Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của điểm đến du lịch Đồng bằng sông Cửu Long
TS. Nguyễn Quốc Nghi (Tác giả liên hệ)
Email: quocnghi@ctu.edu.vn
TS. Nguyễn Thị Bảo Châu
Trường Kinh tế, Đại học Cần Thơ
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm chứng minh các nhân tố ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của điểm đến du lịch đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) theo cảm nhận của du khách. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp với phỏng vấn trực tiếp được sử dụng để khảo sát 302 du khách. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp với sự kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng được sử dụng để chứng minh các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL chịu sự ảnh hưởng tích cực của 6 nhân tố, bao gồm: Môi trường tự nhiên, Ẩm thực địa phương, Văn hóa bản địa, Vui chơi giải trí, Cơ sở hạ tầng, Giá cả cảm nhận. Trong đó, Môi trường tự nhiên là nhân tố quan trọng nhất, ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL.
Từ khóa: Sự hấp dẫn, điểm đến du lịch, Đồng bằng sông Cửu Long
Abstract
This study aims to identify the factors influencing the Mekong Delta's attractiveness as a tourism destination from tourists' perspectives. A convenience sampling method, combined with face-to-face interviews, was used to survey 302 tourists. A mixed-methods approach integrating qualitative and quantitative research was adopted to test the proposed hypotheses. The findings reveal that the attractiveness of the Mekong Delta tourism destination is positively influenced by six factors: natural environment, local cuisine, indigenous culture, entertainment activities, infrastructure, and perceived price. Among these, the natural environment is identified as the most influential factor, exerting the strongest effect on the destination's attractiveness.
Keywords: Attractiveness, tourism destination, Mekong Delta
GIỚI THIỆU
Sự hấp dẫn điểm đến là nhân tố quan trọng đối với sự lựa chọn điểm đến của du khách, mang tính quyết định đến sự phát triển ngành kinh tế du lịch (Andersson và Getz, 2009). Sự hấp dẫn của điểm đến gắn liền với các thuộc tính cốt lõi, tiêu biểu là các giá trị tài nguyên tự nhiên và nhân văn (Nadzirah và cộng sự, 2018) và các thuộc tính bổ sung, như các hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho chuyến đi. Sự hấp dẫn của điểm đến góp phần giúp khách du lịch đạt được các mục đích chuyến đi như: giải trí, nghỉ dưỡng và giáo dục. Tuy nhiên, sự hấp dẫn của một điểm đến tùy thuộc vào đặc trưng của từng điểm đến (Krešić và Prebežac, 2011), cảm nhận của du khách (Dung và cộng sự, 2023) và chịu sự chi phối bởi nhiều nhân tố khác nhau (Hai và cộng sự, 2023).
Tại Việt Nam, vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong 7 vùng du lịch trọng điểm của cả nước. Du lịch ĐBSCL đang có nhiều thay đổi tích cực với sự phát triển của các loại hình và sản phẩm du lịch độc đáo. Theo số liệu từ Hiệp hội Du lịch ĐBSCL, tính đến cuối năm 2025, du lịch ĐBSCL đã ghi nhận bước phục hồi mạnh mẽ: tổng số khách đến ĐBSCL đạt 63.353.799 lượt (tăng 21,5% so với cùng kỳ 2024); trong đó khách quốc tế đạt 3.662.101 lượt (tăng 30,3%), khách nội địa đạt 59.691.697 lượt (tăng 21,059%). Tổng thu từ hoạt động du lịch đạt mức 80.821,746 tỷ đồng, tăng trưởng 29,8% so với năm 2024. Ngành du lịch các tỉnh, thành trong vùng đã tận dụng nguồn tài nguyên bản địa để phát triển nhiều sản phẩm đa dạng như: du lịch sinh thái sông nước, du lịch nông nghiệp, du lịch biển đảo..., mang lại sức hút lớn cho cả du khách trong và ngoài nước.
