Mô hình giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán và chất lượng công bố thông tin: Vai trò của đầu tư nội lực và trạng thái được chấp thuận kiểm toán
TS. Trần Khánh Lâm
Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
ThS. NCS. Hà Mỹ Trang
Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ
Email: [email protected]
ThS. Huỳnh Thị Thúy Phượng
Trường Đại học Lao động - Xã hội (Cơ sở II – Thành phố Hồ Chí Minh)
Email: [email protected]
TS. Thạch Keo Sa Ráte
Đại học Cần Thơ
Email: tksrate@ctu.edu.vn
Tóm tắt
Nghiên cứu xây dựng mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán đến chất lượng công bố thông tin trong bối cảnh thị trường vốn Việt Nam. Trên cơ sở Lý thuyết răn đe, Lý thuyết đại diện và Lý thuyết thể chế, nghiên cứu đã đề xuất được mô hình nghiên cứu phản ánh cơ chế truyền dẫn giữa giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán và chất lượng công bố thông tin thông qua 2 yếu tố trung gian gồm: đầu tư nội lực và trạng thái được chấp thuận kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán đối với các đơn vị có lợi ích công chúng. Nghiên cứu đồng thời phát triển các giả thuyết nhằm giải thích cơ chế truyền dẫn giữa giám sát kiểm soát chất lượng, đầu tư nội lực, trạng thái được chấp thuận kiểm toán và chất lượng công bố thông tin trên thị trường vốn.
Từ khóa: Giám sát kiểm soát, chất lượng kiểm toán, chất lượng công bố thông tin, đầu tư nội lực, thị trường mới nổi
Abstract
This study develops a research model examining the impact of audit quality control oversight on disclosure quality in Viet Nam’s capital market. Based on Deterrence Theory, Agency Theory, and Institutional Theory, the study proposes a model of the transmission mechanism between audit quality control oversight and disclosure quality, mediated by two factors: internal capability investment and the approved audit status of audit firms for public-interest entities. The study also develops hypotheses to explain the mechanisms underlying the relationships among audit quality control oversight, internal capability investment, approved audit status, and disclosure quality in the capital market.
Keywords: Quality control oversight, audit quality, disclosure quality, internal capability investment, emerging market
GIỚI THIỆU
Chất lượng công bố thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của thị trường vốn. Chất lượng công bố thông tin không chỉ chịu ảnh hưởng từ cơ chế giám sát nội bộ của các doanh nghiệp mà còn phụ thuộc đáng kể vào chất lượng kiểm toán bên ngoài (Alzeban, 2019; Nawafly và Alarussi, 2019). Với vai trò cung cấp sự đảm bảo độc lập cho thông tin tài chính, chất lượng kiểm toán góp phần nâng cao độ tin cậy, giảm bất cân xứng thông tin và củng cố niềm tin cho các bên liên quan. Chất lượng kiểm toán không chỉ được quyết định bởi nội lực của doanh nghiệp kiểm toán hay việc tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp của kiểm toán viên mà còn chịu tác động mạnh mẽ từ hệ thống giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán của các cơ quan quản lý và áp lực kỷ luật từ thị trường (García Osma và cộng sự, 2017; Gipper và cộng sự, 2015; World Bank, 2019).
Tại Việt Nam, hệ thống giám sát kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán được thiết lập với sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý. Cụ thể, Bộ Tài chính thực hiện giám sát kiểm soát chất lượng với các doanh nghiệp kiểm toán (Bộ Tài chính, 2014) trong khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) chịu trách nhiệm giám sát các doanh nghiệp kiểm toán và kiểm toán viên được chấp thuận kiểm toán cho các đơn vị có lợi ích công chúng trong lĩnh vực chứng khoán. Các cơ chế này tạo ra áp lực thể chế buộc các doanh nghiệp kiểm toán phải liên tục cải thiện năng lực chuyên môn, tăng cường đầu tư nội lực và nâng cao chất lượng hoạt động nhằm duy trì uy tín cũng như trạng thái được chấp thuận kiểm toán theo thời gian.
