolution, science, technology, and digital transformation have emerged as key drivers of socio-economic development and as critical factors in the modernization of the Viet Nam People’s Army. This context underscores the necessity of developing digital competencies among lecturers in military educational institutions, who play a pivotal role in educating and training high-quality human resources for the military. Strengthening lecturers’ digital competencies is therefore a prerequisite for enhancing teaching effectiveness, fostering innovation in education and research, and meeting the demands of military development in the digital age.

Keywords: Digital competence, military lecturers, science and technology, productive forces, digital transformation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng, khoa học, công nghệ ngày càng tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục - đào tạo và lĩnh vực quân sự (K.Marx, 1993; V.I. Lenin, 1977). Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, yêu cầu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” đặt ra nhiệm vụ cấp thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ giảng viên trong các học viện, nhà trường quân đội. Thực tiễn cho thấy, chuyển đổi số trong giáo dục quân sự không chỉ làm thay đổi phương thức dạy học mà còn đặt ra yêu cầu mới đối với năng lực của giảng viên, trong đó năng lực số trở thành yếu tố then chốt. Tuy nhiên, việc phát triển năng lực số cho giảng viên quân đội hiện nay vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn. Xuất phát từ những vấn đề đó, bài viết đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển năng lực số một cách đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại trong tình hình mới.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CỦA GIẢNG VIÊN QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

Những kết quả đạt được

Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong Quân đội (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026; Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2025), việc phát triển năng lực số cho đội ngũ giảng viên đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Các học viện, trường sĩ quan đã từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động giáo dục - đào tạo. Nhiều cơ sở đào tạo đã triển khai hệ thống quản lý học tập, xây dựng học liệu điện tử, tổ chức đào tạo trực tuyến và đào tạo kết hợp. Việc ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý đào tạo ngày càng được mở rộng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo.

Một bộ phận giảng viên đã chủ động tiếp cận và khai thác các nền tảng học tập trực tuyến, phần mềm hỗ trợ giảng dạy và nguồn tài nguyên số phục vụ thiết kế bài giảng. Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của giảng viên từng bước được nâng lên, bước đầu thích ứng với yêu cầu của môi trường giáo dục số. Những kết quả này được khẳng định trong Nghị quyết số 290-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương: hệ thống nhà trường quân đội được sắp xếp theo hướng tinh, gọn, mạnh; chương trình, nội dung đào tạo từng bước chuẩn hóa, sát thực tiễn; chất lượng đội ngũ nhà giáo được nâng lên; ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được quan tâm, đẩy mạnh (Quân ủy Trung ương, 2026).

Bên cạnh đó, nhận thức của giảng viên về vai trò của năng lực số và năng lực nghiên cứu khoa học trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng được nâng cao. Kết quả khảo sát 300 giảng viên trẻ tại 6 trường sĩ quan cho thấy, 78,7% ý kiến đánh giá việc bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học là “rất quan trọng” và 20% đánh giá là “quan trọng”; đồng thời, 71,3% cho rằng đây là yêu cầu “rất cần thiết” đối với phát triển năng lực sư phạm của giảng viên (Các trường sĩ quan, 2025). Điều này phản ánh sự chuyển biến tích cực về nhận thức - yếu tố nền tảng cho phát triển năng lực số trong đội ngũ giảng viên quân đội.

Một số hạn chế

Hệ thống thể chế, chính sách chưa tạo được động lực mạnh mẽ cho phát triển năng lực số. Một số cơ chế quản lý, đánh giá, sử dụng giảng viên chưa gắn chặt với yêu cầu chuyển đổi số; việc khuyến khích đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học còn hạn chế. Đồng thời, cơ sở hạ tầng số và môi trường học thuật số ở một số nhà trường chưa đáp ứng yêu cầu, hệ thống học liệu số còn thiếu đồng bộ, cơ sở dữ liệu khoa học còn hạn chế. Nghị quyết số 290-NQ/QUTW cũng chỉ rõ: thể chế, chính sách chưa tạo động lực mạnh mẽ; cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo còn thiếu và chưa hiện đại; một số nhà trường chưa theo kịp yêu cầu phát triển của khoa học, công nghệ quân sự (Quân ủy Trung ương, 2026).