Mặc dù đạt được những kết quả khả quan, song du lịch ĐBSCL vẫn đối mặt với nhiều thách thức về tính liên kết vùng, sự trùng lặp sản phẩm và áp lực bảo tồn cảnh quan trước biến đổi khí hậu. Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay là thực sự cần thiết, tạo cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp phát triển bền vững.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tổng quan nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Sự hấp dẫn điểm đến được đánh giá qua nhiều khía cạnh và được xem như một khái niệm đa hướng (Zhang và cộng sự, 2014). Sự hấp dẫn của điểm đến bao gồm tất cả những khả năng mà một điểm đến mang lại sự hài lòng cho du khách (Hu và Ritchie, 1993). Theo Mohammed và cộng sự (2018), các giá trị tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn của điểm đến là các thành phần quan trọng, hình thành sự hấp dẫn của điểm đến du lịch. Song song đó, các dịch vụ hỗ trợ, các hoạt động vui chơi giải trí cũng đóng góp không nhỏ vào sự hấp dẫn của điểm đến theo cảm nhận của du khách (Hai và cộng sự, 2023).
Môi trường tự nhiên là nhân tố tạo nên mức độ hấp dẫn của điểm đến, cảnh quan thiên nhiên càng đẹp, càng hấp hẫn, nhiều điểm mới lạ sẽ làm tăng nhu cầu khám phá, trải nghiệm của du khách (Seyidov và Adomaitienė, 2016). Trong lĩnh vực du lịch, một số nhà nghiên cứu đã chứng minh được sự tương quan tích cực giữa môi trường tự nhiên và sự hấp dẫn của điểm đến (Son và cộng sự, 2023). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H1: Môi trường tự nhiên ảnh hưởng tích cực đến Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL.
Sự trải nghiệm ẩm thực là một trong những chức năng trọng tâm của ngành công nghiệp du lịch (Hall và Sharples, 2003). Ẩm thực địa phương là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao sự hấp dẫn của một điểm đến du lịch (Dung và cộng sự, 2023). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh ẩm thực địa phương tác động tích cực đến sự hấp dẫn của điểm đến du lịch (Phung và cộng sự, 2024). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H2: Ẩm thực địa phương ảnh hưởng tích cực đến Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL.
Các phong tục tập quán, lễ hội địa phương, làng nghề truyền thống là những đặc trưng văn hóa bản địa được du khách quan tâm và rất thích tham gia (Yu và Littrell, 2003). Văn hóa bản địa là nhân tố quan trọng, tác động tích cực đến sự hấp dẫn của điểm đến du lịch (Hai và cộng sự, 2023, Son và cộng sự, 2023). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H3: Văn hóa bản địa ảnh hưởng tích cực đến Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL.
Hoạt động giải trí bao gồm các hoạt động ngoài trời, các hoạt động mạo hiểm, mua sắm cũng như cuộc sống về đêm (Chang và Gibson, 2011). Sự đa dạng các hoạt động vui chơi giải trí tại điểm đến du lịch sẽ tạo nên sức hút của điểm đến đối với du khách (Yoon và Uysal, 2005). Theo Dung và cộng sự (2023), hoạt động vui chơi giải trí tác động tích cực đến sức hấp dẫn của điểm đến du lịch. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H4: Vui chơi giải trí ảnh hưởng tích cực đến Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL.
Cơ sở hạ tầng là hệ thống thông tin liên lạc và tiện ích công cộng, giao thông vận tải và dịch vụ phục vụ khách du lịch (Piewdang và cộng sự, 2013). Cơ sở hạ tầng hoàn thiện, thuận lợi cho du khách tiếp cận điểm đến sẽ góp phần hình thành sự hấp dẫn của điểm đến du lịch (Seyidov và Adomaitienė, 2016). Theo Hai và cộng sự (2023), cơ sở hạ tầng là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến sự hấp dẫn của điểm đến du lịch. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H5: Cơ sở hạ tầng ảnh hưởng tích cực đến Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL.
