Ảnh hưởng của quản trị tri thức đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Tổng quan tài liệu và định hướng nghiên cứu
Dương Phương Thảo
Tổng công ty dịch vụ số Viettel; Email: [email protected]
Đinh Thị Thanh Hải
Trường Kinh tế, Đại học công nghiệp Hà Nội; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu thực hiện tổng quan tài liệu về ảnh hưởng của quản trị tri thức đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trên cơ sở hệ thống hóa các lý thuyết nền tảng (Lý thuyết dựa trên nguồn lực, Lý thuyết dựa trên tri thức của doanh nghiệp, Lý thuyết năng lực động, Lý thuyết học tập tổ chức) và tổng hợp các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, kết quả chỉ ra rằng quản trị tri thức có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, nhưng tác động này chủ yếu được truyền dẫn qua các biến trung gian như học tập tổ chức, năng lực động và đổi mới sáng tạo, đồng thời chịu ảnh hưởng điều tiết của các yếu tố bối cảnh như văn hóa tổ chức, công nghệ số và quy mô doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một khung phân tích tích hợp và các hướng nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam.
Từ khóa: Quản trị tri thức, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, lý thuyết dựa trên tri thức, năng lực động
Abstract
This study conducts a literature review on the impact of knowledge management on firm performance. Based on a systematization of foundational theories, including the Resource-Based View, Knowledge-Based View of the Firm, Dynamic Capabilities Theory, and Organizational Learning Theory, together with a synthesis of empirical research findings, the results indicate that knowledge management has a positive effect on firm performance. However, this effect is primarily mediated by variables such as organizational learning, dynamic capabilities, and innovation, and moderated by contextual factors such as organizational culture, digital technology, and firm size. On this basis, the study proposes an integrated analytical framework and directions for future empirical research, particularly in the context of Vietnamese enterprises.
Keywords: Knowledge management, firm performance, Knowledge-Based View, dynamic capabilities
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền kinh tế tri thức và bối cảnh chuyển đổi số, tri thức được nhìn nhận là nguồn lực chiến lược quan trọng nhất, quyết định năng lực cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp (DN). Nhiều DN đã đầu tư vào quản trị tri thức nhằm khai thác tài sản trí tuệ nội bộ, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động và duy trì lợi thế cạnh tranh.
Tuy nhiên, các kết quả thực nghiệm về mối quan hệ giữa quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động vẫn chưa đạt được sự đồng thuận; thiếu một tổng quan toàn diện về các cơ chế tác động của quản trị tri thức đến hiệu quả hoạt động DN nói chung. Từ khoảng trống nêu trên, nghiên cứu này thực hiện tổng quan tài liệu có hệ thống nhằm tổng hợp các cơ chế tác động của quản trị tri thức đến hiệu quả hoạt động DN và xác định khoảng trống nghiên cứu trong bối cảnh các DN đang thực hiện chuyển đổi số.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Quản trị tri thức
Tri thức trong tổ chức thường được phân loại thành tri thức hiện hữu - có thể ghi chép, mã hóa và truyền đạt một cách hệ thống - và tri thức ngầm, gắn liền với kinh nghiệm và nhận thức cá nhân, khó hình thức hóa và chuyển giao. Quản trị tri thức được hiểu là quá trình có hệ thống nhằm tạo lập, thu thập, lưu trữ, chia sẻ và ứng dụng tri thức để hỗ trợ hoạt động và nâng cao khả năng sinh lời của DN, thường được phân tách thành các quy trình thành phần: tạo lập, lưu trữ, chia sẻ và ứng dụng tri thức (Obeso và cộng sự, 2020). Mức độ đóng góp của từng thành phần đến hiệu quả hoạt động không đồng nhất - tạo lập và chia sẻ tri thức có tác động tích cực rõ rệt hơn lưu trữ đơn lẻ cho thấy quản trị tri thức cần được nhìn nhận như một hệ thống tích hợp giữa hạ tầng công nghệ, cấu trúc tổ chức và văn hóa hỗ trợ, chứ không chỉ là tập hợp công cụ kỹ thuật riêng lẻ.
Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động DN thường được đo lường qua 2 nhóm chỉ tiêu: tài chính (ROA, ROE, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận) và phi tài chính (năng lực đổi mới sáng tạo - ĐMST, sự hài lòng của khách hàng, tính bền vững) (Duke và cộng sự, 2022). Một số nghiên cứu đề xuất khung thẻ điểm cân bằng kết hợp đánh giá mờ để lượng hóa đồng thời cả 2 nhóm chỉ tiêu này. Việc lựa chọn thang đo phù hợp có ý nghĩa quan trọng, vì ảnh hưởng của quản trị tri thức có thể khác nhau đáng kể tùy theo khía cạnh hiệu quả được xem xét - chẳng hạn quản trị tri thức có tác động rõ rệt hơn đến hiệu quả ĐMST so với hiệu quả tài chính ngắn hạn.
Các lý thuyết nền tảng
Lý thuyết dựa trên nguồn lực cho rằng lợi thế cạnh tranh bền vững xuất phát từ việc sở hữu và khai thác các nguồn lực có giá trị, hiếm, khó bị bắt chước và không thể thay thế - khung tiêu chí VRIN (Barney và cộng sự, 2001); tri thức tổ chức đáp ứng đầy đủ các tiêu chí này, do đó có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài hơn so với các nguồn lực vật chất.
Kế thừa và mở rộng từ Lý thuyết dựa trên nguồn lực, Lý thuyết dựa trên tri thức của DN xác định tri thức là nguồn lực chiến lược quan trọng nhất, với năng lực cốt lõi của tổ chức nằm ở khả năng tích hợp tri thức chuyên môn phân tán giữa các cá nhân thành năng lực tập thể. Lý thuyết này thường được sử dụng làm khung lý thuyết chủ đạo để giải thích cơ chế thông qua đó quản trị tri thức hiệu quả chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động vượt trội (Duke và cộng sự, 2022).
Lý thuyết năng lực động bổ sung khả năng của DN trong việc cảm nhận, nắm bắt và tái cấu hình nguồn lực tri thức để thích ứng với môi trường kinh doanh biến động nhanh; năng lực quản trị tri thức động được xác nhận có vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa thực hành quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động của DN và tổ chức khởi nghiệp (Li và cộng sự, 2020).
Lý thuyết học tập tổ chức nhấn mạnh quá trình tổ chức tiếp thu, diễn giải và tích hợp tri thức mới vào hệ thống nhận thức và hành vi tập thể, qua đó cải thiện năng lực ra quyết định và hiệu quả hoạt động; học tập tổ chức thường đóng vai trò trung gian giải thích cơ chế tri thức chuyển hóa thành hiệu quả thực tế, thay vì có tác động trực tiếp (Obeso và cộng sự, 2020), đồng thời có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với năng lực động.
Sự kết hợp 4 lý thuyết này là cơ sở phổ biến được nhiều nghiên cứu thực nghiệm gần đây sử dụng để xây dựng mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị tri thức đến hiệu quả hoạt động DN.
Tổng quan các nghiên cứu liên quan
Xu hướng nghiên cứu theo thời gian và khu vực địa lý
Số lượng nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động đã tăng trưởng nhanh chóng, với hơn 8.700 bài báo được công bố trong 30 năm qua theo thống kê trắc lượng thư mục (Merigó và cộng sự, 2021). Các nghiên cứu tập trung nhiều ở khu vực châu Á, Trung Đông và một số nền kinh tế mới nổi châu Phi, phản ánh mối quan tâm của các nền kinh tế đang phát triển đối với quản trị tri thức như công cụ bù đắp hạn chế nguồn lực (Truong và cộng sự, 2023). Về phương pháp, phần lớn sử dụng thiết kế khảo sát cắt ngang với mô hình phương trình cấu trúc (SEM/PLS-SEM).
Mối quan hệ giữa quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động
Đa số nghiên cứu xác nhận quản trị tri thức có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả hoạt động, như tại các DN sản xuất Việt Nam, nơi thành công của quản trị tri thức đóng vai trò trung gian chuyển hóa chia sẻ tri thức thành ĐMST (Truong và cộng sự, 2023); tại các DN nhỏ ngành nội thất Ba Lan (Kusa và cộng sự, 2023).
Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho kết quả không đồng nhất: tại Jordan, năng lực thu thập tri thức chỉ có ý nghĩa ở nhóm DN quy mô vừa, còn thu thập và chia sẻ tri thức không có tác động thống kê có ý nghĩa ở cả 2 nhóm quy mô (Elrehail và cộng sự, 2020); tại Ai Cập, năng lực chia sẻ tri thức không có ý nghĩa thống kê lên các thành phần năng lực động, dù có tác động tích cực trực tiếp đến hiệu quả đổi mới sáng. Những kết quả trái chiều này cho thấy tác động của quản trị tri thức không phải là quan hệ tuyến tính đơn giản, mà phụ thuộc vào bối cảnh và cơ chế trung gian cụ thể.
Vai trò của các biến trung gian
ĐMST là biến trung gian được kiểm định nhiều nhất. Nghiên cứu tại các DN dầu khí Nigeria cho thấy vai trò trung gian bán phần giữa thực hành quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động (Duke và cộng sự, 2022); kết quả tương tự được xác nhận trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn tại Lesotho và tại các DN nhỏ và vừa (NVV) ở Ghana, nơi ĐMST còn có hiệu ứng gián tiếp có ý nghĩa đến tính bền vững DN (Osafo và cộng sự, 2025). Lợi thế cạnh tranh và năng lực cốt lõi cũng là cơ chế trung gian quan trọng, được xác nhận trong nghiên cứu về đổi mới mô hình kinh doanh tại DNNVV ở Ấn Độ và trong nghiên cứu về năng lực cạnh tranh DN thông qua trung gian là năng lực cốt lõi về công nghệ, tổ chức và con người. Học tập tổ chức đóng vai trò trung gian giữa tạo lập, truyền tải tri thức và hiệu quả hoạt động, trong khi lưu trữ tri thức không có quan hệ trực tiếp (Obeso và cộng sự, 2020); học tập tổ chức cũng tạo tiền đề hình thành năng lực động, từ đó thúc đẩy hiệu quả ĐMST, và năng lực hấp thụ được xác nhận là biến trung gian tương tự giữa các quy trình quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động tổ chức.
Vai trò của các biến điều tiết
Văn hóa tổ chức được xác nhận có vai trò điều tiết tích cực quan hệ giữa quy trình tri thức và hiệu quả hoạt động, trong khung phân tích “nguồn lực - tri thức - hiệu quả” (Wu và cộng sự, 2026). Công nghệ thông tin, đặc biệt năng lực phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, ngày càng được xác nhận là yếu tố khuếch đại tác động của quản trị tri thức đến hiệu quả hoạt động, như tại các DNNVV ở Italy; trong ngành viễn thông tại Bangladesh, quản trị tri thức và đổi mới xanh cùng đóng vai trò trung gian có ý nghĩa giữa dữ liệu lớn và hiệu quả tổ chức. Quy mô DN là yếu tố điều tiết được xác nhận rõ ràng, khi hiệu lực giải thích của các thành phần quản trị tri thức khác nhau đáng kể giữa DN quy mô vừa và lớn (Elrehail và cộng sự, 2020).
Tổng hợp theo từng thành phần của quản trị tri thức
Xét theo từng thành phần, mức độ đóng góp đến hiệu quả hoạt động không đồng đều. Nghiên cứu tại các DN viễn thông Jordan cho thấy chia sẻ tri thức có tác động mạnh nhất, tiếp theo là đánh giá, ứng dụng, lưu trữ và tạo lập tri thức, với ĐMST là trung gian tích cực trong toàn bộ mô hình (Abou-Moghli, 2025) - tương đối phù hợp với phát hiện tại Tây Ban Nha rằng chia sẻ và tạo lập tri thức có tác động rõ rệt hơn lưu trữ (Obeso và cộng sự, 2020). Điều này cho thấy các thành phần mang tính chia sẻ và ứng dụng có xu hướng đóng góp mạnh hơn vào hiệu quả hoạt động so với các thành phần mang tính lưu trữ tĩnh.
THẢO LUẬN KẾT QUẢ
Những điểm đồng thuận trong các nghiên cứu
Tổng hợp các nghiên cứu cho thấy một số điểm đồng thuận tương đối rõ nét. Thứ nhất, đa số nghiên cứu thống nhất rằng quản trị tri thức có mối liên hệ tích cực với hiệu quả hoạt động, dù mức độ và cơ chế tác động khác nhau theo bối cảnh (Kusa và cộng sự, 2023). Thứ hai, các nghiên cứu đồng thuận cao về vai trò trung gian của ĐMST, được xem là cầu nối chuyển hóa tri thức thành hiệu quả hoạt động thực tế thay vì tri thức tác động trực tiếp (Duke và cộng sự, 2022; Osafo và cộng sự, 2025). Thứ ba, hoạt động chia sẻ và ứng dụng tri thức nhất quán được xác nhận có tác động mạnh hơn lưu trữ tri thức đơn lẻ, cho thấy giá trị tri thức chỉ được hiện thực hóa khi được chia sẻ và sử dụng trong thực tiễn (Obeso và cộng sự, 2020; Abou-Moghli, 2025). Thứ tư, Lý thuyết dựa trên tri thức của DN và Lý thuyết năng lực động được sử dụng rộng rãi và nhất quán như khung giải thích chủ đạo cho cơ chế tác động này (Li và cộng sự, 2020).
Những điểm còn tranh luận, mâu thuẫn giữa các nghiên cứu
Bên cạnh các điểm đồng thuận, tài liệu hiện có vẫn tồn tại nhiều mâu thuẫn chưa được giải quyết. Một số nghiên cứu khẳng định quản trị tri thức có tác động trực tiếp và mạnh (Kusa và cộng sự, 2023), trong khi nghiên cứu khác cho thấy tác động này không có ý nghĩa thống kê, đặc biệt khi kiểm định riêng biệt theo quy mô DN (Elrehail và cộng sự, 2020).
Vai trò của năng lực động cũng gây tranh luận: một số nghiên cứu xác nhận là trung gian có ý nghĩa, nhưng nghiên cứu khác trong bối cảnh khủng hoảng COVID-19 lại phát hiện năng lực động chỉ phát huy hiệu quả khi có điều tiết của học tập tổ chức; tương tự, một nghiên cứu tại DNNVV ở Ai Cập cho thấy một số quan hệ kỳ vọng có thể không có ý nghĩa thống kê hoặc đi ngược lại lý thuyết thông thường. Những phát hiện trái chiều này cho thấy mối quan hệ giữa quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động có thể mang tính phi tuyến, có điều kiện và chịu ảnh hưởng mạnh của bối cảnh ngành, văn hóa tổ chức và giai đoạn phát triển công nghệ.
Hạn chế về phương pháp luận trong các nghiên cứu trước
Việc rà soát cũng cho thấy một số hạn chế mang tính hệ thống: phần lớn nghiên cứu sử dụng thiết kế khảo sát cắt ngang, hạn chế khả năng suy luận nhân quả (Gorzeń-Mitka và Wieczorek-Kosmala, 2026); phần lớn dựa vào số liệu tự báo cáo thay vì chỉ tiêu tài chính khách quan, làm tăng nguy cơ sai lệch do phương pháp chung (Gorzeń-Mitka và Wieczorek-Kosmala, 2026); nhiều nghiên cứu giới hạn trong một quốc gia hoặc một ngành cụ thể, hạn chế khả năng tổng quát hóa kết quả (Duke và cộng sự, 2022); việc đo lường quản trị tri thức chưa thống nhất giữa các nghiên cứu, gây khó khăn khi so sánh và tổng hợp kết quả (Abou-Moghli, 2025).
Khoảng trống nghiên cứu
Từ những phân tích trên, có thể xác định một số khoảng trống nghiên cứu quan trọng: (i) nghiên cứu về quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động tại Việt Nam còn tương đối khiêm tốn, đặc biệt ở khu vực DNNVV; (ii) vai trò của trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong quản trị tri thức vẫn ở giai đoạn khởi đầu, còn thiếu nghiên cứu thực nghiệm; (iii) cần nhiều hơn các nghiên cứu sử dụng thiết kế dọc hoặc dữ liệu bảng kết hợp chỉ tiêu tài chính khách quan; (iv) vai trò điều tiết của bối cảnh, đặc biệt hỗ trợ chính sách nhà nước tại các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi như Việt Nam, chưa được kiểm định đầy đủ và nhất quán; và (v) các khía cạnh hiệu quả gắn với phát triển bền vững, quản trị rủi ro DN và hiệu quả xanh vẫn là hướng nghiên cứu mới nổi, chưa được hệ thống hóa đầy đủ trong tài liệu về quản trị tri thức.
Hướng nghiên cứu tương lai
Từ các khoảng trống đã xác định, nghiên cứu này đề xuất 4 hướng ưu tiên cho các công trình tiếp theo: (1) về phương pháp, ưu tiên thiết kế dọc hoặc dữ liệu bảng kết hợp chỉ tiêu tài chính khách quan từ báo cáo tài chính DN thay vì chỉ dựa vào khảo sát cắt ngang tự báo cáo; (2) về bối cảnh, mở rộng nghiên cứu thực nghiệm sang khu vực DNNVV tại Việt Nam theo từng ngành cụ thể, nhằm kiểm định tính phù hợp của khung phân tích trong bối cảnh nguồn lực hạn chế và mức độ số hóa khác biệt; (3) về biến nghiên cứu mới, tích hợp sâu hơn vai trò của trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong quy trình quản trị tri thức như một tiền đề mới của năng lực động và hiệu quả ĐMST; và (4) về chỉ tiêu hiệu quả, mở rộng phạm vi đo lường sang các khía cạnh phát triển bền vững và quản trị rủi ro DN, phản ánh đầy đủ hơn giá trị đa chiều mà quản trị tri thức có thể mang lại.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu này đã thực hiện một tổng quan tài liệu có hệ thống về ảnh hưởng của quản trị tri thức đến hiệu quả hoạt động DN, dựa trên việc hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và tổng hợp các phát hiện thực nghiệm từ nhiều bối cảnh ngành và quốc gia khác nhau. Kết quả cho thấy quản trị tri thức, được lý giải qua các lý thuyết nền tảng như Lý thuyết dựa trên nguồn lực và Lý thuyết dựa trên tri thức của DN, thực sự có mối liên hệ với hiệu quả hoạt động DN, nhưng đây không phải là quan hệ trực tiếp và đơn giản. Thay vào đó, tác động của quản trị tri thức chủ yếu được truyền dẫn qua các cơ chế trung gian như học tập tổ chức, năng lực hấp thụ, năng lực động và đặc biệt là ĐMST, đồng thời chịu sự điều tiết của các yếu tố bối cảnh như văn hóa tổ chức, mức độ ứng dụng công nghệ số và quy mô DN. Nghiên cứu đã hệ thống hóa và tích hợp các dòng nghiên cứu còn phân tán thành một khung phân tích thống nhất, đồng thời chỉ ra những điểm đồng thuận và mâu thuẫn còn tồn tại, qua đó làm rõ bản chất có điều kiện của mối quan hệ này thay vì xem đây là một quy luật phổ quát áp dụng đồng nhất cho mọi loại DN.
Về ý nghĩa thực tiễn, kết quả gợi ý rằng các nhà quản lý DN, đặc biệt tại các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, cần chú trọng các hoạt động lưu chuyển tri thức thông qua chia sẻ, ứng dụng và chuyển hóa tri thức thành ĐMST, thay vì chỉ đầu tư vào hệ thống lưu trữ thông tin; đồng thời, các nhà hoạch định chính sách cần hỗ trợ năng lực quản trị tri thức cho khu vực DNNVV, nơi hạn chế nguồn lực có thể được bù đắp một phần thông qua chính sách khuyến khích ĐMST và chuyển đổi số. Nghiên cứu còn một số hạn chế: tổng quan chủ yếu dựa trên các nghiên cứu công bố trên cơ sở dữ liệu học thuật quốc tế, có thể chưa bao quát đầy đủ các nghiên cứu trong nước; đồng thời phương pháp tổng quan định tính chưa cho phép định lượng chính xác quy mô tác động tổng hợp, do đó các nghiên cứu tổng quan hệ thống kết hợp phân tích tổng hợp định lượng trong tương lai sẽ là hướng bổ sung cần thiết. Các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo, đặc biệt trong bối cảnh DN Việt Nam và trước sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo tạo sinh, sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm định và hoàn thiện khung phân tích được đề xuất.
Tài liệu tham khảo:
1. Abou-Moghli, A. A. (2025). The interplay between knowledge management and organizational performance measurement through the mediating effect of innovation capability. Knowledge and Performance Management, 9(1). https://doi.org/10.21511/kpm.09(1).2025.04
2. Barney, J., Wright, M., & Ketchen, D. J. (2001). The resource-based view of the firm: Ten years after 1991. Journal of Management, 27(6), 625-641. https://doi.org/10.1177/014920630102700601
3. Duke, J., Igwe, V., Tapang, A. T., & Usang, O. (2022). The innovation interface between knowledge management and firm performance. Knowledge Management Research & Practice. https://doi.org/10.1080/14778238.2022.2029596
4. Elrehail, H., Aladayleh, K. J., Adaileh, M. J., & Alrawashdeh, M. (2020). Assessing the nexus between knowledge management and firm performance: A data article. Data in Brief, 32, 106283. https://doi.org/10.1016/j.dib.2020.106283
5. Gorzeń-Mitka, I., & Wieczorek-Kosmala, M. (2026). Can dispersed knowledge management and ERM convert green strategy into firm performance? A chain-mediation approach. Journal of Knowledge Management. https://doi.org/10.1108/JKM-12-2025-1702
6. Kusa, R., Suder, M., Duda, J., Czakon, W., & Juárez-Varón, D. (2023). Does knowledge management mediate the relationship between entrepreneurial orientation and firm performance? Journal of Knowledge Management, 28(11), 33-58. https://doi.org/10.1108/jkm-07-2023-0608
7. Li, C., Shahzad, F., Bashir, I., Arslan, M., Murad, M., Syed, N., & Ashraf, S. F. (2020). Influence of knowledge management practices on entrepreneurial and organizational performance: A mediated-moderation model. Frontiers in Psychology, 11, 577106. https://doi.org/10.3389/fpsyg.2020.577106
8. Merigó, J. M., Centobelli, P., Cerchione, R., & Shashi. (2021). Mapping knowledge management research: A bibliometric overview. Technological and Economic Development of Economy. https://doi.org/10.3846/tede.2021.14088
9. Obeso, M., Hernández-Linares, R., López-Fernández, M. C., & Serrano-Bedia, A. M. (2020). Knowledge management processes and organizational performance: The mediating role of organizational learning. Journal of Knowledge Management, 24(8), 1859-1880. https://doi.org/10.1108/jkm-10-2019-0553
10. Osafo, V. A., Sarfo, P. A., Bonzo, J. K., Gyimah, J., Amenyawu, V. E., & Bimba, C. L. K. (2025). Examining the nexus between knowledge management processes and firm sustainability: The mediating role of innovation among SMEs in Ghana. Journal of Entrepreneurship and Management, 1(3). https://doi.org/10.63385/jemm.v1i3.225
11. Truong, B. T., Nguyen, P. V., & Vrontis, D. (2023). Enhancing firm performance through innovation: The roles of intellectual capital, government support, knowledge sharing and knowledge management success. Journal of Intellectual Capital, 25(1), 188-209. https://doi.org/10.1108/jic-08-2023-0181
12. Wu, J., Liu, X., Zhou, Z., & Wang, Y. (2026). Activating innovation through generative AI-augmented knowledge management: The mediating role of dynamic capabilities and the moderating role of learning orientation. Journal of Knowledge Management. https://doi.org/10.1108/JKM-11-2025-1660
| Ngày nhận bài: 20/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/9/2026; Ngày duyệt đăng: 8/9/2026 |
Các tin khác
Mô phỏng bàn giao hồ sơ kế toán số: Khung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên
Công tác quản lý rừng ở khu vực biên giới tỉnh Nghệ An trong bối cảnh sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính: Nghiên cứu trường hợp xã Châu Khê
Nâng cao tài sản thương hiệu thông qua truyền thông mạng xã hội và năng lực kết nối mạng lưới: Nghiên cứu tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Mối quan hệ phi tuyến giữa chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam
Từ chất lượng dịch vụ đến sự sẵn lòng chi trả học phí: Vai trò khác biệt của sự hài lòng và cảm nhận công bằng học phí
Mô hình nghiên cứu tác động của thuộc tính xã hội và nhận thức về chính sách khuyến khích đến ý định mua xe điện: Vai trò trung gian của thái độ đối với xe điện
Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển ngành của người học: Tiếp cận từ khung Đẩy - Kéo - Neo giữ và Lý thuyết Hành vi có kế hoạch
Các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin carbon: Vai trò trung gian của năng lực phân tích dữ liệu kế toán
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng khách hàng: Nghiên cứu tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh