Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên các phương tiện truyền thông xã hội đối với các điểm đến du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu - Trao đổi 10:38 | 30/12/2025
Thông qua kết quả khảo sát đối với 200 du khách tại các điểm đến du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long, nghiên cứu nhằm xác định và kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên các phương tiện truyền thông xã hội đối với các điểm đến du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long.

TS. Huỳnh Quốc Tuấn

Phó Trưởng Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Đồng Tháp

Email: hqtuan@dthu.edu.vn

Tóm tắt

Thông qua kết quả khảo sát đối với 200 du khách tại các điểm đến du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long, nghiên cứu nhằm xác định và kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên các phương tiện truyền thông xã hội đối với các điểm đến du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 6 yếu tố: Niềm vui chia sẻ thông tin; Sự hài lòng chuyến đi; Động cơ vị tha; Sự hoàn thiện bản thân và tự hiện thực hóa; Động cơ bảo mật và quyền riêng tư; Kinh nghiệm với phương tiện truyền thông xã hội đều có ảnh hưởng tích cực đến Hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên các phương tiện truyền thông xã hội. Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất các hàm ý để thúc đẩy hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên các phương tiện truyền thông xã hội đối với các điểm đến du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Từ khóa: Hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch, phương tiện truyền thông xã hội, Đồng bằng sông Cửu Long

Summary

Based on a survey of 200 tourists at destinations in the Mekong Delta, this study aims to identify and empirically examine the factors influencing tourists’ experience-sharing behavior on social media for destinations in the Mekong Delta. The research findings indicate that all six factors: enjoyment of information sharing, trip satisfaction, altruistic motivation, self-enhancement and self-actualization, privacy and security motivation, and experience with social media, have positive effects on tourists’ experience-sharing behavior on social media. Based on these results, the study proposes managerial implications to encourage tourists to share their travel experiences on social media for destinations in the Mekong Delta.

Keywords: Travel experience-sharing behavior, social media, Mekong Delta

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong kỷ nguyên truyền thông xã hội, sự phát triển du lịch đang gắn chặt với truyền miệng điện tử (eWOM), đặc biệt là nội dung do du khách tạo ra (UGC). Nhiều nghiên cứu quốc tế như Munar và Jacobsen (2014), Filieri (2015) hay Wang và cộng sự (2016) đã chứng minh rằng động cơ cá nhân và kinh nghiệm số có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi chia sẻ trải nghiệm. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu gần đây cho thấy mạng xã hội là kênh quan trọng giúp lan tỏa hình ảnh miền Tây sông nước tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng các yếu tố thúc đẩy hành vi chia sẻ của du khách vẫn chưa được phân tích một cách toàn diện. Khoảng trống nghiên cứu xuất hiện khi chưa có công trình nào đánh giá đồng thời các động cơ tâm lý, sự hài lòng và kinh nghiệm số của du khách trong bối cảnh Đồng bằng sông Cửu Long. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xây dựng và kiểm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên mạng xã hội, góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho lĩnh vực marketing du lịch và hỗ trợ điểm đến xây dựng chiến lược truyền thông hiệu quả.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Niềm vui chia sẻ tri thức (Information Sharing Enjoyment): thể hiện cảm giác tích cực, hứng thú và sự thỏa mãn cá nhân khi người dùng tạo, đăng tải hoặc lan truyền nội dung trên các nền tảng số. Theo Lin và cộng sự. (2017), niềm vui chia sẻ tri thức là yếu tố làm gia tăng sự tự nguyện trong các hành vi chia sẻ trực tuyến vì nó mang lại cảm giác thoải mái, hứng thú và niềm vui nội tại. Trong bối cảnh du lịch, niềm vui chia sẻ xuất hiện khi du khách muốn thuật lại hành trình, khoảnh khắc đẹp hoặc chia sẻ những kinh nghiệm đáng nhớ (Kim và Lee, 2020). Đây là động cơ nội sinh giúp du khách duy trì việc cập nhật nội dung mà không cảm thấy nghĩa vụ hay áp lực.

Sự hài lòng chuyến đi (Tourist Satisfaction): Sự hài lòng được hiểu là mức độ du khách nhận thấy trải nghiệm thực tế phù hợp hoặc vượt kỳ vọng ban đầu (Oliver, 1997). Trong bối cảnh du lịch, sự hài lòng thể hiện sự đánh giá tổng thể về chất lượng dịch vụ, cảnh quan, con người và trải nghiệm chung tại điểm đến (Chen và Tsai, 2007). Du khách hài lòng thường có xu hướng lan tỏa cảm xúc tích cực và chia sẻ câu chuyện du lịch trên các nền tảng mạng xã hội (Bigné và cộng sự, 2019). Sự hài lòng do đó được xem là tiền đề quan trọng thúc đẩy hành vi chia sẻ trải nghiệm.

Động cơ vị tha (Altruistic Motivation): Động cơ vị tha đề cập đến mong muốn giúp đỡ người khác bằng cách cung cấp thông tin hữu ích, cảnh báo rủi ro hoặc chia sẻ kinh nghiệm thực tế (Hennig-Thurau & cộng sự., 2004). Trong môi trường du lịch, động cơ vị tha khiến du khách chia sẻ để hỗ trợ cộng đồng: giúp người khác có lựa chọn phù hợp, chuẩn bị tốt hơn hoặc tránh phải trải qua những vấn đề mà họ từng gặp (Vuylsteke và cộng sự, 2010). Đây là động lực xã hội tích cực, thường xuất hiện trong hành vi truyền miệng và truyền miệng điện tử.

Sự hoàn thiện bản thân và tự hiện thực hóa (Self-actualization and Self-enhancement): Dựa trên tháp nhu cầu của Maslow (1954), tự hiện thực hóa là nhu cầu phát triển bản thân, thể hiện bản sắc và đạt được giá trị cá nhân. Trong môi trường số, người dùng thể hiện bản thân bằng cách cho thấy phong cách sống, quan điểm, sự hiểu biết hoặc khả năng khám phá (Schau và Gilly, 2003). Trong du lịch, chia sẻ hình ảnh và trải nghiệm là cách du khách thể hiện trình độ thẩm mỹ, gu du lịch và cá tính. Vì vậy, hành vi chia sẻ trở thành phương thức tự khẳng định bản thân (Kim và cộng sự, 2021).

Động cơ bảo mật và quyền riêng tư (Privacy and Security Concern): Quan ngại quyền riêng tư thể hiện mức độ lo ngại về rủi ro khi chia sẻ thông tin cá nhân, vị trí hoặc hoạt động trên mạng xã hội (Dinev và Hart, 2006). Đối với du khách, việc công khai hình ảnh, lịch trình, địa điểm hiện tại đôi khi gây ra cảm giác thiếu an toàn hoặc bị theo dõi (Bélanger và Crossler, 2011). Khi mức độ lo ngại cao, hành vi chia sẻ thường bị hạn chế. Do đó, đây là yếu tố có khả năng tác động tiêu cực đến hành vi chia sẻ trải nghiệm.

Kinh nghiệm với phương tiện truyền thông xã hội (Social Media Experience): Kinh nghiệm với mạng xã hội phản ánh mức độ thành thạo trong việc sử dụng công cụ đăng tải, chỉnh sửa nội dung, tương tác hoặc quản lý thông tin trực tuyến (Quan-Haase và Young, 2010). Người dùng có kinh nghiệm cao có xu hướng chia sẻ thường xuyên hơn do sự tự tin, cảm giác kiểm soát và khả năng tạo ra nội dung hấp dẫn (Zhang và cộng sự, 2017). Trong du lịch, người có kỹ năng truyền thông số sẽ dễ dàng sản xuất hình ảnh, video, bài viết hơn so với người dùng thiếu kinh nghiệm.

Hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch (Tourism Experience Sharing Behavior): Hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch là mức độ du khách đăng tải hình ảnh, video, đánh giá, cảm nhận hoặc câu chuyện liên quan đến chuyến đi của họ lên các nền tảng mạng xã hội (Munar và Jacobsen, 2014). Đây là một dạng e-WOM, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức và quyết định của những người dùng khác. Hành vi này bao gồm cả chia sẻ chủ động (tự nguyện đăng tải) và chia sẻ phản hồi (đánh giá, bình luận theo yêu cầu hoặc theo tình huống).

Giả thuyết nghiên cứu

Theo Thuyết động cơ nội tại (Deci và Ryan, 1985), con người duy trì hành vi mang lại cảm xúc tích cực. Trong du lịch, việc chia sẻ trải nghiệm đem lại hứng thú nên làm tăng hành vi đăng tải. Các nghiên cứu của Munar và Jacobsen (2014), Lin và cộng sự (2017) và Kim và Lee (2020) đều xác nhận, niềm vui là động lực chính thúc đẩy chia sẻ nội dung trên mạng xã hội. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất như sau:

H1: Niềm vui chia sẻ thông tin ảnh hưởng tích cực đến Hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch.

Theo Thuyết cảm xúc tích cực (Fredrickson, 2001), cảm xúc hài lòng thúc đẩy hành động lan tỏa. Du khách thỏa mãn thường muốn chia sẻ những trải nghiệm tốt đẹp. Điều này được chứng minh bởi Chen và Tsai (2007), Bigné và cộng sự (2019) và Kim và Lee (2020). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất như sau:

H2: Sự hài lòng chuyến đi ảnh hưởng tích cực đến Hành vi chia sẻ trải nghiệm.

Dựa trên Thuyết trao đổi xã hội (Blau, 1964), con người chia sẻ thông tin để mang lại lợi ích cho cộng đồng. Nhiều nghiên cứu như Hennig-Thurau và cộng sự (2004), Vuylsteke và cộng sự. (2010) và Munar và Jacobsen (2014) cho thấy vị tha là động lực mạnh mẽ của hành vi chia sẻ trực tuyến. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất như sau:

H3: Động cơ vị tha ảnh hưởng tích cực đến Hành vi chia sẻ trải nghiệm.

Maslow (1954) và Goffman (1959) cho rằng cá nhân có nhu cầu thể hiện và khẳng định bản thân. Mạng xã hội giúp du khách trình bày hình ảnh cá nhân thông qua việc chia sẻ trải nghiệm. Điều này được ủng hộ bởi Schau và Gilly (2003), Wang và cộng sự. (2019) và Kim và cộng sự. (2021). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất như sau:

H4: Hoàn thiện bản thân/tự hiện thực hóa ảnh hưởng tích cực đến Hành vi chia sẻ trải nghiệm.

Theo Mô hình Privacy Calculus (Dinev và Hart, 2006), lo ngại bảo mật làm giảm ý định chia sẻ thông tin. Bélanger và Crossler (2011), Dienlin và Trepte (2015) và Zhang và cộng sự (2017) đều chứng minh rằng, lo ngại quyền riêng tư làm giảm mức độ chia sẻ nội dung trực tuyến. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất như sau:

H5: Động cơ bảo mật và quyền riêng tư ảnh hưởng tiêu cực đến Hành vi chia sẻ trải nghiệm.

Theo Lý thuyết hành vi dựa trên kỹ năng (Ajzen, 1991), cá nhân có kỹ năng cao dễ thực hiện hành vi hơn. Người thành thạo mạng xã hội có xu hướng chia sẻ nội dung thường xuyên hơn. Điều này được hỗ trợ bởi Quan-Haase và Young (2010), Zhang và cộng sự (2017) và Wang và cộng sự. (2020). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất như sau:

H6: Kinh nghiệm với phương tiện truyền thông xã hội ảnh hưởng tích cực đến Hành vi chia sẻ trải nghiệm.

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

Từ các giả thuyết nêu trên, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên các phương tiện truyền thông xã hội đối với các điểm đến du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn: Tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu là 250, phương pháp thu thập thông tin được sử dụng là phỏng vấn thông qua gửi link khảo sát đến du khách tại các điểm đến du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long. Thời gian thực hiện khảo sát từ ngày 10/10/2025 đến ngày 25/10/2025. Với tổng số phản hồi là 232, tuy nhiên số phản hồi hợp lệ là 200. Các tập biến quan sát (23 phát biểu) cụ thể đo lường trên thang đo Likert 5 điểm thay đổi từ 1- Hoàn toàn không đồng ý; đến 5- Hoàn toàn đồng ý.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kiểm định mô hình đo lường

Bảng 1 cho thấy, hệ số tải nhân tố của các biến quan sát đều > 0,7, cho thấy thỏa mãn điều kiện hội tụ. Ngoài ra, độ tin cậy tổng hợp (CR) của các thang đo dao động ở mức từ 0,851 đến 0,923, mức trung bình phương sai rút trích (AVE) của các thang đo đều đạt điểm cắt, cho thấy độ tin cậy thỏa đáng với khoản từ 0,656 đến 0,801. Kết quả chứng minh được rằng, việc lựa chọn mô hình đo lường là phù hợp.