Mức giá dịch vụ và chi phí thấp ảnh hưởng tích cực đến nhu cầu và quyết định lựa chọn điểm đến (Chi và Qu, 2008). Giá cả cảm nhận là nhân tố quan trọng tạo nên sức hút của điểm đến du lịch (Dung và cộng sự, 2023). Trong lĩnh vực du lịch, một số nghiên cứu đã tìm thấy sự tương quan tích cực giữa giá cả cảm nhận và sự hấp dẫn của điểm đến (Seyidov và Adomaitienė, 2016; Hai và cộng sự, 2023). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H6: Giá cả cảm nhận ảnh hưởng tích cực đến Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL.
Mô hình nghiên cứu
Dựa vào các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hấp dẫn điểm đến du lịch ĐBSCL được thiết lập như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phương pháp thảo luận nhóm với 10 thành viên (6 chuyên gia nghiên cứu về du lịch và 4 nhà quản trị doanh nghiệp lữ hành). Kết quả thảo luận nhóm đã xác định được 7 thang đo với tổng cộng 26 biến quan sát (Bảng 1).
Bảng 1: Cơ sở hình thành thang đo nghiên cứu
| Thang đo | Ký hiệu | Số quan sát | Nguồn tham khảo |
|---|---|---|---|
| Môi trường tự nhiên | MT | 4 | Son và cộng sự (2023) |
| Ẩm thực địa phương | AT | 4 | Hai và cộng sự (2023) |
| Văn hóa bản địa | VH | 4 | Son và cộng sự (2023) |
| Vui chơi giải trí | GT | 4 | Hai và cộng sự (2023) |
| Cơ sở hạ tầng | HT | 3 | Dung và cộng sự (2023) |
| Giá cả cảm nhận | GC | 3 | Son và cộng sự (2023) |
| Sự hấp dẫn điểm đến | HD | 4 | Hai và cộng sự (2023) |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua khảo sát trực tiếp du khách bằng bảng câu hỏi chi tiết. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại các điểm du lịch tiêu biểu của vùng ĐBSCL bao gồm: điểm du lịch Bến Ninh Kiều, điểm du lịch Cù Lao Thới Sơn, Vườn quốc gia Tràm Chim và Khu du lịch Mũi Cà Mau.
Sau khi làm sạch dữ liệu và loại bỏ các phiếu không hợp lệ, cỡ mẫu chính thức đạt được là 302 du khách. Về đặc điểm nhân khẩu học: du khách quốc tế chiếm 32,45%, du khách nội địa chiếm 67,55%. Về giới tính, nam giới chiếm 52,32% và nữ giới chiếm 47,68%. Nhóm tuổi từ 31-45 chiếm tỷ lệ cao nhất (34,44%), tiếp theo là từ 18-30 tuổi (28,48%), từ 46-60 tuổi (25,50%) và trên 60 tuổi (11,59%).
Dữ liệu thu thập được phân tích qua các bước: Đánh giá độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha; phân tích nhân tố khám phá (EFA); phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để đánh giá độ phù hợp của mô hình và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Độ tin cậy và giá trị hội tụ của thang đo
Kết quả kiểm định ở Bảng 2 cho thấy, tất cả thang đo nghiên cứu đều đạt độ tin cậy nhất quán nội bộ rất tốt với hệ số Cronbach’s Alpha > 0,8 (riêng thang đo Cơ sở hạ tầng đạt 0,781 - hoàn toàn nằm trong ngưỡng chấp nhận). Đồng thời, kết quả phân tích EFA chỉ ra hệ số tải nhân tố (Factor Loading) của các biến quan sát đều dao động từ 0,652 đến 0,885 (đạt yêu cầu > 0,5). Kết quả phân tích EFA trích xuất đúng 7 nhân tố từ 26 biến quan sát ban đầu và không xảy ra hiện tượng xáo trộn biến hay chồng lấn giữa các thành phần.
