Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tại Việt Nam
Huỳnh Thanh Tú
Trường Đại học Kinh tế Luật, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh
Email: tuht@uel.edu.vn
Phan Ngọc Sơn
Công ty TNHH Thế Giới Chạy Bộ
Email: sonpn@global.ueh.edu.vn
Tóm tắt
Thị trường thể thao Việt Nam đang ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) đạt 7,79%/năm, cùng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào thể thao cộng đồng. Nghiên cứu đề xuất Khung Tăng trưởng hệ sinh thái cộng đồng đối với doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa (SECGF) trên cơ sở tích hợp 3 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh, Lý thuyết năng lực động và Lý thuyết gắn kết cộng đồng khách hàng. Khung lý thuyết SECGF lập luận rằng, chiến lược hệ sinh thái không tác động trực tiếp đến tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp, mà phải vận hành thông qua cơ chế trung gian là sự gắn kết cộng đồng khách hàng dưới dạng một vòng lặp tự khuếch đại. Từ đó, nghiên cứu đề xuất 5 giả thuyết có thể kiểm định thực nghiệm, và mở ra các hướng nghiên cứu tiếp theo tại thị trường thể thao Đông Nam Á.
Từ khóa: Hệ sinh thái kinh doanh, doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa, gắn kết cộng đồng, năng lực động, tăng trưởng bền vững
Abstract
The Vietnamese sports market is experiencing strong growth, with a compound annual growth rate (CAGR) of 7.79% per year, alongside the rapid development of community sports activities. The study proposes the Sports Ecosystem Community Growth Framework (SECGF) for small and medium-sized sports enterprises, based on the integration of three main theories: Business Ecosystem Theory, Dynamic Capabilities Theory, and Customer Community Engagement Theory. The SECGF suggests that an ecosystem strategy does not directly contribute to the sustainable growth of sports enterprises. Instead, its impact is mediated by customer community engagement, which operates as a self-reinforcing feedback loop. Based on this framework, the study proposes five hypotheses for empirical testing and suggests directions for future research in the Southeast Asian sports market.
Keywords: Business ecosystem, small and medium-sized sports enterprises, community engagement, dynamic capabilities, sustainable growth
GIỚI THIỆU
Thị trường thể thao Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh, với sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của các cộng đồng thể thao địa phương. Đặc trưng nổi bật của thị trường này là tốc độ hình thành cộng đồng diễn ra nhanh chóng, chủ yếu được thúc đẩy bởi mạng xã hội và các nhóm cộng đồng không chính thức. Xu hướng này tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng thích ứng nhanh, linh hoạt và nhạy bén trong việc nắm bắt nhu cầu thị trường.
Tuy nhiên, nghịch lý đáng chú ý là mặc dù thị trường thể thao tăng trưởng mạnh, nhưng không phải doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực này cũng đạt được tăng trưởng bền vững. Thực tế quan sát tại Việt Nam cho thấy, nhiều doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa gặp khó khăn hoặc phải dừng hoạt động sau vài năm, trong khi một số ít lại tăng trưởng mạnh và xây dựng được cộng đồng người dùng trung thành vượt trội so với quy mô doanh nghiệp. Câu hỏi đặt ra là điều gì tạo ra sự khác biệt đó? Lý giải thông thường về năng lực tài chính hay quy mô vốn không đủ thuyết phục, bởi nhiều doanh nghiệp tăng trưởng mạnh lại xuất phát từ nguồn lực rất nhỏ. Ngược lại, không ít doanh nghiệp được đầu tư bài bản lại không duy trì được tăng trưởng sau khi cạn nguồn lực. Điều này cho thấy, cơ chế tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa có tính đặc thù riêng mà các lý thuyết tăng trưởng doanh nghiệp thông thường chưa giải thích đầy đủ.
Từ thực tiễn và khoảng trống nêu trên, bài viết đặt ra câu hỏi nghiên cứu trọng tâm là: Cơ chế nào giải thích tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tại thị trường mới nổi, và gắn kết cộng đồng khách hàng đóng vai trò gì trong cơ chế đó? Bài viết nhằm lấp đầy khoảng trống đó thông qua đề xuất Khung lý thuyết tăng trưởng hệ sinh thái cộng đồng đối với doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa (SECGF). Luận điểm trung tâm của khung lý thuyết là chiến lược hệ sinh thái của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tạo ra tăng trưởng bền vững không phải trực tiếp mà thông qua cơ chế trung gian là gắn kết cộng đồng khách hàng, hoạt động như một vòng lặp tự khuếch đại.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết theo hướng tổng quan tích hợp và xây dựng khung khái niệm theo cách tiếp cận của Corley và Gioia (2011). Phương pháp này phù hợp với mục tiêu của nghiên cứu là tích hợp các dòng lý thuyết phân tán thành một khung giải thích thống nhất cho một hiện tượng kinh doanh đang phát triển nhanh nhưng thiếu cơ sở lý luận hệ thống. Đây cũng là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các tạp chí học thuật quốc tế khi nghiên cứu các lĩnh vực mới nổi mà nghiên cứu thực nghiệm còn hạn chế.
Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua 3 bước. Bước thứ nhất là thu thập và phân tích tài liệu, trong đó tác giả đã tổng hợp 27 nghiên cứu nền tảng và cập nhật trong giai đoạn 1997-2025 từ các tạp chí quốc tế uy tín thuộc danh mục Scopus và Web of Science như Strategic Management Journal, Journal of Marketing Research, Journal of Sport Management, Journal of Business Research, SAGE Open, cùng các báo cáo ngành của McKinsey, IMARC Group và Statista. Tài liệu được lựa chọn dựa trên 3 tiêu chí gồm tính nền tảng lý thuyết, tính cập nhật về dữ liệu thị trường và tính liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu. Bước thứ hai là phân tích khoảng trống và tích hợp lý thuyết, trong đó tác giả thực hiện phân tích so sánh 3 dòng lý thuyết để xác định 3 khoảng trống nghiên cứu cụ thể, sau đó tích hợp các lý thuyết này theo logic 3 tầng để xây dựng khung SECGF. Bước thứ ba, trên cơ sở khung lý thuyết đã xây dựng, nghiên cứu đề xuất 5 giả thuyết định tính, mỗi giả thuyết kèm luận giải lý thuyết và điều kiện biên, chuẩn bị nền tảng cho kiểm định thực nghiệm trong các nghiên cứu tiếp theo bằng phương pháp mô hình cấu trúc bình phương tối thiểu riêng phần (Hair và cộng sự, 2022).
Về quy trình tìm kiếm và chọn lọc tài liệu, nghiên cứu sử dụng các từ khóa tìm kiếm theo 3 nhóm tương ứng với 3 dòng lý thuyết nền. Nhóm thứ nhất bao gồm các từ khóa về hệ sinh thái kinh doanh trong thể thao như “hệ sinh thái thể thao”, “chiến lược hệ sinh thái”, “doanh nghiệp đầu mối”, “đồng tạo sinh giá trị trong thể thao”. Nhóm thứ hai bao gồm các từ khóa về năng lực động của doanh nghiệp nhỏ và vừa như “năng lực động doanh nghiệp nhỏ và vừa”, “năng lực vận hành nền tảng số”, “tăng trưởng doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa”. Nhóm thứ ba bao gồm các từ khóa về gắn kết cộng đồng trong thể thao như “gắn kết khách hàng”, “cộng đồng thương hiệu thể thao”, “tham gia sự kiện thể thao cộng đồng”. Các từ khóa này được tìm kiếm trên cơ sở dữ liệu Scopus và Web of Science với bộ lọc theo giai đoạn thời gian 1997-2025 và lĩnh vực quản trị kinh doanh, marketing và quản lý thể thao. Tài liệu được chọn lọc qua 2 vòng: vòng thứ nhất dựa trên tiêu đề và tóm tắt; vòng thứ hai dựa trên đọc toàn văn để đánh giá mức độ phù hợp với câu hỏi nghiên cứu.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU
Tổng hợp và phân tích các dòng lý thuyết nền tảng
Nghiên cứu dựa trên 3 dòng lý thuyết nền tảng được tích hợp thành một khung phân tích thống nhất.
Lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh được Adner (2006) đặt nền móng khi định nghĩa hệ sinh thái là các thỏa thuận cộng tác thông qua đó các doanh nghiệp kết hợp các sản phẩm riêng lẻ thành 1 giải pháp thống nhất hướng đến người dùng cuối. Điểm cốt lõi là khái niệm doanh nghiệp đầu mối, tức đơn vị điều phối cả đối tác thượng nguồn lẫn bổ trợ hạ nguồn để tạo ra giá trị tổng hợp vượt trội hơn tổng các thành phần đơn lẻ (Adner và Kapoor, 2010). Buser và cộng sự (2022) mở rộng lý thuyết này vào lĩnh vực thể thao với logic hệ sinh thái thể thao, nhấn mạnh rằng các tác nhân tích hợp nguồn lực trên các nền tảng gắn kết và giá trị được đồng tạo sinh qua tương tác đa bên. Tuy nhiên, công trình này được phát triển chủ yếu dựa trên các tổ chức chuyên nghiệp lớn nên chưa giải thích được cơ chế qua đó hệ sinh thái tạo ra tăng trưởng kinh doanh ở cấp độ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Lý thuyết năng lực động được Teece và cộng sự (1997) định nghĩa là khả năng của doanh nghiệp trong việc tích hợp, xây dựng và tái cấu hình các năng lực nội tại và ngoại tại nhằm thích ứng với môi trường thay đổi nhanh chóng. Teece (2007) cụ thể hóa năng lực động thành 3 nhóm vi cơ sở gồm: nhận diện cơ hội, nắm bắt cơ hội và tái cấu hình nguồn lực. Eisenhardt và Martin (2000) bổ sung quan điểm rằng, năng lực động không phải là khái niệm trừu tượng mà là tập hợp các quy trình cụ thể có thể quan sát được. Trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thị trường mới nổi, Ngo (2023) chứng minh rằng, định hướng khởi nghiệp là tiền đề quan trọng cho năng lực động, còn Sahu và Panda (2024) bổ sung bằng chứng rằng doanh nghiệp nhỏ và vừa nằm trong hệ sinh thái có kết nối tốt thường thể hiện khả năng phục hồi và hiệu quả cao hơn.
Lý thuyết gắn kết cộng đồng khách hàng được Kumar và Pansari (2016) phát triển toàn diện qua kiểm định trên dữ liệu 120 doanh nghiệp, qua đó chứng minh gắn kết khách hàng là một cấu trúc đa chiều với 4 cơ chế tạo giá trị: đóng góp trực tiếp qua mua hàng, giới thiệu khách hàng mới, tác động lên cộng đồng và phản hồi cải tiến sản phẩm. Vivek và cộng sự (2012) bổ sung chiều kích cảm xúc, lập luận rằng gắn kết thực sự đòi hỏi cả 3 yếu tố là nhận thức, cảm xúc và hành vi. Bối cảnh thể thao tham gia tạo ra điều kiện đặc biệt thuận lợi cho việc hình thành gắn kết mạnh, bởi sự kiện thể thao mang lại trải nghiệm cùng nhau vượt qua thử thách, một trong những cơ chế tạo liên kết cộng đồng mạnh nhất theo các nhà tâm lý học xã hội (Whitehouse và cộng sự, 2017; Emerald SBM, 2025).
Khoảng trống nghiên cứu
Kết quả phân tích so sánh 3 dòng lý thuyết cho thấy chúng vận hành tương đối độc lập với nhau và chưa được tích hợp để giải thích tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tại thị trường mới nổi. Bảng dưới hệ thống hóa khoảng trống lý thuyết và đóng góp tích hợp của khung SECGF.
Bảng: Phân tích khoảng trống lý thuyết và đóng góp của SECGF
| Dòng lý thuyết | Đóng góp đã có | Giới hạn còn tồn tại | SECGF bổ sung |
|---|---|---|---|
| Hệ sinh thái kinh doanh | Cơ chế tạo giá trị; doanh nghiệp đầu mối; Sport Ecosystem Logic | Chỉ nghiên cứu tổ chức chuyên nghiệp lớn; bỏ qua SME tư nhân | Doanh nghiệp đầu mối là sport SME; xây dựng từ dưới lên |
| Năng lực động | Khung nhận diện cơ hội, nắm bắt cơ hội và tái cấu hình nguồn lực | Thiếu vận hành hóa cho ngành thể thao | Ba năng lực động cụ thể của sport SME |
| Gắn kết khách hàng | Cấu trúc đa chiều; 4 kênh tạo giá trị | Đo ở cấp thương hiệu đơn lẻ | Vai trò biến trung gian; vòng quay cộng đồng tăng trưởng |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Khoảng trống thứ nhất nằm ở sự thiếu vắng nghiên cứu về hệ sinh thái thể thao ở cấp độ doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân. Trong dòng nghiên cứu về hệ sinh thái thể thao, Woratschek và cộng sự (2014), Buser và cộng sự (2022) đã xây dựng các khung lý thuyết có giá trị nhưng đơn vị phân tích đều là các tổ chức thể thao lớn được bảo trợ thể chế. Khoảng trống thứ hai liên quan đến sự thiếu cụ thể hóa lý thuyết năng lực động cho ngành thể thao. Eisenhardt và Martin (2000) đã chỉ ra rằng, Lý thuyết năng lực động của Teece và cộng sự (1997) quá trừu tượng để có giá trị dự báo trong thực tiễn nếu không được vận hành hóa thành các quy trình cụ thể theo từng ngành. Khoảng trống thứ ba là sự thiếu vắng của vai trò trung gian chiến lược trong Lý thuyết gắn kết khách hàng. Các nghiên cứu về gắn kết khách hàng như Kumar và Pansari (2016) và Vivek và cộng sự (2012) chủ yếu xem gắn kết như một biến kết quả cần đạt được hoặc như một biến độc lập tác động lên doanh thu. Chưa có nghiên cứu nào đặt gắn kết cộng đồng vào vai trò biến trung gian chiến lược trong chuỗi nhân quả từ chiến lược doanh nghiệp đến tăng trưởng kinh doanh.
XÂY DỰNG KHUNG LÝ THUYẾT VÀ PHÁT TRIỂN CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Mô hình nghiên cứu đề xuất
Khung lý thuyết SECGF được xây dựng trên luận điểm trung tâm rằng, tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tại thị trường mới nổi không được tạo ra trực tiếp từ chiến lược hệ sinh thái mà phải thông qua cơ chế trung gian là gắn kết cộng đồng khách hàng. Cơ chế này hoạt động như một vòng quay tự khuếch đại theo thời gian. Luận điểm tích hợp 3 dòng lý thuyết theo logic 3 tầng: Lý thuyết hệ sinh thái giải thích tại sao doanh nghiệp cần xây dựng nhiều thương hiệu bổ trợ; Lý thuyết năng lực động giải thích bằng cách nào doanh nghiệp vận hành hệ sinh thái đó; Lý thuyết gắn kết cộng đồng giải thích cơ chế nào chuyển hóa chiến lược thành tăng trưởng kinh doanh.
Mô hình SECGF gồm 4 nhóm biến có quan hệ nhân quả rõ ràng. Nhóm biến độc lập bao gồm 3 năng lực hệ sinh thái: Tích hợp đa thương hiệu (X1) là năng lực kết nối có chủ đích các thương hiệu trong hệ sinh thái để tạo ra giá trị chéo và chia sẻ tệp khách hàng; Năng lực tổ chức sự kiện (X2) là năng lực biến sự kiện thể thao thành cơ chế thu hút, gắn kết và chuyển đổi người tham gia thành thành viên cộng đồng; Chiến lược nền tảng kỹ thuật số (X3) là năng lực kết nối các thành phần hệ sinh thái và duy trì tương tác cộng đồng liên tục ngoài ranh giới từng sự kiện. Biến trung gian là Gắn kết cộng đồng khách hàng (M), được đo lường theo 2 chiều kích: gắn kết nhận thức và hành vi, và gắn kết cảm xúc. Biến phụ thuộc là Tăng trưởng bền vững (Y), được đo lường qua 3 chiều hành vi của khách hàng: mức độ trung thành và tái sử dụng dịch vụ, mức độ mua chéo nhiều thương hiệu trong hệ sinh thái và mức độ giới thiệu truyền miệng chủ động. Biến điều tiết là Đặc điểm thị trường mới nổi (W), phản ánh mức độ phát triển thị trường thể thao, sức mạnh văn hóa cộng đồng địa phương và cường độ cạnh tranh từ thương hiệu quốc tế.
Điểm lý thuyết độc đáo nhất của SECGF là cơ chế vòng quay cộng đồng - tăng trưởng, tức một vòng phản hồi tự khuếch đại theo thời gian. Cơ chế diễn ra theo trình tự: chiến lược hệ sinh thái tạo ra nhiều điểm tiếp xúc đa dạng với khách hàng; khách hàng trải nghiệm giá trị tổng hợp qua nhiều điểm tiếp xúc đó; trải nghiệm phong phú hình thành gắn kết cộng đồng; cộng đồng gắn kết tạo ra giới thiệu truyền miệng; giới thiệu truyền miệng thu hút thành viên mới; thành viên mới tham gia sự kiện và mua sản phẩm; sự kiện và doanh thu lớn hơn cho phép tổ chức sự kiện quy mô hơn và nâng cao trải nghiệm; trải nghiệm tốt hơn lại củng cố gắn kết cộng đồng, và vòng quay tiếp tục.
Các giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên cơ chế nhận dạng đa điểm tiếp xúc: khi khách hàng tiếp cận doanh nghiệp qua nhiều thương hiệu khác nhau trong cùng một hệ sinh thái, họ dần hình thành nhận thức rằng mình không đơn thuần là người mua hàng của một thương hiệu mà là thành viên của cả một cộng đồng thể thao. Tuy nhiên, tác động tích cực chỉ xảy ra khi các thương hiệu trong hệ sinh thái có sự nhất quán về chất lượng trải nghiệm và thực sự tạo ra điểm giao thoa trong hành trình của khách hàng. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H1: Mức độ tích hợp đa thương hiệu trong hệ sinh thái của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa có tác động tích cực đến Gắn kết cộng đồng khách hàng.
Sự kiện thể thao cộng đồng tạo ra trải nghiệm cùng nhau vượt qua thử thách và đạt mục tiêu, là cơ chế tạo liên kết cảm xúc mạnh nhất theo các nhà tâm lý học xã hội (Whitehouse và cộng sự, 2017). Emerald SBM (2025) xác nhận trong bối cảnh marathon rằng người tham gia sự kiện thể thao phát triển gắn kết cảm xúc với cả cộng đồng người tham gia lẫn tổ chức sự kiện. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H2: Năng lực tổ chức sự kiện thể thao có tác động tích cực đến Gắn kết cộng đồng khách hàng.
Nền tảng số giải quyết bài toán khoảng cách thời gian giữa các sự kiện, vốn là điểm yếu lớn nhất của mô hình kinh doanh dựa trên sự kiện. Rozak và cộng sự (2023) chứng minh mức độ tương tác số là yếu tố dự báo mạnh mẽ hiệu quả doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thị trường mới nổi. Nền tảng số cho phép doanh nghiệp duy trì nhận thức thương hiệu thường trực và tương tác cộng đồng liên tục giữa các sự kiện. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H3: Chiến lược nền tảng số có tác động tích cực đến Gắn kết cộng đồng khách hàng, đặc biệt ở chiều kích nhận thức và hành vi, đồng thời điều tiết tốc độ vòng quay cộng đồng.
Giả thuyết trung tâm của khung SECGF: Kumar và Pansari (2016) chứng minh gắn kết khách hàng tạo ra tăng trưởng qua 4 kênh là mua hàng lặp lại, giới thiệu khách hàng mới, tác động lên cộng đồng và phản hồi cải tiến. Trong bối cảnh doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa, 4 kênh này kết hợp với nhau tạo ra cơ chế tự duy trì. H4 có thêm sắc thái lý thuyết quan trọng liên quan đến giai đoạn phát triển của hệ sinh thái: ở giai đoạn đầu, gắn kết cộng đồng đóng vai trò trung gian hoàn toàn; ở giai đoạn trưởng thành, vai trò trung gian trở thành một phần. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H4: Gắn kết cộng đồng khách hàng có tác động tích cực đến Tăng trưởng bền vững và đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Chiến lược hệ sinh thái và Tăng trưởng.
Tại thị trường mới nổi như Việt Nam, 3 đặc điểm khuếch đại tác động của gắn kết cộng đồng lên tăng trưởng. Thứ nhất, chi phí quảng cáo đại chúng vẫn còn cao tương đối so với GDP bình quân nên giới thiệu truyền miệng từ cộng đồng có hiệu quả đầu tư cao hơn. Thứ hai, văn hóa cộng đồng mạnh khiến khuyến nghị từ người thân và bạn bè có trọng lượng lớn hơn quảng cáo (Hofstede, 1980). Thứ ba, lợi thế am hiểu cộng đồng địa phương của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tạo ra rào cản cạnh tranh mà thương hiệu quốc tế khó vượt qua (Ngo, 2023; Sahu và Panda, 2024). Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H5: Đặc điểm thị trường mới nổi điều tiết tích cực mối quan hệ giữa Gắn kết cộng đồng và Tăng trưởng bền vững.
Dựa vào các lý thuyết nền tảng và những nghiên cứu trước đây, tác giả đề xuất mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tại Việt Nam như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
Khung SECGF đóng góp vào 3 dòng nghiên cứu hiện tại theo những cách cụ thể. Đối với các nghiên cứu về quản lý thể thao, SECGF là khung lý thuyết đầu tiên định vị doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tư nhân như doanh nghiệp đầu mối trong hệ sinh thái thể thao, mở rộng logic hệ sinh thái thể thao của Buser và cộng sự (2022) xuống cấp độ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đối với các nghiên cứu về năng lực động, SECGF cụ thể hóa lý thuyết của Teece và cộng sự (1997) cho bối cảnh doanh nghiệp thể thao bằng cách xác định 3 năng lực cụ thể, qua đó phản hồi phê bình của Eisenhardt và Martin (2000). Đối với các nghiên cứu về gắn kết khách hàng, SECGF nâng vai trò của gắn kết khách hàng từ chỉ số đo lường marketing thành cơ chế tạo giá trị chiến lược, tức biến trung gian cầu nối giữa chiến lược hệ sinh thái và tăng trưởng kinh doanh.
Ngoài ra, SECGF có đóng góp phương pháp quan trọng là cung cấp một lộ trình kiểm định thực nghiệm có cấu trúc thông qua 5 giả thuyết có thể kiểm định bằng mô hình cấu trúc bình phương tối thiểu riêng phần. Đặc biệt, giả thuyết H4 có tính mới phương pháp cao khi đề xuất kiểm định sự thay đổi từ trung gian hoàn toàn sang trung gian một phần theo giai đoạn phát triển của hệ sinh thái.
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Trên cơ sở tổng hợp lý thuyết và các công trình nghiên cứu liên quan, nhóm nghiên cứu đã xây dựng thành công Khung lý thuyết tăng trưởng hệ sinh thái - Cộng đồng cho doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa (SECGF), tích hợp 3 dòng lý thuyết nền tảng gồm hệ sinh thái kinh doanh, năng lực động và gắn kết cộng đồng khách hàng. Khung lý thuyết nhấn mạnh vai trò trung gian của gắn kết cộng đồng trong mối quan hệ giữa chiến lược hệ sinh thái và tăng trưởng bền vững, đặc biệt làm rõ cơ chế vòng quay tự khuếch đại giữa cộng đồng và tăng trưởng, đồng thời đưa đặc điểm thị trường mới nổi vào làm biến điều tiết và đề xuất năm giả thuyết có thể kiểm định thực nghiệm.
Kết quả nghiên cứu hiện tại mang tính định hướng lý thuyết, đóng vai trò làm cơ sở khoa học vững chắc cho các bước nghiên cứu định lượng tiếp theo. Trong giai đoạn kế tiếp, nhóm tác giả sẽ tiến hành xây dựng hệ thống thang đo chi tiết dựa trên thang đo đã được kiểm định trong các nghiên cứu trước, phát triển bảng hỏi khảo sát và thu thập dữ liệu thực tế từ khách hàng của các doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tại Việt Nam nhằm kiểm định mô hình thông qua các công cụ phân tích thống kê hiện đại như mô hình cấu trúc bình phương tối thiểu riêng phần (PLS-SEM). Bên cạnh đó, các nghiên cứu so sánh đa thị trường trong khu vực Đông Nam Á và nghiên cứu theo chiều dọc theo dõi sự phát triển của doanh nghiệp thể thao theo thời gian cũng sẽ được triển khai nhằm kiểm định tính phổ quát của khung lý thuyết và phát hiện các điều chỉnh cần thiết cho từng bối cảnh thị trường cụ thể.
Tài liệu tham khảo:
1. Adner, R. (2006). Match your innovation strategy to your innovation ecosystem. Harvard Business Review, 84(4), 98-107.
2. Adner, R., & Kapoor, R. (2010). Value creation in innovation ecosystems: How the structure of technological interdependence affects firm performance in new technology generations. Strategic Management Journal, 31(3), 306-333.
3. Buser, M., Woratschek, H., Dickson, G., & Schönberner, J. (2022). Toward a sport ecosystem logic. Journal of Sport Management, 36(6), 534-547.
4. Corley, K. G., & Gioia, D. A. (2011). Building theory about theory building: What constitutes a theoretical contribution? Academy of Management Review, 36(1), 12-32.
5. Eisenhardt, K. M., & Martin, J. A. (2000). Dynamic capabilities: What are they? Strategic Management Journal, 21(10-11), 1105-1121.
6. Emerald SBM. (2025). Sports as service: Customer engagement in participant sports through the lens of marathons. Sport, Business and Management: An International Journal. https://doi.org/10.1108/SBM-10-2024-0155
7. Hair, J. F., Henseler, J., Dijkstra, T. K., & Sarstedt, M. (2022). A primer on partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) (3rd ed.). Sage Publications.
8. Hofstede, G. (1980). Culture's consequences: International differences in work-related values. Sage Publications.
9. IMARC Group. (2024). Vietnam sportswear market size, share and forecast report 2033. https://www.imarcgroup.com/vietnam-sportswear-market
10. Kumar, V., & Pansari, A. (2016). Competitive advantage through engagement. Journal of Marketing Research, 53(4), 497-514.
11. McKinsey & Company. (2022). A better way to build a brand: The community flywheel. McKinsey Quarterly. https://www.mckinsey.com
12. Ngo, Q. H. (2023). The impact of entrepreneurial orientation on SMEs' performance in a transitional economy: The mediating role of differentiation advantages and innovation capability. SAGE Open, 13(1). https://doi.org/10.1177/21582440231203035
13. Sahu, C. K., & Panda, R. K. (2024). Evaluating the relationship between entrepreneurial ecosystem, resilience and SME performance in post-pandemic period. Journal of Entrepreneurship and Public Policy, 13(3), 491-506.
14. Statista. (2024). Sports equipment: Vietnam market forecast. https://www.statista.com/outlook/cmo/toys-hobby/sports-equipment/vietnam
15. Teece, D. J. (2007). Explicating dynamic capabilities: The nature and microfoundations of (sustainable) enterprise performance. Strategic Management Journal, 28(13), 1319-1350.
16. Teece, D. J., Pisano, G., & Shuen, A. (1997). Dynamic capabilities and strategic management. Strategic Management Journal, 18(7), 509-533.
17. Vivek, S. D., Beatty, S. E., & Morgan, R. M. (2012). Customer engagement: Exploring customer relationships beyond purchase. Journal of Marketing Theory and Practice, 20(2), 122-146.
18. Whitehouse, H., McQuinn, B., Buhrmester, M., & Swann, W. B. (2017). Brothers in arms: Libyan revolutionaries bond like family. Proceedings of the National Academy of Sciences, 111(50), 17783-17785.
19. Woratschek, H., Horbel, C., & Popp, B. (2014). The sport value framework: A new fundamental logic for analyses in sport management. European Sport Management Quarterly, 14(1), 6-24.
| Ngày nhận bài: 25/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/8/2026; Ngày duyệt đăng: 26/8/2026 |
Các tin khác
Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota
Tác động của các loại hình văn hóa tổ chức đến cảm nhận tính hữu ích của dự toán linh hoạt: Cách tiếp cận từ mô hình PLS - SEM tại Việt Nam
Tác động của vốn trí tuệ đến hành vi đổi mới sáng tạo của nhân viên: Tổng quan lý thuyết và định hướng mô hình nghiên cứu
Định hướng ESG và hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam: Tiếp cận hồi quy Bayes
Phân tích các nhân tố tác động đến sự hài lòng của du khách đối với phát triển du lịch bền vững tại Đặc khu Phú Quốc tỉnh An Giang
Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam chi nhánh Bình Dương
Kinh nghiệm phát huy các nhân tố tác động đến kinh tế số ở một số quốc gia và hàm ý đối với Việt Nam
Các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp của khách du lịch nội địa
Phát triển kinh tế tư nhân ở Đồng Tháp trong kỷ nguyên mới: Thực trạng và giải pháp đột phá