Bảng 1: Kết quả độ tin cậy và giá trị hội tụ của thang đo

Thang đo

(Constructs)

Biến quan sát (Items)

Hệ số tải nhân tố

(Factor Loading)

Độ tin cậy tổng hợp (CR)

Phương sai trích trung bình (AVE)

Niềm vui chia sẻ thông tin (NVCS)

04

0,717-0,825

0,863

0,611

Sự hài lòng chuyến đi (SHL)

03

0,819-0,878

0,881

0,712

Động cơ vị tha (DCVT)

03

0,783-0,830

0,851

0,656

Sự hoàn thiện bản thân và tự hiện thực hóa (HTBT)

03

0,886-0,900

0,923

0,801

Động cơ bảo mật và quyền riêng tư (DCBM)

03

0,802-0,872

0,867

0,685

Kinh nghiệm với phương tiện truyền thông xã hội (KN)

03

0,827-0,869

0,886

0,721

Hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch (HVCS)

04

0,758-0,890

0,886

0,661

Nguồn: Kết quả từ phân tích SmartPLS, dữ liệu 2025

Ngoài ra, để tiếp tục phân tích độ phân biệt, nghiên cứu tiến hành so sánh mối quan hệ giữa các nhân tố với phương sai trích trung bình (AVE). Kết quả phân tích cho thấy, căn bậc hai AVE của mỗi nhân tố đều lớn hơn hệ số liên hệ giữa nhân tố đó với các nhân tố khác. Hay nói cách khác, hệ số tải nhân tố của từng chỉ báo đều lớn nhất trong ma trận hệ số tương quan chéo và có ý nghĩa thống kê với p-value = 0,000. Như vậy, mẫu nghiên cứu đảm bảo độ phân biệt của các nhân tố đo lường. Ngoài ra, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến đều cho giá trị VIF ˂ 5 với giá trị lớn nhất là 1,477, nên mô hình không vi phạm.

Kiểm định mô hình cấu trúc

Nhìn vào Hình 2 và Bảng 2 ta thấy, bằng việc sử dụng chức năng Bootstrapping với 1000 lần lặp lại để kiểm tra mô hình cấu trúc. Kết quả cho thấy, cả 6 yếu tố: (1) Niềm vui chia sẻ thông tin (NVCS); (2) Sự hài lòng chuyến đi (SHL); (3) Động cơ vị tha (DCVT); (4) Sự hoàn thiện bản thân và tự hiện thực hóa (HTBT); (5) Động cơ bảo mật và quyền riêng tư (DCBM); (6) Kinh nghiệm với phương tiện truyền thông xã hội (KN) đều có ảnh hưởng tích cực đến hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên các phương tiện truyền thông xã hội (β > 0 và P-value < 0,05). Do đó, các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5, và H6 đều được chấp nhận (P-value < 0,05).

Hình 2: Kết quả mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên các phương tiện truyền thông xã hội đối với các điểm đến du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn: Kết quả từ phân tích SmartPLS, dữ liệu 2025

Bảng 2: Phân tích mô hình cấu trúc

Thang đo

phụ thuộc

Thang đo

độc lập

Mức độ

tác động

Kiểm định t

Mức ý nghĩa thống kê

Giả thuyết

Kiểm định giả thuyết

Hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên các phương tiện truyền thông xã hội (HVCS)

R2 = 0,629

ß NVCS

0,288

5,533

0,000

H1

Chấp nhận

ß SHL

0,129

2,172

0,030

H2

Chấp nhận

ß DCVT

0,341

4,213

0,000

H3

Chấp nhận

ß HTBT

0,144

2,637

0,008

H4

Chấp nhận

ß DCBM

0,193

4,213

0,000

H5

Chấp nhận

ß KN

0,129

2,049

0,041

H6

Chấp nhận

Nguồn: Tổng hợp từ phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính, dữ liệu năm 2025

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 6 yếu tố: Niềm vui chia sẻ thông tin; Sự hài lòng chuyến đi; Động cơ vị tha; Sự hoàn thiện bản thân và tự hiện thực hóa; Động cơ bảo mật và quyền riêng tư; Kinh nghiệm với phương tiện truyền thông xã hội đều có ảnh hưởng tích cực đến Hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Hàm ý quản trị