Bảng 2: Độ tin cậy và giá trị hội tụ của thang đo nghiên cứu
| Thang đo | Số biến quan sát | Cronbach’s Alpha | Hệ số tải nhân tố |
|---|---|---|---|
| Môi trường tự nhiên | 4 | 0,863 | 0,687-0,832 |
| Ẩm thực địa phương | 4 | 0,884 | 0,735-0,885 |
| Văn hóa bản địa | 4 | 0,876 | 0,687-0,830 |
| Vui chơi giải trí | 4 | 0,886 | 0,789-0,876 |
| Cơ sở hạ tầng | 3 | 0,781 | 0,652-0,792 |
| Giá cả cảm nhận | 3 | 0,819 | 0,725-0,822 |
| Sự hấp dẫn điểm đến | 4 | 0,884 | 0,782-0,840 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu, 2025
Kết quả kiểm định độ tin cậy tổng hợp (CR) và phương sai trích (AVE) của tất cả thang đo đều thỏa điều kiện. Đồng thời, kết quả kiểm định cho thấy tương quan giữa các cấu trúc khái niệm đạt được giá trị phân biệt. Như vậy, tất cả thang đo nghiên cứu đều đạt yêu cầu, phù hợp để kiểm định giả thuyết nghiên cứu.
Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)
Kết quả phân tích SEM cho thấy mô hình nghiên cứu đề xuất đạt độ tương thích cao với dữ liệu thị trường thực tế thông qua các chỉ số đo lường: Chi-square/df = 1,729 (≤ 3,0); TLI = 0,948 (≥ 0,9); CFI = 0,956 (≥ 0,9); RMSEA = 0,049 (≤ 0,08). Dựa vào kết quả ở Bảng 3, tất cả các giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận ở mức ý nghĩa 1%. Như vậy, Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL chịu sự ảnh hưởng bởi 6 nhân tố, bao gồm: Môi trường tự nhiên, Ẩm thực địa phương, Văn hóa bản địa, Vui chơi giải trí, Cơ sở hạ tầng và Giá cả cảm nhận. Trong đó, Môi trường tự nhiên là nhân tố quan trọng nhất, ảnh hưởng mạnh nhất đến Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL.
Bảng 3: Kết quả ước lượng các mối quan hệ trong mô hình SEM
| Giả thuyết | Mối quan hệ | Hệ số chuẩn hóa | P-value | Kết quả |
| H1 | MT → HL | 0,305 | 0,000 | Chấp nhận |
| H2 | AT → HL | 0,267 | 0,000 | Chấp nhận |
| H3 | VH → HL | 0,184 | 0,004 | Chấp nhận |
| H4 | GT → HL | 0,170 | 0,001 | Chấp nhận |
| H5 | HT → HL | 0,239 | 0,004 | Chấp nhận |
| H6 | GC → HL | 0,219 | 0,000 | Chấp nhận |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu, 2025
Thảo luận kết quả
Kết quả thực chứng đã làm rõ vai trò và mức độ tác động của từng nhân tố đến sự hấp dẫn của điểm đến ĐBSCL:
Môi trường tự nhiên (MT) với hệ số beta = 0,305, là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Son và cộng sự (2023). Đặc thù khí hậu ôn hòa, hệ thống sông ngòi chằng chịt, các khu bảo tồn thiên nhiên hoang sơ chính là “linh hồn” tạo nên sức hút đối với du khách khi nghĩ về ĐBSCL.
Ẩm thực địa phương (AT) với beta = 0,267 đứng thứ 2 về mức độ tác động. Thực tế cho thấy, vùng ĐBSCL sở hữu rất nhiều món ăn đặc trưng, với hương vị rất độc đáo và chất lượng ẩm thực luôn được đảm bảo. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng của ẩm thực địa phương đối với hình ảnh điểm đến du lịch (Phung và cộng sự, 2024).
