Phát triển kinh tế tuần hoàn dưới góc nhìn lý luận tái sản xuất của C. Mác

Nghiên cứu - Trao đổi 14:36 | 10/07/2026
Mặc dù khái niệm kinh tế tuần hoàn xuất hiện trong bối cảnh hiện đại, song có thể bắt gặp tư tưởng sản xuất tuần hoàn, liên tục trong lý luận tái sản xuất xã hội của C. Mác.

TS. Hoàng Minh Đẹp

Giảng viên Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Email: Hoangminhct6hv@gmail.com

Tóm tắt

Bài viết tiếp cận kinh tế tuần hoàn dưới góc nhìn lý luận tái sản xuất xã hội của C. Mác nhằm làm rõ cơ sở lý luận của mô hình phát triển này trong bối cảnh biến đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam, bài viết chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn theo hướng bền vững.

Từ khóa: C. Mác, kinh tế tuần hoàn, tái sản xuất xã hội, phát triển bền vững

Abstract

This paper examines the circular economy from the perspective of Karl Marx's theory of social reproduction, with the aim of clarifying the theoretical foundations of this development model in the context of climate change and resource depletion. Based on an analysis of the current state of circular economy development in Viet Nam, the paper identifies the achievements attained, the existing limitations, and proposes several solutions to promote the sustainable development of the circular economy.

Keywords: Karl Marx, circular economy, social reproduction, sustainable development

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng, mô hình phát triển kinh tế truyền thống dựa trên chuỗi “khai thác - sản xuất - tiêu dùng - thải bỏ” đang bộc lộ nhiều hạn chế, đặt ra yêu cầu chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững hơn, trong đó kinh tế tuần hoàn được xem là xu hướng tất yếu. Kinh tế tuần hoàn hướng tới tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, kéo dài vòng đời sản phẩm, giảm thiểu chất thải và tái sử dụng các nguồn lực trong toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu dùng. Mặc dù khái niệm kinh tế tuần hoàn xuất hiện trong bối cảnh hiện đại, song có thể bắt gặp tư tưởng sản xuất tuần hoàn, liên tục trong lý luận tái sản xuất xã hội của C. Mác. Trong các nghiên cứu về tái sản xuất xã hội, C. Mác không chỉ phân tích quá trình tái sản xuất của cải vật chất mà còn chỉ ra sự vận động tuần hoàn của các yếu tố sản xuất và nền kinh tế; tính thống nhất giữa con người và tự nhiên, giữa phát triển sản xuất với sử dụng hợp lý các nguồn lực tự nhiên (C. Mác, 1867, 1885). Đây là cơ sở lý luận quan trọng để nhận thức sâu sắc hơn bản chất và ý nghĩa của kinh tế tuần hoàn trong điều kiện hiện nay.

VẬN DỤNG LÝ LUẬN TÁI SẢN XUẤT CỦA C. MÁC TRONG NGHIÊN CỨU KINH TẾ TUẦN HOÀN

Sản xuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội; xã hội không thể ngừng tiêu dùng, do đó không thể ngừng sản xuất. Tái sản xuất xã hội là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại thường xuyên và phục hồi không ngừng (Nguyễn Văn Hảo và cộng sự, 2009). Quá trình này không chỉ tái tạo ra của cải vật chất mà còn tái sản xuất sức lao động, quan hệ sản xuất và các điều kiện xã hội của sản xuất. C. Mác chia tái sản xuất thành tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng; trong đó tái sản xuất mở rộng phản ánh xu hướng phát triển đi lên của nền sản xuất xã hội thông qua tích lũy và mở rộng quy mô sản xuất. C. Mác nhấn mạnh: “Dù cho hình thái xã hội của quá trình sản xuất là như thế nào chăng nữa, thì bao giờ quá trình đó cũng phải có tính chất liên tục, hay cứ từng chu kỳ một, phải không ngừng trải qua cũng những giai đoạn ấy” (C. Mác, 1867), nghĩa là quá trình tái sản xuất luôn gắn liền với tính tuần hoàn và liên kết giữa các khâu của quá trình sản xuất xã hội; giữa sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Sự gián đoạn hoặc mất cân đối ở một khâu sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội. Bên cạnh đó, C. Mác đã chỉ ra các điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất, thực chất đó là cân đối, phù hợp giữa khối lượng sản phẩm và nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và sinh hoạt ở 2 khu vực sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất tư liệu tiêu dùng, bất cứ một sự mất cân đối nào cũng tiềm ẩn nguy cơ làm cho quá trình tái sản xuất bị ảnh hưởng. C. Mác còn hết sức lưu ý đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong quá trình sản xuất. Ông cho rằng lao động là quá trình con người tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, nhưng nếu quá trình đó diễn ra thiếu kiểm soát sẽ dẫn tới phá vỡ “sự trao đổi chất” giữa con người và tự nhiên. Đây được xem là một trong những luận thuyết quan trọng để lý giải các vấn đề môi trường hiện đại và yêu cầu phát triển kinh tế tuần hoàn nhằm tái lập sự cân bằng sinh thái.