Các báo cáo giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán của Bộ Tài chính và UBCKNN trong giai đoạn 2023-2025 (Bộ Tài chính, 2024, 2025a, 2025b; UBCKNN, 2024, 2025) cho thấy mức độ giám sát và chế tài được áp dụng tương đối nghiêm khắc. Cụ thể, có nhiều doanh nghiệp kiểm toán xếp loại không đạt yêu cầu, kèm theo các biện pháp xử lý đối với các đơn vị này. Từ góc độ thực tiễn, cơ chế giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán được kỳ vọng không chỉ tạo áp lực tuân thủ mà còn thúc đẩy doanh nghiệp kiểm toán điều chỉnh hành vi theo hướng tăng cường đầu tư vào nội lực và duy trì trạng thái được chấp thuận kiểm toán đối với các đơn vị có lợi ích công chúng. Những thay đổi này được kỳ vọng góp phần cải thiện chất lượng công bố thông tin trên thị trường vốn thông qua việc nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động kiểm toán. Tuy nhiên, mức độ và cơ chế tác động của giám sát kiểm soát chất lượng đến chất lượng công bố thông tin vẫn chưa được kiểm chứng rõ ràng trong các nghiên cứu thực nghiệm. Phần lớn các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung mô tả khung pháp lý hoặc kiểm định tác động trực tiếp giữa giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán và chất lượng công bố thông tin (Carson và cộng sự, 2025; García Osma và cộng sự, 2017; Gipper và cộng sự, 2015; World Bank, 2019), trong khi ít xem xét vai trò của các yếu tố trung gian như đầu tư nội lực của doanh nghiệp kiểm toán và trạng thái được chấp thuận kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng. Do đó, cần có một khung nghiên cứu tích hợp nhằm giải thích cơ chế truyền dẫn giữa giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán và chất lượng công bố thông tin trong thị trường mới nổi.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng một khung phân tích tích hợp, trong đó giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán tác động đến đầu tư nội lực và trạng thái được chấp thuận kiểm toán, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin. Chất lượng công bố thông tin được đo lường thông qua các sự kiện phát sinh sau khi công bố báo cáo tài chính đã kiểm toán (Jiang và cộng sự, 2015). Theo Palmrose và cộng sự (2004), các sự kiện đính chính phản ánh sự tồn tại của sai sót trọng yếu hoặc việc trình bày chưa phù hợp trong báo cáo tài chính đã công bố, qua đó thể hiện sự suy giảm về độ tin cậy và chất lượng công bố thông tin. Trong bối cảnh Việt Nam, các sự kiện này thường được công bố công khai trên thị trường chứng khoán và gắn với yêu cầu giải trình từ cơ quan quản lý, do đó phù hợp để phản ánh chất lượng công bố thông tin. Cách tiếp cận này cho phép làm rõ cơ chế truyền dẫn trung gian ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán đến chất lượng công bố thông tin trong bối cảnh thị trường mới nổi.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính. Cụ thể, nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu kết hợp tiếp cận tổng hợp lý thuyết nhằm hệ thống hóa các nghiên cứu trước, được thu thập từ các tạp chí học thuật quốc tế uy tín và các văn bản pháp lý liên quan tại Việt Nam theo 4 nhóm chủ đề gồm: (i) Giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán; (ii) Đầu tư nội lực của doanh nghiệp kiểm toán; (iii) Trạng thái được chấp thuận kiểm toán; và (iv) Chất lượng công bố thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng mô hình nghiên cứu tích hợp nhằm giải thích cơ chế truyền dẫn giữa giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán và chất lượng công bố thông tin trong bối cảnh thị trường mới nổi, đồng thời cung cấp nền tảng lý luận cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Chất lượng công bố thông tin
Chất lượng công bố thông tin được hiểu là mức độ mà thông tin công bố phản ánh trung thực, đầy đủ, kịp thời và đáng tin cậy về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thông tin chất lượng giúp giảm bất cân xứng thông tin (Brown và Hillegeist, 2007), gia tăng độ tin cậy của báo cáo tài chính và củng cố niềm tin của thị trường đối với doanh nghiệp có lợi ích công chúng (DeFond và Zhang, 2014; Gipper và cộng sự, 2015). Chất lượng công bố thông tin được phản ánh qua mức độ chính xác và độ tin cậy của báo cáo tài chính đã kiểm toán. Do đó, các sự kiện đính chính báo cáo tài chính đã kiểm toán sau khi công bố phản ánh sự suy giảm chất lượng do báo cáo trước đó có chứa sai sót hoặc trình bày không phù hợp với chuẩn mực kế toán (Jiang và cộng sự, 2015; Palmrose và cộng sự, 2004).
Giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán
Giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán là hệ thống các hoạt động giám sát, kiểm tra và đánh giá do cơ quan quản lý hoặc hiệp hội nghề nghiệp thực hiện nhằm đảm bảo doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và quy định hiện hành giúp nâng cao chất lượng kiểm toán và độ tin cậy của thông tin tài chính đã kiểm toán (García Osma và cộng sự, 2017; Gipper và cộng sự, 2015; Krishnan, 2025; World Bank, 2019). Cơ chế này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của các bên liên quan trên thị trường tài chính (Kleinman và cộng sự, 2014; Loehlein, 2017). Hệ thống giám sát công khai có vai trò thúc đẩy trách nhiệm nghề nghiệp, nâng cao tính minh bạch và cải thiện chất lượng báo cáo tài chính (Carson và cộng sự., 2025; Vali và cộng sự, 2025). Tại Việt Nam, giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán được triển khai theo Thông tư số 157/2014/TT-BTC với logic vừa kiểm tra trực tiếp vừa giám sát từ xa. Cụ thể, cơ quan quản lý sẽ đánh giá chất lượng hồ sơ kiểm toán, đồng thời áp dụng chế tài đối với các doanh nghiệp kiểm toán và kiểm toán viên sai phạm. Bối cảnh này phù hợp với Lý thuyết răn đe (Becker, 1968), có nghĩa là giám sát và chế tài có tác dụng răn đe, qua đó thúc đẩy doanh nghiệp kiểm toán tự điều chỉnh hành vi. Khi bị phát hiện mức phạt kỳ vọng tăng lên, điều này tạo ra một môi trường mà chi phí không tuân thủ trở nên hữu hình, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp kiểm toán đầu tư nội lực nhằm giảm thiểu rủi ro và góp phần cải thiện chất lượng kiểm toán.
Giả thuyết nghiên cứu
Mối quan hệ giữa giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán và đầu tư nội lực của doanh nghiệp kiểm toán
Đầu tư nội lực được tiếp cận như mức độ đầu tư vào các nguồn lực nội tại nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán, gồm đầu tư vào nhân sự, cải tiến hệ thống kiểm soát chất lượng và năng lực công nghệ (Carcello và cộng sự, 2011; DeFond và Zhang, 2014; Gunny và Zhang, 2013). Theo Lý thuyết răn đe (Becker, 1968) cơ chế giám sát kiểm soát chất lượng làm gia tăng áp lực pháp lý và áp lực danh tiếng đối với doanh nghiệp kiểm toán, đặc biệt trong bối cảnh các cơ quan quản lý tăng cường thanh tra và áp dụng các biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi sai phạm. Để giảm thiểu điều này các doanh nghiệp kiểm toán có xu hướng tăng đầu tư nội lực nhằm nâng cao khả năng tuân thủ và chất lượng hoạt động kiểm toán. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy hoạt động giám sát kiểm soát chất lượng có khả năng thúc đẩy doanh nghiệp kiểm toán củng cố hệ thống kiểm soát chất lượng, tăng cường đào tạo nhân sự, chuẩn hóa quy trình kiểm toán và đầu tư nhiều hơn vào các cơ chế đảm bảo chất lượng nội bộ (Carson và cộng sự, 2025; Gunny và Zhang, 2013). Theo Gipper và cộng sự (2015) các chương trình thanh tra giám sát tạo động lực để doanh nghiệp kiểm toán thực hiện các điều chỉnh ở cấp độ toàn doanh nghiệp nhằm cải thiện chất lượng kiểm toán và duy trì uy tín nghề nghiệp. Do doanh nghiệp kiểm toán cần thời gian để điều chỉnh quy trình và phân bổ nguồn lực, tác động của giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán đến đầu tư nội lực sẽ tồn tại độ trễ nhất định. Giả thuyết H1 được đề xuất như sau:
H1: Giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán trong năm t được kỳ vọng thúc đẩy mức tăng đầu tư nội lực của doanh nghiệp kiểm toán trong năm t+1
Mối quan hệ giữa giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán và trạng thái được chấp thuận kiểm toán
Trạng thái được chấp thuận kiểm toán được hiểu là việc doanh nghiệp kiểm toán được cơ quan quản lý chấp thuận thực hiện kiểm toán cho các đơn vị có lợi ích công chúng (Carson và cộng sự, 2025; World Bank, 2019). Chỉ tiêu này phản ánh sự công nhận về năng lực chuyên môn, mức độ tuân thủ và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán dưới góc độ quản lý nhà nước. Theo Lý thuyết đại diện (Jensen và Meckling, 1976) và Lý thuyết thể chế (Scott, 2008) cơ chế giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán được thiết lập nhằm giảm bất cân xứng thông tin và bảo đảm chất lượng dịch vụ kiểm toán đối với các đơn vị có lợi ích công chúng. Để đạt hoặc duy trì trạng thái được chấp thuận kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán phải trải qua quy trình đăng ký và phê duyệt bởi các cơ quan giám sát độc lập (World Bank, 2019). Hệ thống giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán đảm bảo rằng chỉ những đơn vị có đủ năng lực, nguồn lực và hệ thống kiểm soát chất lượng nội bộ vững chắc mới được tham gia vào phân khúc thị trường này. Trong bối cảnh đó, các cơ quan giám sát đóng vai trò sàng lọc và duy trì tiêu chuẩn đối với doanh nghiệp kiểm toán thông qua hoạt động thanh tra, giám sát và áp dụng chế tài đối với các doanh nghiệp kiểm toán sai phạm. Các nghiên cứu cho thấy, doanh nghiệp kiểm toán muốn duy trì hoặc được chấp thuận kiểm toán tại các đơn vị có lợi ích công chúng phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt từ cơ quan quản lý (Carson và cộng sự, 2025; World Bank, 2019). Do đó, giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán được kỳ vọng sẽ thúc đẩy doanh nghiệp kiểm toán cải thiện mức độ tuân thủ nhằm gia tăng khả năng duy trì hoặc đạt trạng thái được chấp thuận kiểm toán trong các giai đoạn tiếp theo. Giả thuyết H2 được đề xuất như sau:
H2: Giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán trong năm t được kỳ vọng có ảnh hưởng tích cực đến khả năng doanh nghiệp kiểm toán duy trì hoặc đạt trạng thái được chấp thuận kiểm toán trong năm t+1.
Mối quan hệ giữa đầu tư nội lực và chất lượng công bố thông tin
Đầu tư nội lực của doanh nghiệp kiểm toán như tăng cường đào tạo nhân sự, chuẩn hóa quy trình kiểm toán, củng cố hệ thống kiểm soát chất lượng và ứng dụng công nghệ được xem là các yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán (Carcello và cộng sự, 2011; DeFond và Zhang, 2014). Doanh nghiệp kiểm toán có chất lượng kiểm toán cao có khả năng hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận, giảm xác suất đính chính báo cáo tài chính và nâng cao độ tin cậy của thông tin công bố (Gunny và Zhang, 2013; Palmrose và cộng sự, 2004). Ngoài ra, Gipper và cộng sự (2015); Zahmatkesh và Rezazadeh (2017) cho rằng việc tăng cường chất lượng và năng lực kiểm toán giúp cải thiện mức độ tin cậy của thông tin tài chính trên thị trường vốn. Do đó, đầu tư nội lực là nguồn lực cần thiết để góp phần cải thiện chất lượng công bố thông tin. Giả thuyết H3 được đề xuất như sau:
H3: Đầu tư nội lực của doanh nghiệp kiểm toán trong năm t được kỳ vọng cải thiện chất lượng công bố thông tin trong năm t+1
Mối quan hệ giữa trạng thái được chấp thuận kiểm toán và chất lượng công bố thông tin
Theo Lý thuyết thể chế, các doanh nghiệp phải chịu áp lực duy trì tính hợp pháp và sự chấp thuận từ cơ quan quản lý để tiếp tục tham gia vào các phân khúc thị trường quan trọng (Scott, 2008). Trạng thái được chấp thuận kiểm toán cho các đơn vị có lợi ích công chúng được xem như một tín hiệu phản ánh năng lực chuyên môn, mức độ tuân thủ và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán, qua đó góp phần nâng cao độ tin cậy của thông tin tài chính công bố. Cơ chế giám sát công khai và thanh tra kiểm toán góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán và độ tin cậy của thông tin tài chính (Carson và cộng sự, 2025; Gipper và cộng sự, 2015). Đồng thời, các doanh nghiệp kiểm toán duy trì được trạng thái được chấp thuận thường có động cơ mạnh hơn trong việc bảo vệ uy tín và hạn chế sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính đã kiểm toán. Do đó, trạng thái được chấp thuận kiểm toán được xem như một tín hiệu công khai về năng lực và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán. Giả thuyết H4 được đề xuất như sau:
H4: Doanh nghiệp kiểm toán duy trì trạng thái được chấp thuận kiểm toán trong năm t được kỳ vọng cải thiện chất lượng công bố thông tin trong năm t+1
Vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán và chất lượng công bố thông tin
Theo Lý thuyết đại diện (Jensen và Meckling, 1976), cơ chế giám sát kiểm soát chất lượng được thiết lập nhằm giảm bất cân xứng thông tin và nâng cao độ tin cậy của báo cáo tài chính thông qua việc cải thiện chất lượng hoạt động kiểm toán. Đồng thời, Lý thuyết thể chế (Scott, 2008) cho rằng áp lực từ cơ quan quản lý buộc các doanh nghiệp kiểm toán phải điều chỉnh hành vi để duy trì tính hợp pháp và khả năng tiếp cận các phân khúc thị trường quan trọng. Theo Lý thuyết răn đe (Becker, 1968), hoạt động giám sát và thanh tra làm gia tăng chi phí kỳ vọng của hành vi vi phạm, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp kiểm toán tăng cường đầu tư vào hệ thống kiểm soát chất lượng, nguồn nhân lực và năng lực tuân thủ. Các nghiên cứu trước cũng cho thấy hoạt động giám sát kiểm toán có khả năng thúc đẩy doanh nghiệp kiểm toán cải thiện chất lượng hoạt động và duy trì trạng thái được chấp thuận kiểm toán đối với các đơn vị có lợi ích công chúng (Gunny và Zhang, 2013; Gipper và cộng sự, 2015; World Bank, 2019). Trong bối cảnh đó, tác động của giám sát kiểm soát chất lượng đến chất lượng công bố thông tin được kỳ vọng diễn ra gián tiếp thông qua các cơ chế trung gian gồm đầu tư nội lực và trạng thái được chấp thuận kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán. Giả thuyết H5 được đề xuất như sau:
H5: Đầu tư nội lực và trạng thái được chấp thuận kiểm toán được kỳ vọng có vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán và chất lượng công bố thông tin.