Đầu tiên, để thúc đẩy hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên mạng xã hội, các điểm đến cần gia tăng niềm vui chia sẻ thông tin bằng cách thiết kế các trải nghiệm độc đáo, tạo không gian “đáng chụp - đáng khoe”, đồng thời cung cấp tiện ích hỗ trợ như Wi-Fi mạnh, mã QR chia sẻ nhanh và khu vực sáng tạo nội dung. Các chiến dịch truyền thông theo dạng thử thách hoặc mini contest giúp tăng hứng thú khi đăng tải. Bên cạnh đó, việc nâng cao sự hài lòng chuyến đi, đảm bảo quyền riêng tư và hướng dẫn kỹ năng sử dụng mạng xã hội sẽ giúp du khách cảm thấy an tâm, hứng khởi và chủ động hơn trong việc chia sẻ trải nghiệm.

Thứ hai, để nâng cao sự hài lòng, qua đó thúc đẩy hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trên mạng xã hội, các điểm đến cần tập trung cải thiện chất lượng dịch vụ cốt lõi như cơ sở hạ tầng, vệ sinh, an toàn và thái độ phục vụ. Bên cạnh đó, việc cung cấp thông tin rõ ràng, giá cả minh bạch và trải nghiệm đồng nhất giữa kỳ vọng và thực tế sẽ giúp du khách cảm thấy tin tưởng và hài lòng hơn. Khi cảm xúc tích cực được củng cố, du khách có xu hướng chia sẻ trải nghiệm như một cách lan tỏa giá trị và ghi dấu kỷ niệm cá nhân.

Thứ ba, để thúc đẩy hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch dựa trên động cơ vị tha, các điểm đến và tổ chức du lịch có thể khuyến khích du khách lan tỏa thông tin hữu ích nhằm hỗ trợ cộng đồng du lịch. Việc xây dựng các chiến dịch “du khách giúp du khách”, tạo không gian chia sẻ mẹo hay, đánh giá chân thực hoặc bảng xếp hạng đóng góp tích cực sẽ làm du khách cảm thấy việc chia sẻ của mình mang lại giá trị cho người khác. Khi được công nhận là người cung cấp thông tin đáng tin cậy, du khách càng có động lực đăng tải trải nghiệm nhằm hỗ trợ cộng đồng và nâng cao chất lượng thông tin du lịch trên mạng xã hội.

Thứ tư, để khai thác sự hoàn thiện bản thân và nhu cầu tự hiện thực hóa như một động lực thúc đẩy hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch, các điểm đến và doanh nghiệp du lịch có thể tạo ra những không gian và hoạt động giúp du khách khẳng định giá trị cá nhân. Việc thiết kế các điểm “check-in” mang tính biểu tượng, gợi cảm hứng sáng tạo hoặc tổ chức các hoạt động trải nghiệm độc đáo sẽ giúp du khách cảm thấy bản thân đang chinh phục, khám phá và thể hiện phong cách riêng. Đồng thời, các chiến dịch tôn vinh “người kể chuyện du lịch”, hoặc các cuộc thi nội dung sáng tạo, sẽ giúp du khách nhìn thấy ý nghĩa của việc chia sẻ như một cách ghi dấu sự trưởng thành, thể hiện năng lực cá nhân và lan tỏa năng lượng tích cực lên cộng đồng mạng xã hội.

Thứ năm, để thúc đẩy hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch trong khi vẫn đáp ứng động cơ bảo mật và quyền riêng tư, các điểm đến và doanh nghiệp du lịch cần tạo môi trường chia sẻ an toàn và minh bạch cho du khách. Các nền tảng khuyến khích chia sẻ nên cung cấp hướng dẫn rõ ràng về cách bảo vệ thông tin cá nhân, cho phép người dùng tùy chỉnh mức độ hiển thị hoặc ẩn danh khi đăng tải nội dung. Đồng thời, các chiến dịch truyền thông nên nhấn mạnh rằng du khách có thể chia sẻ trải nghiệm mà không cần tiết lộ dữ liệu nhạy cảm. Khi cảm thấy quyền riêng tư được tôn trọng và được kiểm soát, du khách sẽ tự tin hơn trong việc chia sẻ hình ảnh, đánh giá và câu chuyện chuyến đi trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Cuối cùng, để tăng cường kinh nghiệm sử dụng phương tiện truyền thông xã hội, qua đó thúc đẩy hành vi chia sẻ trải nghiệm du lịch, các điểm đến và doanh nghiệp du lịch có thể hỗ trợ du khách thông qua việc cung cấp hướng dẫn sử dụng nền tảng số một cách đơn giản, trực quan. Các video ngắn hướng dẫn cách đăng ảnh, tạo nội dung, gắn thẻ địa điểm hay sử dụng hashtag sẽ giúp những người ít kinh nghiệm cảm thấy tự tin hơn khi chia sẻ. Bên cạnh đó, việc thiết kế các không gian “dễ ghi hình”, gợi ý khung hình hoặc mẫu caption sẽ giảm bớt rào cản kỹ thuật cho du khách. Khi kỹ năng số được nâng cao và trải nghiệm tạo nội dung trở nên dễ dàng, du khách sẽ có xu hướng chia sẻ nhiều hơn về hành trình và cảm nhận của mình trên mạng xã hội.

(*) Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi đề tài mã số: SPD2025.01.22

Tài liệu tham khảo:

1. Bélanger, F., & Crossler, R. E. (2011). Privacy in the digital age: A review of information privacy research in information systems. MIS Quarterly, 35(4), 1017–1041.

2. Bigné, J. E., Andreu, L., & Gnoth, J. (2019). The theme park experience: An analysis of pleasure, arousal, and satisfaction. Tourism Management, 75, 82–93.

3. Bock, G.-W., Zmud, R. W., Kim, Y.-G., & Lee, J.-N. (2005). Behavioral intention formation in knowledge sharing: Examining the roles of extrinsic motivators, social-psychological factors, and organizational climate. MIS Quarterly, 29(1), 87–111.

4. Chen, C. F., & Tsai, D. C. (2007). How destination image and evaluative factors affect behavioral intentions? Tourism Management, 28(4), 1115–1122.

5. Dinev, T., & Hart, P. (2006). An extended privacy calculus model for e-commerce transactions. Information Systems Research, 17(1), 61–80.

6. Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981). Structural equation models with unobservable variables and measurement error: Algebra and statistics.

7. Hennig-Thurau, T., Gwinner, K. P., Walsh, G., & Gremler, D. D. (2004). Electronic word-of-mouth via consumer-opinion platforms. Journal of Interactive Marketing, 18(1), 38–52.

8. Henseler, J., Dijkstra, T. K., Sarstedt, M., Ringle, C. M., Diamantopoulos, A., Straub, D. W., Ketchen, D. J., Hair, J. F., Hult, G. T. M., & Calantone, R. J. (2014). Common Beliefs and Reality about Partial Least Squares: Comments on Rönkkö & Evermann, Organizational Research Methods, 17(2), 182-209.

9. Hu, L.T. and Bentler, P.M. (1999) .Cutoff Criteria for Fit Indexes in Covariance Structure Analysis: Conventional Criteria Versus New Alternatives, Structural Equation Modeling, 6(1), 1-55.

10. Hulland, J. (1999). Use of partial least squares (PLS) in strategic management research: A review of four recent studies. Strategic management journal, 20(2), 195-204.

11. Kim, J., & Lee, J. (2020). The impact of tourist experience sharing on tourism decision-making. Journal of Travel Research, 59(6), 1127–1144.

12. Kim, S., Kim, M., & Wang, Y. (2021). Self-presentation and social media sharing behavior. Tourism Management, 83, 104229.

13. Lin, H.-F., Fan, C.-Y., & Chau, P. Y. K. (2017). Determinants of users’ continuance of social networking sites: A self-regulation perspective. Information & Management, 54(1), 31–44.

14. Maslow, A. H. (1954). Motivation and personality. Harper & Row.

15. Munar, A. M., & Jacobsen, J. K. S. (2014). Motivations for sharing tourism experiences on social media. Tourism Management, 43, 46–54.

16. Oliver, R. (1997). Satisfaction: A behavioral perspective on the consumer. McGraw-Hill.

17. Quan-Haase, A., & Young, A. (2010). Uses and gratifications of social media. International Journal of Communication, 4, 381–404.

18. Schau, H. J., & Gilly, M. C. (2003). We are what we post? Self-presentation in personal web space. Journal of Consumer Research, 30(3), 385–404.

19. Zhang, T., Omran, B. A., & Cobanoglu, C. (2017). Generation Y’s positive and negative eWOM: Use of social media and mobile technology. International Journal of Contemporary Hospitality Management, 29(2), 732–761.

Ngày nhận bài: 6/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/12/2025; Ngày duyệt đăng: 29/12/2025

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"