Trên thế giới, khái niệm kinh tế tuần hoàn xuất hiện từ cuối thế kỷ XX với hàm ý về một mô hình kinh tế trong đó “mọi thứ đều là đầu vào đối với thứ khác”. Ở Việt Nam, tại Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, kinh tế tuần hoàn được xác định là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường. Như vậy, khác với mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống làm đứt gãy vòng tuần hoàn của tài nguyên thông qua việc khai thác, sử dụng và thải bỏ sau tiêu dùng, thì kinh tế tuần hoàn hướng tới khôi phục và duy trì vòng tuần hoàn của vật chất, năng lượng và nguồn lực trong nền kinh tế, giảm thiểu chất thải, tối ưu hóa sử dụng tài nguyên.

Tóm lại, vận dụng lý luận tái sản xuất xã hội của C. Mác để xem xét kinh tế tuần hoàn cho thấy mô hình này có một số ý nghĩa quan trọng. Thứ nhất, kinh tế tuần hoàn góp phần duy trì tính liên tục của quá trình tái sản xuất khi chất thải của quá trình sản xuất này trở thành đầu vào của quá trình sản xuất khác. Thứ hai, mô hình này nâng cao hiệu quả sử dụng tư liệu sản xuất thông qua tái sử dụng nguyên vật liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm và tiết kiệm tài nguyên. Thứ ba, kinh tế tuần hoàn góp phần hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường nhờ giảm khai thác tài nguyên và hạn chế phát thải. Thứ tư, kinh tế tuần hoàn tạo cơ sở cho tái sản xuất mở rộng theo hướng bền vững, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong dài hạn.

Trong những năm gần đây, Việt Nam ngày càng quan tâm phát triển kinh tế tuần hoàn như một giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm phát triển bền vững. Đảng đã sớm xác định chủ trương phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thúc đẩy tăng trưởng xanh - những nội dung cốt lõi của kinh tế tuần hoàn (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Đồng thời, hệ thống pháp luật và chính sách liên quan từng bước được hoàn thiện thông qua việc ban hành các luật về bảo vệ môi trường, khoáng sản, đất đai và tài nguyên nước, qua đó tạo hành lang pháp lý cho quá trình triển khai trong thực tiễn. Trên thực tế, nhiều mô hình kinh tế tuần hoàn đã bước đầu được áp dụng trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng và xử lý chất thải. Khoảng 27% rác thải nhựa hiện được tái chế và tái sử dụng bởi các doanh nghiệp và cơ sở tái chế (Nguyễn Thị Thùy Linh, 2025). Mặt khác, nhiều doanh nghiệp đã ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, tái sử dụng phụ phẩm và phát triển sản xuất sạch hơn nhằm giảm phát thải ra môi trường.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam vẫn còn không ít hạn chế, bất cập. Hiệu quả tái chế và sử dụng lại tài nguyên còn thấp, phần lớn chất thải không quay trở lại chu trình sản xuất; với khoảng 73% rác thải nhựa không được tái chế; phần lớn doanh nghiệp tái chế có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, thiếu vốn đầu tư và chưa hình thành được chuỗi liên kết tuần hoàn đồng bộ; ngành công nghiệp môi trường Việt Nam mới chỉ đáp ứng được 5% tổng nhu cầu xử lý nước thải đô thị và công nghiệp; khoảng 15% nhu cầu xử lý chất thải rắn và 14% nhu cầu xử lý chất thải nguy hại (Nguyễn Thị Nhâm Tuất, 2021).

Bên cạnh đó, nhận thức xã hội về tiêu dùng xanh còn chưa đầy đủ, một bộ phận người dân và doanh nghiệp vẫn ưu tiên lợi ích kinh tế ngắn hạn hơn bảo vệ môi trường; sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần vẫn phổ biến, với trung bình mỗi hộ gia đình Việt Nam sử dụng khoảng 1 kg túi ni lông mỗi tháng, hơn 80% trong số đó đều bị thải bỏ sau khi dùng (Nhĩ Anh, 2024). Hệ thống chính sách về kinh tế tuần hoàn chưa đồng bộ; cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh còn thiếu sức hấp dẫn, trong khi nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh còn hạn chế…

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam, cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sâu đây:

Một là, nâng cao nhận thức xã hội về kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Theo C. Mác, nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên sẽ góp phần điều chỉnh hành vi sản xuất và tiêu dùng theo hướng hài hòa, hạn chế tình trạng khai thác cạn kiệt tài nguyên và phá vỡ cân bằng sinh thái. Mặt khác, nhận thức về kinh tế tuần hoàn trong xã hội chưa đầy đủ vừa là hạn chế vừa là nguyên nhân hạn chế trong phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam. Do đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về vai trò của kinh tế tuần hoàn đối với tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và bảo đảm an ninh môi trường quốc gia. Tập trung làm rõ lợi ích kinh tế, xã hội lâu dài của mô hình tuần hoàn đối với doanh nghiệp, người dân và xã hội. Kết hợp giữa truyền thông đại chúng với giáo dục, đào tạo trong các cấp học, xây dựng ý thức tiêu dùng xanh và trách nhiệm môi trường của xã hội. Đối với doanh nghiệp, cần nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong thu hồi, tái chế sản phẩm sau tiêu dùng.

Hai là, hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế tuần hoàn. Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bước đầu tạo hành lang pháp lý cho kinh tế tuần hoàn, song hệ thống chính sách vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa đủ mạnh để tạo động lực cho doanh nghiệp chuyển đổi mô hình sản xuất. Vì vậy, Nhà nước cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế tuần hoàn theo hướng đồng bộ, minh bạch và khả thi. Ban hành các tiêu chí, tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ chế đánh giá đối với mô hình sản xuất tuần hoàn, tạo cơ sở cho doanh nghiệp triển khai và cơ quan quản lý kiểm tra, giám sát. Đồng thời, xây dựng chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và đất đai đối với các doanh nghiệp sản xuất xanh, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, đầu tư công nghệ tái chế, năng lượng tái tạo. Xác định cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, buộc doanh nghiệp phải tham gia thu hồi, tái chế và xử lý sản phẩm sau tiêu dùng, giảm áp lực chất thải ra môi trường. Hoàn thiện cơ chế phối hợp đồng bộ, thống nhất giữa các bộ, ngành và địa phương trong quản lý tài nguyên, xử lý chất thải và phát triển kinh tế xanh.

Ba là, phát triển mô hình sản xuất và tiêu dùng xanh. Sản xuất và tiêu dùng là khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất, có mối quan hệ biện chứng với nhau; tiêu dùng vừa là mục đích, vừa tác động trở lại quá trình sản xuất. Nếu tiêu dùng không thay đổi theo hướng bền vững thì sản xuất tuần hoàn khó có điều kiện phát triển lâu dài. Vì vậy, cần thúc đẩy chuyển đổi đồng bộ từ sản xuất đến tiêu dùng theo hướng xanh và bền vững hơn. Đối với doanh nghiệp, cần khuyến khích áp dụng mô hình sản xuất xanh, sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng, tăng vòng đời sản phẩm sau tiêu dùng. Đối với người tiêu dùng, cần xây dựng lối sống xanh, nâng cao trách nhiệm xã hội trong hành vi tiêu dùng, ưu tiên sử dụng sản phẩm tái chế, thân thiện với môi trường. Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ phát triển thị trường sản phẩm xanh, đồng thời đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông nhằm thay đổi hành vi tiêu dùng của xã hội.

Bốn là, kết hợp đồng bộ giữa đổi mới công nghệ và phát triển hạ tầng phục vụ kinh tế tuần hoàn. Đổi mới công nghệ không chỉ góp phần nâng cao năng suất lao động mà còn tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất xã hội diễn ra theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và bền vững, giảm áp lực lên môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, doanh nghiệp luôn hoạt động trong môi trường tương tác đa chiều. Vì thế, một mặt, cần thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất và kiểm soát, tái sự dụng tài nguyên. Nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới, ứng dụng công nghệ khép kín, công nghệ xanh, công nghệ tái chế hiện đại. Mặt khác, cần thúc đẩy phát triển công nghiệp môi trường; đầu tư xây dựng trung tâm tái chế, khu công nghiệp sinh thái, mạng lưới thu gom, phân loại chất thải hiện đại; chú trọng ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn vào quản lý, tối ưu hóa chuỗi sản xuất khép kín.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2024.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. C. Mác (1867). Tư bản, quyển I, C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. C. Mác (1885). Tư bản, quyển II, C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 24, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Nguyễn Thị Thùy Linh (2025). Chủ trương của Đảng và thực trạng phát triển kinh tế tuần hoàn hiện nay. https://lyluanchinhtri.vn/chu-truong-cua-dang-va-thuc-trang-phat-trien-kinh-te-tuan-hoan-hien-nay-6807.html

6. Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Đình Kháng, Lê Danh Tốn (2009), Giáo trình kinh tế chính trị Mác -Lênin (dùng cho khối ngành không chuyên kinh tế quản trị kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Nhĩ Anh (2024). Mỗi năm Việt Nam thải ra môi trường 1,8 triệu tấn rác thải nhựa. https://vneconomy.vn/moi-nam-viet-nam-thai-ra-moi-truong-1-8-trieu-tan-rac-thai-nhua.htm

Ngày nhận bài: 27/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/6/2026; Ngày duyệt đăng: 8/7/2026

Các tin khác

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch Đồng Tháp của du khách

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch Đồng Tháp của du khách

Trong xu thế cạnh tranh gay gắt giữa các điểm đến du lịch hiên nay, việc duy trì và phát triển điểm đến du lịch đóng vai trò quan trọng và là một nhiệm vụ quan trọng của các nhà hoạch định.
Tác động của quản trị đổi mới sáng tạo xanh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua vai trò trung gian của thực thi ESG: Nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam

Tác động của quản trị đổi mới sáng tạo xanh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua vai trò trung gian của thực thi ESG: Nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và áp lực từ các cam kết giảm phát thải quốc tế (tiêu chuẩn Net Zero, rào cản thuế carbon CBAM của EU), chuyển đổi xanh đã trở thành yêu cầu sống còn đối với các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm thời trang thể thao của Gen Z tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm thời trang thể thao của Gen Z tại Việt Nam

Sự phát triển của chuyển đổi số, thương mại điện tử và mạng xã hội đang làm thay đổi hành vi mua sắm của Gen Z. Trong đó, nhóm sản phẩm thời trang thể thao ngày càng được quan tâm nhờ xu hướng sống năng động, chú trọng sức khỏe và khả năng tiếp cận thông tin trực tuyến nhanh chóng.
Tác động của GenAI đến hành vi tìm kiếm thông tin trước mua của người tiêu dùng: Hàm ý quản trị thương hiệu đối với doanh nghiệp

Tác động của GenAI đến hành vi tìm kiếm thông tin trước mua của người tiêu dùng: Hàm ý quản trị thương hiệu đối với doanh nghiệp

Nghiên cứu này phân tích tác động của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (GenAI) đối với hành vi tìm kiếm thông tin trước mua của người tiêu dùng và rút ra các hàm ý đối với quản trị thương hiệu cho doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt Nam.
Hiệu quả công việc của nhân sự kế toán trong bối cảnh chuyển đổi số tại các doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh và những các yếu tố tác động

Hiệu quả công việc của nhân sự kế toán trong bối cảnh chuyển đổi số tại các doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh và những các yếu tố tác động

Chuyển đổi số đang làm thay đổi hoạt động kế toán, đặt ra yêu cầu đánh giá các yếu tố công nghệ ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của nhân sự kế toán tại doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh.
Đề xuất Khung lý thuyết nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu dưới tác động của các vấn đề toàn cầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Đề xuất Khung lý thuyết nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu dưới tác động của các vấn đề toàn cầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Kết quả là, sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu không còn chỉ được quyết định bởi hiệu quả chi phí, lợi thế lao động hay năng lực sản xuất, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng thích ứng của các doanh nghiệp với những áp lực toàn cầu mới nổi liên quan đến tính bền vững, khả năng phục hồi, tính minh bạch và năng lực số.
Tác động của nội dung do AI tạo ra trong hoạt động marketing đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng tại Việt Nam

Tác động của nội dung do AI tạo ra trong hoạt động marketing đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hành vi người tiêu dùng trong môi trường số, đồng thời cung cấp các hàm ý quản trị cho doanh nghiệp trong quá trình ứng dụng AI vào hoạt động marketing.
Ảnh hưởng của các nhân tố nội bộ đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Ảnh hưởng của các nhân tố nội bộ đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Các nhân tố tác động đến quyết định sử dụng thương mại điện tử tại các chợ đầu mối TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của đặc điểm hộ kinh doanh

Các nhân tố tác động đến quyết định sử dụng thương mại điện tử tại các chợ đầu mối TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của đặc điểm hộ kinh doanh

Thông qua kết quả khảo sát đối với 750 hộ kinh doanh tại 5 chợ đầu mối lớn của TP. Hồ Chí Minh, nghiên cứu phân tích vai trò điều tiết của 3 đặc điểm hộ kinh doanh (Quy mô doanh nghiệp, Kinh nghiệm kinh doanh và Ngành hàng chủ đạo) trong mối quan hệ giữa các nhân tố thể chế/nguồn lực và quyết định sử dụng thương mại điện tử tại các chợ đầu mối TP. Hồ Chí Minh.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Gemini AI trong học tập và nghiên cứu của sinh viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Gemini AI trong học tập và nghiên cứu của sinh viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Việc sử dụng Gemini AI trong giáo dục đại học mang lại nhiều lợi ích học thuật nhưng cũng đặt ra yêu cầu nghiên cứu về quyền riêng tư, khả năng tiếp cận và mức độ chấp nhận của sinh viên.