Cơ sở hạ tầng (HT) với beta = 0,239 là nhân tố ảnh hưởng thứ 3: Trong thập niên gần đây, hạ tầng du lịch ĐBSCL đã được đầu tư và hoàn thiện, đặc biệt là Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ, hệ thống bến cảng và tàu cao tốc…, đã rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng tính tiện lợi cho hành trình của du khách. Điều này hoàn toàn phù hợp với phát hiện của Hai và cộng sự (2023).
Giá cả cảm nhận (GC) với beta = 0,219 là nhân tố ảnh hưởng tiếp theo. Đây là nhân tố luôn ảnh hưởng đến sự lựa chọn một điểm đến của khách du lịch (Dung và cộng sự, 2023). Kết quả nghiên cứu đã khẳng định giá cả cảm nhận là nhân tố ảnh hưởng tích cực, góp phần gia tăng sự hấp dẫn của điểm đến du lịch (Seyidov và Adomaitienė, 2016).
Văn hóa bản địa (VH) với beta = 0,184 cũng ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL. Vùng ĐBSCL với nhiều di tích lịch sử và lễ hội dân gian truyền thống, là những nét đặc trưng văn hóa hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước (Dung và cộng sự, 2023).
Vui chơi giải trí (GT) với beta = 0,170 là nhân tố ảnh hưởng thấp nhất đến Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL. Tuy nhiên, các hoạt động trải nghiệm đêm, mua sắm sản phẩm lưu niệm, đặc sản địa phương vẫn đóng vai trò là những mảnh ghép không thể thiếu tạo nên một hành trình trải nghiệm trọn vẹn và đa sắc màu cho du khách (Dung và cộng sự, 2023).
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Kết luận
Nghiên cứu đã hoàn thành mục tiêu xác định và đo lường ảnh hưởng của 6 nhân tố đến sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL dưới góc nhìn của du khách. Với mẫu khảo sát thực tế gồm 302 đáp viên, các phân tích định lượng (Cronbach's Alpha, EFA, CFA, SEM) đã chứng minh tất cả các giả thuyết đều được chấp nhận. Trong đó, Môi trường tự nhiên là nhân tố cốt lõi, giữ vị trí quyết định cao nhất đến sức hút của điểm đến du lịch ĐBSCL.
Hàm ý quản trị
Trước hết, các địa phương vùng ĐBSCL cần ưu tiên bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, đặc biệt là cảnh quan sông nước và kiểm soát tốt vấn đề ô nhiễm môi trường. Tiếp theo, cần chuẩn hóa chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và phát huy giá trị câu chuyện văn hóa ẩm thực; phát triển tour trải nghiệm món ăn, chợ nổi và đặc sản vùng. Đồng thời, đầu tư giao thông, bến tàu, biển chỉ dẫn, tiện ích số; ngăn ngừa tình trạng nâng giá và xây dựng gói dịch vụ phù hợp với từng phân khúc thị trường khách du lịch. Các địa phương cần bảo tồn lễ hội, làng nghề, nghệ thuật dân gian gắn với sinh kế cộng đồng. Cuối cùng, đa dạng hóa hoạt động giải trí, mua sắm, kinh tế đêm và tour liên tỉnh để kéo dài thời gian lưu trú, tăng chi tiêu và nâng cao sức hấp dẫn điểm đến.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Mặc dù đạt được những đóng góp nhất định về mặt lý luận lẫn thực tiễn, song nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế: Phương pháp lấy mẫu thuận tiện chưa đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho toàn bộ phân khúc du khách đến ĐBSCL; Nghiên cứu chưa kiểm định sự ảnh hưởng của các biến kiểm sát (đặc điểm nhân khẩu học của du khách) đến sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL. Các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng quy mô cỡ mẫu nghiên cứu và sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất, đồng thời kiểm định vai trò của các biến kiểm soát nhằm tăng khả năng giải thích sự hấp dẫn của điểm đến du lịch ĐBSCL.
Tài liệu tham khảo:
1. Andersson, T. D., & Getz, D. (2009). Tourism as a mixed industry: Differences between private, public and not-for-profit festivals. Tourism management, 30(6), 847-856.
2. Chang, S., & Gibson, H. J. (2011). Physically active leisure and tourism connection: Leisure involvement and choice of tourism activities among paddlers. Leisure Sciences, 33(2), 162-181.
3. Chi, C. G. Q., & Qu, H. (2008). Examining the structural relationships of destination image, tourist satisfaction and destination loyalty: An integrated approach. Tourism management, 29(4), 624-636.
4. Dung, L. N. T., Loi, N. A., Phat, S. N., & Nguyen, Q. N. (2023). Factors Impacting Destination Attractiveness of the Mekong Delta, Vietnam. Journal of Law and Sustainable Development, 11(11), 1-14.
5. Krešić, D., & Prebežac, D. (2011). Index of destination attractiveness as a tool for destination attractiveness assessment. Tourism: An International Interdisciplinary Journal, 59(4), 497-517.
6. Hai, L. T. D., Nguyen, Q. N., & Huyen, K. N. (2023). The attraction of Can Tho City, Vietnam as a tourist destination. Geo Journal of Tourism and Geosites, 50(4), 1458-1465.
7. Hall, C. M., & Sharples, L. (2003). The consumption of experiences or the experience of consumption? An introduction to the tourism of taste in Food tourism around the world. Development, Management And Markets. Oxford: Butterworth-Heinemann.
8. Hu, Y., & Ritchie, J. B. (1993). Measuring destination attractiveness: A contextual approach. Journal of travel research, 32(2), 25-34.
9. Mohammed, N. A. D. Z. I. R. A. H., Aziz, Y. A., Awang, K. W., & Samdin, Z. A. I. T. O. N. (2018). Influence of destination attractiveness on place satisfaction and environmentally responsible behavior in Marine Parks. Journal of Sustainability Science and Management, 5, 52-67.
10. Nadzirah, M., Yuhanis, A. A., Khairil, W. A., & Zaiton, S. (2020). Influence of destination attractiveness on place satisfaction and environmentally responsible behaviour in Marine Parks. Journal of Sustainability Science and Management, 15(1), 52-67.
11. Phung, P. V., Tri, N. G., & Nguyen, Q. N. (2024). Why are international tourists satisfied with ecotourism in the Mekong Delta, Vietnam?. Geo Journal of Tourism and Geosites, 53(2), 547-553.
12. Piewdang, S., Mekkamol, P. & Untachai, S. (2013). Measuring Spiritual Tourism Management in Community: A Case Study of Sri Chom Phu Ongtu Temple, Thabo district, Nongkhai province, Thailand. Procedia-Social and Behavioral Sciences, 88, 96-107.
13. Seyidov, J., & Adomaitienė, R. (2016). Factors influencing local tourists’ decision-making on choosing a destination: a case of Azerbaijan. Ekonomika, 95(3), 112-127.
14. Son, N. T., Nguyen, Q. N., & Hoang, T. H. L. (2023). Factors influencing tourist satisfaction with agritourism in the Mekong Delta, Vietnam. GeoJournal of Tourism & Geosites, 49(3), 998-1005.
15. Yoon, Y., & Uysal, M. (2005). An examination of the effects of motivation and satisfaction on destination loyalty: a structural model. Tourism management, 26(1), 45-56.
16. Yu, H., & Littrell, M. A. (2003). Product and process orientations to tourism shopping. Journal of Travel Research, 42(2), 140-150.
17. Zhang, H., Fu, X., Cai, L. A., & Lu, L. (2014). Destination image and tourist loyalty: A meta-analysis. Tourism management, 40, 213-223.
| Ngày nhận bài: 17/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/6/2026; Ngày duyệt đăng: 18/7/2026 |
Các tin khác
Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing