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Mô hình nghiên cứu đề xuất phản ánh cơ chế truyền dẫn giữa giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán và chất lượng công bố thông tin thông qua 2 yếu tố trung gian gồm: đầu tư nội lực và trạng thái được chấp thuận kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán. Trong đó, giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán được kỳ vọng thúc đẩy doanh nghiệp kiểm toán tăng cường đầu tư nội lực và nâng cao khả năng duy trì trạng thái được chấp thuận kiểm toán, qua đó góp phần cải thiện chất lượng công bố thông tin trên thị trường vốn. Trên cơ sở cơ sở lý thuyết và các giả thuyết, mô hình nghiên cứu được đề xuất như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
KẾT LUẬN
Nghiên cứu xây dựng khung lý thuyết nhằm phân tích mối quan hệ giữa giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán và chất lượng công bố thông tin trong bối cảnh thị trường vốn tại Việt Nam. Dựa trên cơ sở Lý thuyết răn đe, Lý thuyết đại diện, Lý thuyết thể chế và tổng quan nghiên cứu trước đó, nghiên cứu đã đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của giám sát kiểm soát chất lượng kiểm toán đến chất lượng công bố thông tin được lý giải thông qua 2 cơ chế trung gian gồm: đầu tư nội lực và trạng thái được chấp thuận kiểm toán đối với đơn vị có lợi ích công chúng.
Tuy nhiên, nghiên cứu hiện chỉ dừng ở việc xây dựng khung lý thuyết và phát triển giả thuyết nghiên cứu mà chưa thực hiện kiểm định thực nghiệm. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo có thể sử dụng dữ liệu từ báo cáo giám sát kiểm soát chất lượng, báo cáo minh bạch của doanh nghiệp kiểm toán và các sự kiện công bố thông tin trên thị trường chứng khoán để kiểm định thực nghiệm các mối quan hệ được đề xuất trong mô hình nghiên cứu.
Tài liệu tham khảo:
1. Alzeban, A. (2019). The impact of audit committee, CEO, and external auditor quality on the quality of financial reporting. Corporate Governance, 20(2), 263–279. https://doi.org/10.1108/CG-07-2019-0204
2. Becker, G. S. (1968). Crime and Punishment: An Economic Approach. Journal of Political Economy, 76(2), 169–217. https://doi.org/10.1086/259394
3. Bộ Tài chính (2014). Thông tư số 157/2014/TT-BTC ngày 23/10/2014 quy định về kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán.
4. Bộ Tài chính (2024). Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán năm 2023.
5. Bộ Tài chính (2025a). Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán năm 2024.
6. Bộ Tài chính (2025b). Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán năm 2025.
7. Brown, S., & Hillegeist, S. A. (2007). How disclosure quality affects the level of information asymmetry. Review of Accounting Studies, 12(2–3), 443–477. https://doi.org/10.1007/s11142-007-9032-5
8. Carcello, J. V., Hollingsworth, C., & Mastrolia, S. A. (2011). The effect of PCAOB inspections on Big 4 audit quality. Research in Accounting Regulation, 23(2), 85–96. https://doi.org/10.1016/j.racreg.2011.10.001
9. Carson, E., Lamoreaux, P., Simnett, R., Thürheimer, U., & Vanstraelen, A. (2025). Establishment of National Public Audit Oversight Boards: Descriptive Evidence and Implications for Audit Quality. Journal of Accounting Research, 64(1), 127–180. https://doi.org/10.1111/1475-679X.70008
10. DeFond, M., & Zhang, J. (2014). A review of archival auditing research. Journal of Accounting and Economics, 2013 Conference Issue, 58(2), 275–326. https://doi.org/10.1016/j.jacceco.2014.09.002
11. García Osma, B., Gisbert, A., & De Las Heras Cristóbal, E. (2017). Public oversight systems for statutory auditors in the European Union. European Journal of Law and Economics, 44(3), 517–552. https://doi.org/10.1007/s10657-014-9460-1
12. Gipper, B., Leuz, C., & Maffett, M. G. (2015). Public Audit Oversight and Reporting Credibility: Evidence from the PCAOB Inspection Regime. SSRN Electronic Journal. https://doi.org/10.2139/ssrn.2641211
13. Gunny, K. A., & Zhang, T. C. (2013). PCAOB inspection reports and audit quality. Journal of Accounting and Public Policy, 32(2), 136–160. https://doi.org/10.1016/j.jaccpubpol.2012.11.002
14. Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure. Journal of Financial Economics, 3(4), 305–360.
15. Jiang, H., Habib, A., & Zhou, D. (2015). Accounting restatements and audit quality in China. Advances in Accounting, 31(1), 125–135. https://doi.org/10.1016/j.adiac.2015.03.014
16. Kleinman, G., Lin, B. B., & Palmon, D. (2014). Audit Quality: A Cross-National Comparison of Audit Regulatory Regimes. Journal of Accounting, Auditing & Finance, 29(1), 61–87. https://doi.org/10.1177/0148558X13516127
17. Krishnan, L. (2025). Audit Standards, Guidelines, By-Laws, and Supervision of Auditors. Trong L. Krishnan, A Paradigm Shift of Auditors’ Role, Duties and Liabilities in Malaysia (tr 199–227). Springer Nature Singapore. https://doi.org/10.1007/978-981-95-0796-2_7
18. Loehlein, L. (2017). Measuring the independence of audit oversight entities: A comparative empirical analysis. Accounting Research Journal, 30(2), 165–184. https://doi.org/10.1108/ARJ-05-2015-0071
19. Nawafly, A. T., & Alarussi, A. S. (2019). Impact of Board Characteristics, Audit Committee Characteristics And External Auditor on Disclosure Quality of Financial Reporting. Journal of Management and Economic Studies, 1(1), 48–65.
20. Palmrose, Z.-V., Richardson, V. J., & Scholz, S. (2004). Determinants of market reactions to restatement announcements. Journal of Accounting and Economics, 37(1), 59–89. https://doi.org/10.1016/j.jacceco.2003.06.003Scott W. R. (2008). Institutions and Organizations (Tập 3rd). SAGE Publications.
21. Vali Z., Malekian E., Gholami-Jamkarani R., & Maddahi A. (2025). Clarifying the Professional Audit Supervision Pattern. International Journal of Finance & Managerial Accounting, 10(38), 167–178. https://doi.org/10.30495/ijfma.2024.76135.2078
22. World Bank (2019). Audit Oversight to Enhance Trust and Transparency in Corporate Financial Statements Challenges in Developing Countries. World Bank.
Zahmatkesh, S., & Rezazadeh, J. (2017). The effect of auditor features on audit quality. Tékhne, 15(2), 79–87. https://doi.org/10.1016/j.tekhne.2017.09.003
23. UBCKNN (2024). Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra chất lượng năm 2023.
24. UBCKNN (2025). Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra chất lượng năm 2025.
| Ngày nhận bài: 20/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/5/2026; Ngày duyệt đăng: 25/5/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên HOSE
Thực trạng áp dụng kế toán môi trường trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong kế toán thuế tại các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam
Tích hợp kế toán tài chính và kế toán quản trị trong hệ thống thông tin kế toán
Tác động của các công nghệ mới trong kế toán đến chất lượng báo cáo tài chính và thích ứng nghề nghiệp
Đánh giá mối đe dọa đến nhận thức về hiệu quả an toàn thông tin kế toán: Mô hình tích hợp PMT - TPB - Điều kiện hóa hành động - Thói quen tại doanh nghiệp Việt Nam
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục
Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai
