Chuyển đổi số trong quản trị công và doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 16:13 | 21/04/2026
Chuyển đổi số đang tạo ra những tác động sâu rộng đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội và quản trị. Trong bối cảnh đó, việc thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị công và doanh nghiệp nhằm hướng tới xây dựng xã hội số phù hợp với nền kinh tế hiện đại trở thành một yêu cầu cấp thiết và nhận được sự quan tâm lớn từ Nhà nước cũng như các địa phương.

Mã Phượng Quyên

Đại học Thủ Dầu Một

Email: [email protected].

Bùi Thị Yến Nhi

Đại học Thủ Dầu Một

Tóm tắt

Chuyển đổi số đang tạo ra những tác động sâu rộng đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội và quản trị. Trong bối cảnh đó, việc thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị công và doanh nghiệp nhằm hướng tới xây dựng xã hội số phù hợp với nền kinh tế hiện đại trở thành một yêu cầu cấp thiết nhận được sự quan tâm lớn từ Nhà nước cũng như các địa phương. Bài viết tập trung phân tích trường hợp TP. Hồ Chí Minh - một địa phương đang có nhiều chuyển biến tích cực trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt trong lĩnh vực quản trị công và hoạt động doanh nghiệp. Trên cơ sở hệ thống hóa các khái niệm liên quan, nghiên cứu đánh giá thực trạng triển khai chuyển đổi số tại TP.Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp trên địa bàn trong giai đoạn số hóa hiện nay.

Từ khoá: Quản trị công, doanh nghiệp, chuyển đổi số, TP. Hồ Chí Minh

Abstract

Digital transformation is having a profound impact across economic, social, and governance sectors. In this context, promoting digital transformation in public administration and business management, with the aim of building a digital society aligned with the modern economy, has become an urgent requirement and has received significant attention from both the government and local authorities. This article focuses on the case of Ho Chi Minh City, which has experienced significant positive changes in its digital transformation process, particularly in public administration and business activities. Based on a systematization of relevant concepts, the study assesses the current status of digital transformation implementation in Ho Chi Minh City and proposes several solutions to improve governance efficiency and promote local business development in the current digital era.

Keywords: Public administration, business, digital transformation, Ho Chi Minh City

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, các hoạt động liên quan đến công nghệ số và chuyển đổi số đang được triển khai mạnh mẽ tại TP. Hồ Chí Minh. Cùng với việc đẩy mạnh công tác truyền thông, quảng bá và nâng cao nhận thức xã hội, qua đó khuyến khích sự tham gia tích cực của người dân và doanh nghiệp vào tiến trình chuyển đổi số, việc tăng cường liên kết, hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp trong việc đề xuất, phát triển các giải pháp công nghệ mới, đặc biệt là ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), đáp ứng yêu cầu đổi mới trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục… cũng được chú trọng. Những động thái đó góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi số một cách toàn diện và phát triển kinh tế số bền vững tại TP. Hồ Chí Minh. Những kết quả đạt được đã từng bước đáp ứng yêu cầu tại Quyết định số 2393/QĐ-UBND ngày 3/7/2020, trong đó có mục tiêu đến năm 2025, Thành phố phấn đấu nằm trong nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước về phát triển Chính phủ điện tử, kinh tế số đóng góp khoảng 25% GRDP; đến năm 2030, Thành phố hướng tới việc hình thành đầy đủ hệ thống nền tảng dữ liệu của đô thị thông minh, phục vụ hiệu quả cho phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.

Trong bối cảnh hiện nay, việc làm thế nào để quản lý, thực hiện các lợi ích xã hội một cách toàn diện nhất thông qua chuyển đổi số; đồng thời liên kết hiệu quả với các doanh nghiệp để tạo ra các sản phẩm tối ưu nhất để phục vụ cộng đồng là tiêu chí hàng đầu được lãnh đạo, các cơ quan ban ngành, doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Đó cũng là những vấn đề tác giả muốn tìm hiểu, phân tích và nghiên cứu.

THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CÔNG VÀ DOANH NGHIỆP TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

Quản trị công

Với tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2023 đạt 1.621.190 tỷ đồng (tương đương khoảng 68,1 tỷ USD), TP. Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế chủ lực không chỉ của khu vực phía Nam mà còn của cả nước. Theo số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), năm 2023 tỷ trọng kinh tế số đóng góp vào GRDP của Thành phố là 21,5%, tăng 2,84 điểm phần trăm so với năm 2022. Bên cạnh đó, TP. Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến, thể hiện qua việc 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 được triển khai trên Cổng dịch vụ công của Thành phố; tỷ lệ hồ sơ tiếp nhận trực tuyến đạt 99%; tỷ lệ hồ sơ được giải quyết trực tuyến đạt 98%; và mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ công trực tuyến đạt 97%. Trên cơ sở những kết quả này, Thành phố đặt mục tiêu nâng tỷ trọng kinh tế số lên khoảng 40% vào năm 2030.

Do còn hạn chế về tư duy, nhận thức đối với vị trí, vai trò, phạm vi của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chưa giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội; thể chế pháp luật chưa đồng bộ, còn vướng mắc, bất cập; tổ chức thực hiện có lúc, có nơi còn chưa nghiêm; công tác phối hợp trong quản lý, sử dụng và hành động giữa các cơ quan chưa thực sự hiệu quả; trình độ đội ngũ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; ý thức trách nhiệm, đặc biệt là đối với người đứng đầu, trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước chưa cao, thậm chí cố tình làm sai để tham nhũng; công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát có mặt còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý.

Quản trị trong doanh nghiệp

Quản trị doanh nghiệp được hiểu là hệ thống nguyên tắc, chính sách và cơ chế được thiết lập nhằm định hướng, tổ chức, điều hành và giám sát hoạt động của doanh nghiệp, qua đó bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả hoạt động và trách nhiệm giải trình của tổ chức. Tại Việt Nam, hoạt động quản trị doanh nghiệp chịu sự chi phối đáng kể của hệ thống pháp luật, trong đó Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Luật số 59/2020/QH14) Quốc hội thông qua ngày 17/6/2020 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, giữ vai trò pháp lý nền tảng. Trên cơ sở đó, nội dung này tập trung phân tích thực trạng quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam, bao gồm khuôn khổ pháp lý hiện hành, mức độ và hiệu quả thực thi trong thực tiễn, cũng như những vấn đề nổi bật đang đặt ra trong công tác quản trị doanh nghiệp.

Đây là mô hình quản trị doanh nghiệp dựa trên nền tảng số, cho phép quản lý tập trung toàn bộ đơn vị, phòng ban và cá nhân trong doanh nghiệp trên một hệ thống hợp nhất. Mô hình này hỗ trợ tự động hóa các quy trình tác nghiệp, đồng thời thực hiện việc lưu trữ, quản lý và khai thác thông tin, dữ liệu một cách đồng bộ trên môi trường số.

Mô hình cho phép toàn bộ hoạt động quản lý của lãnh đạo và nhân viên, từ trình ký, phê duyệt, ban hành văn bản đến lưu trữ, tra cứu hồ sơ; từ giao việc, tiếp nhận, phối hợp thực hiện, cập nhật tiến độ đến đánh giá kết quả công việc, đều được triển khai trực tiếp trên phần mềm quản trị. Nhờ đó, mô hình góp phần nâng cao năng suất và chất lượng công việc, đồng thời tiết kiệm thời gian và chi phí quản trị cho doanh nghiệp.

Hiện nay, các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình triển khai chuyển đổi số. Kết quả khảo sát thực tế đối với hơn 2.000 doanh nghiệp, cửa hàng và hộ kinh doanh cho thấy, chỉ khoảng 56,41% đơn vị thể hiện sự quan tâm đến chuyển đổi số, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp đã thực sự ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động sản xuất, kinh doanh chỉ chiếm 3,75%. Thực trạng này phản ánh nhu cầu chuyển đổi số của cộng đồng doanh nghiệp còn rất lớn, song mức độ triển khai trên thực tế vẫn ở mức thấp.

Năm 2022, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) phối hợp với Dự án USAID LinkSME đã triển khai Chương trình “Hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025”. Kết quả khảo sát trên 1.300 doanh nghiệp cho thấy, nhu cầu chuyển đổi số và ứng dụng các giải pháp công nghệ có sự khác biệt rõ rệt theo mức độ phát triển của doanh nghiệp. Đối với nhóm doanh nghiệp mới bắt đầu tham gia chuyển đổi số, nhu cầu tập trung chủ yếu vào các giải pháp tiếp thị trực tuyến (chiếm 57%), giải pháp hỗ trợ làm việc nội bộ (53,7%), giao dịch điện tử (43%) và hạ tầng mạng, dữ liệu (39,6%). Trong khi đó, các doanh nghiệp đang trong giai đoạn tăng trưởng và tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số lại có nhu cầu cao hơn đối với các giải pháp phân tích dữ liệu và báo cáo thông minh (63,5%), quản lý quan hệ khách hàng và quản lý kênh bán hàng (60,7%), hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp - ERP (57,8%), cũng như các giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh dữ liệu (50,2%).

Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh còn gặp phải nhiều thách thức, nổi bật là sự thiếu chủ động của doanh nghiệp trong việc tiếp cận và ứng dụng công nghệ số cũng như hạn chế về nhận thức đối với lợi ích và giá trị gia tăng mà chuyển đổi số mang lại. Ngoài ra, việc tiếp cận các nền tảng công nghệ số và các chương trình hỗ trợ, tư vấn chuyển đổi số vẫn còn gặp nhiều rào cản, từ sự thiếu hụt thông tin chính thống đến mức độ phối hợp chưa hiệu quả giữa doanh nghiệp và các đơn vị cung cấp dịch vụ công nghệ.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG QUẢN TRỊ CÔNG VÀ DOANH NGHIỆP TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

Đối với quản trị công

Quản trị trong công tác phổ cập kiến thức cho người dân

TP. Hồ Chí Minh đóng vai trò nòng cốt về trọng điểm kinh tế phía Nam với nhiều cơ quan, ban ngành. Do đó, để quản trị tốt các mảng kinh tế, xã hội, y tế giáo dục công lập, các đơn vị công tại Thành phố cần có kế hoạch và đẩy mạnh thực hiện phát triển Chính quyền số phù hợp với đặc thù khu vực: Phát triển ứng dụng số hóa phục vụ nhân dân (y tế, giáo dục, xã hội), kho dữ liệu dùng chung, kết nối liên thông giữa các cấp, ngành cần được thống nhất triệt để, tạo điều kiện thuận lợi, đơn giản hóa công nghệ cho người dân dễ sử dụng, cập nhật các thông tin cá nhân. Mặc dù hiện nay có nhiều phương tiện truyền thông hướng dẫn sử dụng cập nhật chuyển đổi số, cụ thể bằng văn bản, hình ảnh, clip nhưng nhận thức của nhiều người vẫn còn hạn chế. Do đó, các đơn vị công tại TP. Hồ Chí Minh cần tăng cường các buổi họp địa phương sâu sát và lắng nghe ý kiến nhân dân đồng thời cải thiện hướng dẫn phù hợp với nhân dân theo phân loại lứa tuổi, nghề nghiệp.

Quản trị trong công tác nâng cao kiến thức cho cán bộ, công nhân viên chức

Công tác nâng cao kiến thức cho cán bộ, công nhân viên chức là vấn đề cần được quan tâm tiếp theo tại TP. Hồ Chí Minh. Theo đó, công tác tuyển dụng phải dựa trên năng lực; cần đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuyên sâu, gắn chặt với vị trí việc làm và yêu cầu thực tiễn. Tăng cường giáo dục đạo đức công vụ, xây dựng văn hóa công sở, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, cũng như phòng, chống tham nhũng và lãng phí cần được đẩy mạnh. Đặc biệt, cần tập trung xây dựng đội ngũ công chức tham mưu hoạch định thể chế, chính sách có trình độ chuyên môn cao, tư duy chiến lược, năng lực dự báo và khả năng thích ứng nhanh trước những cơ hội và thách thức trong bối cảnh môi trường thường xuyên biến động. Song song với đó, cần thiết lập cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời đối với những công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ và đạo đức nghề nghiệp, đã bị xử lý kỷ luật hoặc không còn uy tín đối với cơ quan, tổ chức và Nhân dân.

Giải pháp quản trị cho doanh nghiệp

Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp

Chuyển đổi số đặt ra những thách thức lớn đối với năng lực lãnh đạo và quản trị của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Thực tiễn tại các doanh nghiệp lớn trên thế giới cho thấy, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bất kể quy mô hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, việc tăng cường liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhất là doanh nghiệp tại các quốc gia phát triển, là hết sức cần thiết, nhằm tiếp cận các tiêu chuẩn, công nghệ và phương pháp quản trị tiên tiến. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả những lợi ích từ quá trình hợp tác này, doanh nghiệp cần đồng thời nâng cao nhận thức của đội ngũ lãnh đạo và người lao động để sẵn sàng tiếp nhận và phát huy các thành tựu công nghệ toàn cầu.

Giải pháp về quản trị nguồn nhân lực

Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết về nguồn nhân lực có chất lượng cao trong các doanh nghiệp. Nguồn lực có kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành về công nghệ số là một trong những khó khăn lớn mà phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện đang phải đối mặt. Nguồn nhân lực được xem là tài sản chiến lược, quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Do đó, chiến lược phát triển nguồn nhân lực cần được ưu tiên và tích hợp trong chiến lược phát triển dài hạn của doanh nghiệp. Trước hết, doanh nghiệp cần tập trung xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện có; đồng thời chú trọng công tác tuyển dụng, thu hút và giữ chân nhân sự có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số.

Giải pháp về quản trị nguồn vốn đầu tư

Chuyển đổi số là một quá trình thay đổi mang tính toàn diện, không chỉ liên quan đến công nghệ mà còn bao gồm sự chuyển biến về tư duy quản trị, nhận thức, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, chiến lược phát triển và mô hình tổ chức. Do đó, nhu cầu vốn đầu tư cho quá trình này là tương đối lớn. Trong khi về mặt lý thuyết, chuyển đổi số được xem là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng, thì trên thực tế, nhiều doanh nghiệp vẫn còn e ngại trước tính không chắc chắn về hiệu quả đầu tư, cũng như nguy cơ thất bại và tổn thất tài chính. Vì vậy, việc xây dựng và triển khai các giải pháp về vốn đầu tư, bao gồm phân bổ nguồn lực hợp lý, đa dạng hóa kênh huy động vốn và có lộ trình đầu tư phù hợp, là điều kiện cần thiết để bảo đảm quá trình chuyển đổi số được thực hiện hiệu quả và bền vững tại TP. Hồ Chí Minh.

Tài liệu tham khảo:

1. Ngọc Diệp (2024). TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện về chính quyền số. Tạp chí Khoa học & công nghệ Việt Nam.

2. Nhẫn Nam (2024). TP.HCM dự kiến năm 2025 đạt chỉ tiêu kinh tế số chiếm 25% GRDP. https://ttbc-hcm.gov.vn/tp-hcm-du-kien-nam-2025-dat-chi-tieu-kinh-te-so-chiem-25-grdp-1000528.html

3. Quốc hội (2020). Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17/06/2020. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Luat-Doanh-nghiep-so-59-2020-QH14-427301.aspx

4. Trương Thành Phúc (2014). Quản trị công và việc thực hiện lợi ích công cộng. Tạp chí Lý luận chính trị, số 12-2013.

Ngày nhận bài: 27/2/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/4/2026; Ngày duyệt đăng: 21/4/2026

Các tin khác

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Trong thời gian qua, việc phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn TP. Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may, chiến lược định giá bán không chỉ quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, vị thế cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế số và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có không gian kinh tế rộng, cơ cấu ngành đa dạng với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, kinh tế số và khu vực kinh tế tư nhân tại nhiều địa phương trong Vùng đã có những bước phát triển tích cực.
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Du lịch biển đảo là một bộ phận quan trọng của kinh tế du lịch và kinh tế biển, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng thông qua lưu trú, vận tải, ẩm thực, vui chơi giải trí, thương mại, dịch vụ sáng tạo và tiêu dùng văn hóa.
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Trong những năm gần đây, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ tiếp tục được cụ thể hóa và hoàn thiện. Đặc biệt, trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Chuyển đổi số thông qua việc áp dụng hệ thống quản trị kho bãi, quản lý vận tải, định vị tự động và dữ liệu lớn… được xem là giải pháp mang tính chiến lược để các doanh nghiệp logistics cắt giảm chi phí và tăng cường năng lực cạnh tranh.
Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tại Việt Nam: Các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị

Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tại Việt Nam: Các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị

Cấu trúc vốn là một trong những vấn đề trung tâm của quản trị tài chính doanh nghiệp, phản ánh mối quan hệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu trong quá trình tài trợ cho tài sản và hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý có ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn, khả năng sinh lời, mức độ tự chủ tài chính, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính của doanh nghiệp.