Năng lực số của giảng viên phát triển chưa đồng đều giữa các nhóm đối tượng. Giảng viên trẻ có xu hướng tiếp cận công nghệ nhanh hơn, trong khi một bộ phận giảng viên có tuổi còn gặp khó khăn trong việc thích ứng với môi trường số. Điều này tạo ra khoảng cách về năng lực số trong nội bộ đội ngũ, ảnh hưởng đến tính đồng bộ trong triển khai chuyển đổi số giáo dục. Việc ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy còn mang tính hình thức, chưa gắn chặt với đổi mới phương pháp sư phạm. Công nghệ chủ yếu được sử dụng ở mức hỗ trợ trình chiếu, chia sẻ tài liệu, trong khi việc khai thác các nền tảng học tập số, công cụ tương tác, phân tích dữ liệu học tập còn hạn chế. Thực trạng này cũng phù hợp với nhận định của Quân ủy Trung ương khi cho rằng năng lực số của đội ngũ nhà giáo chưa đồng đều, việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số còn thiếu đồng bộ (Quân ủy Trung ương, 2026).

Năng lực nghiên cứu khoa học trong môi trường số còn nhiều hạn chế. Một số giảng viên chưa thành thạo trong việc sử dụng các công cụ tìm kiếm, xử lý dữ liệu, phân tích định lượng và công bố kết quả nghiên cứu trên các nền tảng khoa học quốc tế (Đỗ Thị Hoài Vân, Lê Huy Tùng, 2022). Việc khai thác dữ liệu số và ứng dụng công nghệ trong nghiên cứu khoa học chưa trở thành phổ biến, làm hạn chế khả năng nâng cao chất lượng và tính hội nhập của hoạt động nghiên cứu. Kết quả khảo sát thực tiễn cũng cho thấy những hạn chế cụ thể trong triển khai. Chỉ có 32% giảng viên đánh giá việc triển khai bồi dưỡng năng lực đạt mức “rất tốt”, trong khi 12% đánh giá ở mức “bình thường” và 14,7% cho rằng “chưa tốt hoặc mang tính hình thức”. Về phương pháp giảng dạy, chỉ 51,9% giảng viên thường xuyên sử dụng hình thức trắc nghiệm, 38,4% thường xuyên tổ chức hoạt động nhóm, vẫn còn 30,8% chưa sử dụng các phương pháp dạy học tích cực này. Ngoài ra, những khó khăn chủ yếu được xác định là hình thức bồi dưỡng chưa phù hợp (42%), thiếu thời gian (34,6%) và hạn chế về cơ sở vật chất (20%) (Các trường sĩ quan, 2025).

Từ những phân tích trên có thể thấy, mặc dù nhận thức về vai trò của năng lực số đã có chuyển biến tích cực và bước đầu đạt được một số kết quả quan trọng, song việc phát triển năng lực số của giảng viên quân đội vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số và phát triển lực lượng sản xuất trong bối cảnh mới. Những hạn chế về thể chế, điều kiện bảo đảm và năng lực thực tiễn của đội ngũ đang là những “điểm nghẽn” cần được khắc phục trong thời gian tới.

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CỦA GIẢNG VIÊN QUÂN ĐỘI TRONG BỐI CẢNH MỚI

Phát triển năng lực số của giảng viên quân đội trong bối cảnh khoa học, công nghệ thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất cần được triển khai theo hướng hệ thống, đồng bộ và có lộ trình cụ thể, gắn kết chặt chẽ giữa yêu cầu chuẩn hóa năng lực với các điều kiện bảo đảm thực hiện. Đây không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là yêu cầu lâu dài nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quân sự trong điều kiện chuyển đổi số.

Thứ nhất, thể chế hóa yêu cầu phát triển năng lực số trong các chiến lược, chương trình và kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo của các học viện, nhà trường quân đội. Việc thể chế hóa cần được cụ thể hóa thành các quy định, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá rõ ràng, gắn với chuẩn chức danh giảng viên và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo (Lê Thanh Phong, 2019; Hoàng Văn Phai, 2020). Đồng thời, xác định lộ trình phát triển năng lực số theo từng giai đoạn, phù hợp với đặc điểm của từng loại hình nhà trường và từng nhóm đối tượng giảng viên, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả trong tổ chức thực hiện.

Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện khung năng lực số cho giảng viên quân đội theo hướng chuẩn hóa, hiện đại và phù hợp với đặc thù quân sự. Khung năng lực cần được thiết kế trên cơ sở kế thừa các mô hình quốc tế như DigComp (EU Commission, 2018), ICT-CFT của UNESCO; đồng thời cụ thể hóa thành các tiêu chí có thể đo lường và đánh giá trong thực tiễn. Đặc biệt, cần bổ sung các yêu cầu đặc thù như bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật quân sự và định hướng chính trị. Trên cơ sở khung năng lực, các nhà trường cần tổ chức đánh giá định kỳ, phân loại mức độ đạt chuẩn của giảng viên để làm căn cứ xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phù hợp.

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình và phương thức đào tạo, bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên theo hướng phát triển năng lực thực chất. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào các kỹ năng cốt lõi như thiết kế bài giảng số, tổ chức dạy học trực tuyến, khai thác học liệu số, phân tích dữ liệu học tập, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và nghiên cứu khoa học. Đồng thời, cần đa dạng hóa phương thức bồi dưỡng thông qua kết hợp giữa đào tạo tập trung và trực tuyến, tăng cường học tập qua thực tiễn, học tập dựa trên dự án và xây dựng cộng đồng học tập chuyên môn trong nội bộ các nhà trường. Việc đánh giá kết quả bồi dưỡng cần chuyển từ kiểm tra kiến thức sang đánh giá năng lực vận dụng trong thực tiễn giảng dạy và nghiên cứu.

Thứ tư, tăng cường đầu tư xây dựng hạ tầng số và tạo lập môi trường số đồng bộ trong các học viện, trường sĩ quan. Cần ưu tiên phát triển hệ thống quản lý học tập (LMS), kho học liệu số dùng chung, thư viện điện tử, cơ sở dữ liệu khoa học và các nền tảng hỗ trợ nghiên cứu, công bố khoa học. Đồng thời, cần bảo đảm tính kết nối, liên thông giữa các hệ thống, tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên số. Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, phù hợp với yêu cầu đặc thù của môi trường quân sự.

Thứ năm, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm tạo động lực thúc đẩy giảng viên phát triển năng lực số. Cần gắn kết quả phát triển năng lực số với công tác đánh giá, phân loại, bổ nhiệm và sử dụng giảng viên (OECD, 2019); đồng thời có chính sách khuyến khích, hỗ trợ giảng viên tham gia đào tạo nâng cao trình độ, nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy và nghiên cứu, coi đây là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá chất lượng đội ngũ giảng viên.

Thứ sáu, đẩy mạnh hợp tác, liên kết giữa các cơ sở giáo dục trong và ngoài quân đội, cũng như với các tổ chức khoa học - công nghệ trong và ngoài nước. Thông qua các chương trình hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, giảng viên có điều kiện tiếp cận tri thức mới, công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế và khả năng thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ. Đồng thời, việc hợp tác còn góp phần thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giáo dục - đào tạo và hoạt động quân sự.

Thứ bảy, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá việc triển khai phát triển năng lực số trong các nhà trường quân đội. Việc đánh giá cần được thực hiện thường xuyên, khách quan, gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học của giảng viên. Trên cơ sở đó, kịp thời điều chỉnh các chính sách, giải pháp nhằm bảo đảm quá trình phát triển năng lực số đạt hiệu quả thiết thực và bền vững.

KẾT LUẬN

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang làm biến đổi sâu sắc lực lượng sản xuất ở Việt Nam, đặt ra những yêu cầu mới về phát triển năng lực số cho giảng viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo trong quân đội. Để phát triển năng lực số cho giảng viên theo hướng toàn diện, hiện đại, hội nhập, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới, cần nghiên cứu, vận dụng, triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp đề cập ở trên.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về phát triển giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

2. Các trường sĩ quan (2025). Báo cáo tổng hợp tình hình giảng viên trẻ ở các trường sĩ quan (Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Pháo binh, Trường Sĩ quan Đặc công, Trường Sĩ quan Tăng thiết giáp, Trường Sĩ quan Thông tin), tháng 12/2025.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, 2. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

4. Đỗ Thị Hoài Vân, Lê Huy Tùng (2022). Factors affecting research capacity of university lecturers in Vietnam. Tạp chí Giáo dục, 22(4), 15 - 20.

5. European Commission (2018). Digital competence framework for educators (DigCompEdu). Luxembourg: Publications Office of the European Union.

6. Hoàng Văn Phai (2020). Bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho giảng viên ở Học viện Chính trị hiện nay. Học viện Chính trị.

7. Karl Marx (1993). Capital: A critique of political economy (Vol. 1). Progress Publishers. (Original work published 1867).

8. Lê Thanh Phong (2019). Chuẩn hóa đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội hiện nay. Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, 3, 45 - 49.

9. OECD (2019). Supporting teacher professionalism. OECD Publishing.

10. Quân ủy Trung ương (2026). Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 7/1/2026 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội.

11. V.I. Lenin (1977). Collected Works (Vol. 31). Progress Publishers. (Original work published 1920).

Ngày nhận bài: 20/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/5/2026; Ngày duyệt đăng: 9/6/2026

Các tin khác

Đánh giá chất lượng dịch vụ thuế và tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp: Nghiên cứu tại Cơ quan Thuế Thành phố Hồ Chí Minh

Đánh giá chất lượng dịch vụ thuế và tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp: Nghiên cứu tại Cơ quan Thuế Thành phố Hồ Chí Minh

Trong lĩnh vực thuế, chất lượng dịch vụ của cơ quan thuế có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, thái độ và hành vi của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế
Quản lý nhà nước đối với khu thương mại tự do: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho TP. Hồ Chí Minh

Quản lý nhà nước đối với khu thương mại tự do: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho TP. Hồ Chí Minh

Khu thương mại tự do đang được xem là một công cụ quan trọng để thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại và logistics, đồng thời tạo không gian thử nghiệm các cơ chế phát triển mới.
Nguồn lực đầu tư công cho hạ tầng giao thông đường bộ vùng Tây Bắc: Thực trạng và hàm ý chính sách

Nguồn lực đầu tư công cho hạ tầng giao thông đường bộ vùng Tây Bắc: Thực trạng và hàm ý chính sách

Vùng Tây Bắc giữ vị trí chiến lược về liên kết lãnh thổ, kinh tế cửa khẩu, quốc phòng - an ninh và bảo đảm tiếp cận dịch vụ cơ bản cho đồng bào dân tộc. Hạn chế giao thông của vùng không chỉ thể hiện ở mật độ đường thấp mà còn ở mạng lưới thiếu liên tục, khả năng vận hành kém trong mùa mưa lũ và khoảng cách lớn giữa khu vực sản xuất với thị trường.
Phát triển kỹ năng số cho lao động trong chuỗi giá trị nông lâm sản vùng Trung du miền núi phía Bắc: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Phát triển kỹ năng số cho lao động trong chuỗi giá trị nông lâm sản vùng Trung du miền núi phía Bắc: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trí tuệ nhân tạo đang tái cơ cấu sâu sắc nhu cầu kỹ năng lao động toàn cầu, lan tỏa mạnh mẽ đến hoạt động nông nghiệp và chuỗi cung ứng thực phẩm, đẩy nhóm việc làm lặp lại vào nguy cơ bị thay thế trong khi làm tăng nhu cầu kỹ năng bổ trợ công nghệ.
Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa gắn với du lịch biên giới và xây dựng thương hiệu địa phương tỉnh Lạng Sơn trong kỷ nguyên mới

Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa gắn với du lịch biên giới và xây dựng thương hiệu địa phương tỉnh Lạng Sơn trong kỷ nguyên mới

Công nghiệp văn hóa đang trở thành một bộ phận năng động của nền kinh tế hiện đại, nơi giá trị không chủ yếu được tạo ra từ khai thác tài nguyên hữu hạn mà từ bản sắc, tri thức, tài năng sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ
Thực trạng phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2015-2025 và giải pháp thúc đẩy

Thực trạng phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2015-2025 và giải pháp thúc đẩy

Trước các tác động tiêu cực ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng '0' (Net Zero) vào năm 2050 đã trở thành định hướng chiến lược mang tính sống còn của Việt Nam
Chính sách cải cách kinh tế và kiểm soát lạm phát của Argentina dưới thời Tổng thống Javier Milei: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chính sách cải cách kinh tế và kiểm soát lạm phát của Argentina dưới thời Tổng thống Javier Milei: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Cải cách kinh tế của Argentina dưới thời Tổng thống Javier Milei là trường hợp đáng chú ý về xử lý lạm phát cao, mất cân đối tài khóa và suy giảm niềm tin thị trường. Bài viết phân tích kết quả bước đầu, thách thức đặt ra và rút ra một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam trong điều hành kinh tế vĩ mô.
Trải nghiệm ẩm thực người Hoa và ý định quay lại của du khách tại TP. Hồ Chí Minh

Trải nghiệm ẩm thực người Hoa và ý định quay lại của du khách tại TP. Hồ Chí Minh

Ẩm thực người Hoa là một thành tố nổi bật trong cảnh quan văn hóa Chợ Lớn, TP. Hồ Chí Minh nhưng bằng chứng định lượng về cách du khách tiếp nhận các giá trị này còn hạn chế.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.