Marketing qua truyền thông xã hội: Nghiên cứu tại một số doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ thời trang tại Hà Nội

Nghiên cứu - Trao đổi 16:40 | 26/08/2026
Đối với các doanh nghiệp bán lẻ thời trang, đặc biệt tại thị trường Hà Nội, đặc điểm trực quan của sản phẩm và mức độ tham gia cao của người tiêu dùng trên mạng xã hội tạo ra nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu về cách thiết kế và tổ chức hoạt động marketing qua truyền thông xã hội.

ThS. Trương Đình Trang

Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

Email: trangtd@ptit.edu.vn

Tóm tắt

Trong bối cảnh mạng xã hội ngày càng trở thành kênh mua sắm quan trọng của người tiêu dùng, marketing qua truyền thông xã hội đã và đang trở thành công cụ chiến lược đối với các doanh nghiệp kinh doanh thời trang bán lẻ tại Việt Nam. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng hoạt động marketing qua truyền thông xã hội của một số doanh nghiệp thời trang tại thị trường Hà Nội gồm: Coolmate, May 10, Canifa và M2 dựa trên mô hình 6C của Kotler và cộng sự (2017). Thông qua việc đánh giá các yếu tố như: Nội dung truyền thông, Tính kết nối, Khả năng tương tác và Mức độ cá nhân hóa trên nền tảng mạng xã hội, nghiên cứu làm rõ những điểm mạnh, hạn chế cũng như sự khác biệt trong cách thức triển khai marketing xã hội giữa các doanh nghiệp thời trang. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing qua truyền thông xã hội, gia tăng trải nghiệm khách hàng, củng cố hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thời trang bán lẻ tại thị trường Hà Nội.

Từ khóa: Marketing, truyền thông xã hội, doanh nghiệp, kinh doanh bán lẻ, Hà Nội

Abstract

In the context of social media becoming an increasingly important shopping channel for consumers, social media marketing has emerged as a strategic tool for fashion retail businesses in Viet Nam. The study examines the current state of social media marketing practices among selected fashion enterprises in the Ha Noi market, namely Coolmate, May 10, Canifa, and M2, based on the 6C model proposed by Kotler et al. (2017). By evaluating key dimensions, including communication content, connectivity, interactivity, and personalization across social media platforms, the study identifies the strengths, limitations, and differences in social media marketing implementation among fashion enterprises. Based on these findings, the study proposes several solutions to improve social media marketing practices, enhance customer experience, strengthen brand image, and improve the competitiveness of fashion retail enterprises in the Ha Noi market.

Keywords: Marketing, social media, enterprises, retail business, Hanoi

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đối với các doanh nghiệp bán lẻ thời trang, đặc biệt tại thị trường Hà Nội, đặc điểm trực quan của sản phẩm và mức độ tham gia cao của người tiêu dùng trên mạng xã hội tạo ra nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu về cách thiết kế và tổ chức hoạt động marketing qua truyền thông xã hội (Social Media Marketing - SMM). Sự phát triển nhanh của các nền tảng mạng xã hội đang làm thay đổi cách doanh nghiệp thời trang tiếp cận, tương tác và duy trì quan hệ với khách hàng. Không chỉ là kênh truyền tải thông tin, mạng xã hội còn tạo điều kiện để doanh nghiệp xây dựng nội dung, hình thành cộng đồng, tổ chức các cuộc hội thoại và thu nhận phản hồi trực tiếp từ người tiêu dùng. Tuy nhiên, việc đánh giá hoạt động SMM cần được xem xét một cách có hệ thống, từ vai trò của doanh nghiệp và nội dung, khả năng kiểm soát thông tin, đến sự hình thành cộng đồng, cuộc hội thoại và phản ứng của người tiêu dùng. Trên cơ sở mô hình 6C của Kotler và cộng sự (2017), nghiên cứu đã phân tích hoạt động marketing qua truyền thông xã hội tại một số doanh nghiệp bán lẻ thời trang ở Hà Nội gồm: Coolmate, May 10, Canifa và M2. Từ đó xác định các mối quan hệ giữa các thành phần trong mô hình và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Mô hình 6C của Kotler và cộng sự (2017)

Truyền thông xã hội là các nền tảng trực tuyến cho phép người dùng tạo lập, chia sẻ nội dung và tương tác hai chiều thông qua internet. Trong bối cảnh số hóa mạnh mẽ hiện nay, marketing qua truyền thông xã hội trở thành công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng, gia tăng tương tác và xây dựng hình ảnh thương hiệu. So với marketing truyền thống, marketing qua truyền thông xã hội có ưu thế về khả năng lan truyền nhanh, cá nhân hóa nội dung và kết nối trực tiếp với người tiêu dùng (Kaplan và Haenlein, 2010).

Mô hình 6C của Kotler và cộng sự (2017) xây dựng để phân tích hoạt động marketing qua truyền thông xã hộ gồm 6 thành phần: Công ty (Company), Nội dung (Content), Kiểm soát (Control), Cộng đồng (Community), Cuộc hội thoại (Conversation) và Người tiêu dùng (Consumer). Theo mô hình, doanh nghiệp tạo ra và phân phối nội dung trên nền tảng số nhằm thu hút cộng đồng trực tuyến, từ đó hình thành các cuộc hội thoại và tác động đến hành vi người tiêu dùng. Nội dung hấp dẫn, khả năng tương tác cao và sự tham gia của cộng đồng giúp gia tăng mức độ gắn kết với thương hiệu và thúc đẩy niềm tin thương hiệu trong môi trường số. Đối với ngành thời trang bán lẻ, truyền thông xã hội không chỉ hỗ trợ quảng bá sản phẩm mà còn góp phần tạo dựng cộng đồng khách hàng và nâng cao trải nghiệm thương hiệu.

Kotler và cộng sự đã xây dựng mô hình 6C với 6 yếu tố khác biệt, tương quan với nhau giải thích việc tạo lập và duy trì sự tham gia của người tiêu dùng nhìn từ quan điểm công ty. Internet là một phương tiện quan trọng nhằm ‘‘kéo” khách hàng đến nội dung và cuối cùng thu hút đến chính công ty. Tức là hiệu quả của các công cụ Website, công cụ tìm kiếm, truyền thông xã hội (facebook, youtube...), quảng cáo hiện thị, email marketing... trên các máy tính cá nhân, điện thoại di động, máy tính bảng sử dụng internet (4G, 5G). Vì vậy, marketing qua truyền thông xã hội theo 6C không chỉ giúp công ty thúc đẩy bán hàng, điều hướng luồng khách hàng, cung cấp thông tin đến khách hàng, mà còn giúp khách hàng có những so sánh khi mua hàng và lựa chọn được những sản phẩm phù hợp. Marketing qua truyền thông xã hội chủ yếu là phương tiện để truyền tải nội dung (dưới dạng từ, văn bản, hình ảnh và video) được tạo ra bởi hàng triệu khách hàng tiềm năng trên khắp thế giới và theo quan điểm của công ty, điều này thực sự có thể là nguồn cảm hứng để tạo ra nhiều giá trị hơn cho những khách hàng này.

Mô hình 6C cũng phân biệt giữa cộng đồng trực tuyến và khách hàng tiềm năng, vì khách hàng tiềm năng thường là tập con của cộng đồng trực tuyến. Cộng đồng trực tuyến cũng có thể bao gồm những người đã từng nghe về hoạt động trên web nhưng không trực tiếp tham gia vào những hoạt động này. Nói chung, dường như khách hàng ngày càng tham gia nhiệt tình vào các hoạt động marketing, họ càng kết nối với thương hiệu, mang lại nhiều lợi ích hơn ngoài việc quyết định mua hàng tại thời điểm đó.

Phương tiện truyền thông xã hội cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi của những người không phải là khách hàng. Hầu hết các nhà marketing qua truyền thông xã hội cố gắng khuấy động khách hàng tiềm năng. Điều này đã dẫn đế sự chia sẻ trong xã hội theo đó thành viên cộng đồng trực tuyến chia sẻ suy nghĩ và hoạt động của họ đến những người lạ trên toàn thế giới. Việc chia sẻ xã hội này đã gợi mở cuộc sống của người tiêu dùng cá nhân mà các công ty có thể khai thác để điều chỉnh dịch vụ của họ phù hợp hơn với sở thích của người tiêu dùng (Hollensen và Opresnik, 2015). Mô hình 6C do Philip Kotler đề xuất nhằm lý giải cách thương hiệu có thể tạo dựng niềm tin thông qua marketing qua phương tiện truyền thông xã hội.

Giả thuyết nghiên cứu

Theo Kaplan và cộng sự (2010), công ty đóng vai trò quan trọng trong việc khởi tạo và duy trì các cuộc hội thoại với khách hàng trên nền tảng số. Khi công ty chủ động tham gia, phản hồi kịp thời và truyền tải hình ảnh thương hiệu một cách rõ ràng thì cuộc hội thoại trở nên sống động và có định hướng. Theo đó, hình ảnh thương hiệu được thể hiện qua ngôn ngữ, thông điệp và thái độ của doanh nghiệp sẽ góp phần tạo nên nền tảng giao tiếp hiệu quả với khách hàng. Sự hiện diện chủ động và nhất quán của công ty thông qua hình ảnh thương hiệu trên mạng xã hội giúp định hình cuộc hội thoại và ảnh hưởng đến nhận thức công chúng. Do đó, công ty càng chủ động tham gia vào các cuộc trò chuyện, khả năng tạo ra ảnh hưởng tích cực đến khách hàng càng cao. Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết như sau:

H1: Công ty có ảnh hưởng tích cực đến Cuộc hội thoại.

Theo Pulizzi, J. (2014), nội dung ở đây chính là nội dung trên mạng xã hội. Nội dung trên mạng xã hội chất lượng cao, hấp dẫn và có giá trị thực tiễn có thể tác động tích cực đến Cuộc hội thoại, tức là thúc đẩy người dùng tham gia tương tác. Nội dung trên mạng xã hội không chỉ là kênh truyền tải thông tin mà còn là chất xúc tác khơi gợi phản hồi, bình luận, chia sẻ và các hành vi tham gia khác. Khi nội dung được cá nhân hóa, sáng tạo và phản ánh đúng mối quan tâm của khách hàng, cuộc hội thoại có xu hướng phát triển tích cực hơn. Nội dung chất lượng là yếu tố then chốt để thu hút sự chú ý và tạo điều kiện cho người dùng tương tác, thúc đẩy cuộc hội thoại diễn ra một cách tự nhiên và hiệu quả. Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết:

H2: Nội dung có ảnh hưởng tích cực đến Cuộc hội thoại.

Theo Kotler và cộng sự (2017), kiểm soát thông tin là khả năng mà doanh nghiệp có thể chủ động định hướng, điều chỉnh và kiểm soát nội dung trao đổi theo nhu cầu và mục tiêu giao tiếp. Việc có quyền kiểm soát giúp người tham gia cảm thấy an tâm, tự tin và tích cực tham gia trao đổi. Khi thông tin chính xác, minh bạch và được điều phối tốt, cuộc hội thoại sẽ mang tính xây dựng, hạn chế tiêu cực và tăng độ tin cậy từ phía người tiêu dùng. Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết như sau:

H3: Kiểm soát thông tin có ảnh hưởng tích cực đến Cuộc hội thoại.

Theo Kotler và cộng sự (2017), cuộc hội thoại là quá trình trao đổi hai chiều giữa doanh nghiệp và cộng đồng trực tuyến. Khi doanh nghiệp duy trì các cuộc hội thoại thường xuyên, cung cấp thông tin phù hợp và khuyến khích người dùng phản hồi, các tương tác riêng lẻ có xu hướng được duy trì và liên kết thành những mối quan hệ cộng đồng bền vững hơn. Vì vậy, chất lượng và mức độ thường xuyên của cuộc hội thoại có thể thúc đẩy sự hình thành, phát triển và gắn kết của cộng đồng khách hàng xung quanh thương hiệu. Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết:

H4: Cộng đồng có ảnh hưởng tích cực đến Cuộc hội thoại.

Theo Kotler và cộng sự (2017), các thông tin, kinh nghiệm và giá trị cảm xúc của Cuộc hội thoại sẽ tác động đến nhận thức, thái độ và hành vi của người tiêu dùng. Khi người tiêu dùng được tham gia vào cuộc hội thoại với thương hiệu, họ cảm thấy được lắng nghe và có thể bị ảnh hưởng bởi các thông tin, kinh nghiệm và giá trị cảm xúc của Cuộc hội thoại. Điều này không chỉ tăng mức độ gắn bó mà còn cải thiện cảm nhận cá nhân về thương hiệu. Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết:

H5: Cuộc hội thoại có ảnh hưởng tích cực đến Người tiêu dùng.

Theo Kotler và cộng sự (2017), cộng đồng trực tuyến tạo ra môi trường để người tiêu dùng trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và hình thành cảm nhận về thương hiệu. Khi người tiêu dùng cảm nhận được sự thuộc về một cộng đồng có cùng mối quan tâm, họ có xu hướng tham gia tích cực hơn, tiếp tục theo dõi, sử dụng và giới thiệu sản phẩm hoặc thương hiệu. Do đó, mức độ gắn kết của cộng đồng có thể tác động tích cực đến phản ứng và hành vi của người tiêu dùng. Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết:

H6: Cộng đồng có ảnh hưởng tích cực đến Người tiêu dùng.

Mô hình nghiên cứu

Từ 6 giả thuyết nghiên cứu nói trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu

Marketing qua truyền thông xã hội: Nghiên cứu tại một số doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ thời trang tại Hà Nội

Nguồn: Tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Hình thành mô hình khái quát: HT = f(CT, ND, KS, CĐ); NTD = f(HT) và NTTH = f(HT, NTD). Mô hình đo lường có 6 thang đo và 23 biến quan sát.

Tất cả các biến trong mô hình được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ, bao gồm: 1 - Rất không đồng ý, 2 - Không đồng ý, 3 - Trung lập, 4 - Đồng ý và 5 - Rất đồng ý. Nhóm tác giả tiến hành khảo sát 360 người đã từng theo dõi, tương tác hoặc mua sắm tại Coolmate, May 10, Canifa và M2. Các đáp viên thường xuyên sử dụng và có kinh nghiệm mua sắm trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, TikTok và YouTube, trong độ tuổi từ 18 đến 50, chủ yếu là sinh viên, nhân viên văn phòng và cơ quan quản lý nhà nước.

Tác giả phát ra 360 phiếu khảo sát, sau quá trình làm sạch dữ liệu còn lại 352 phiếu hợp lệ để đưa vào phân tích. Kết quả kiểm tra cho thấy dữ liệu có phân phối xấp xỉ chuẩn, do đó việc sử dụng phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) là phù hợp. Theo Hair và cộng sự (2006), kích thước mẫu tối thiểu trong SEM được xác định dựa trên số biến quan sát với tỷ lệ tối thiểu 10 quan sát cho một biến đo lường. Nghiên cứu này sử dụng 32 biến quan sát nên kích thước mẫu tối thiểu cần đạt là 320 quan sát. Với 352 phiếu hợp lệ, nghiên cứu đáp ứng yêu cầu về cỡ mẫu và phù hợp để thực hiện phân tích SEM. Bài viết lựa chọn khách hàng tương tác và mua sắm tại Coolmate, May 10, Canifa và M2 bởi đây là những doanh nghiệp thời trang bán lẻ có hoạt động SMM tương đối nổi bật và thu hút lượng lớn khách hàng tương tác trên các nền tảng số trong những năm gần đây.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kiểm định thang đo

Bảng 1: Kết quả tổng hợp các thang đo

TT

Thang đo

Hệ số CA

Kết quả

1

Công ty (CT)

0,803

Chất lượng tốt

2

Nội dung (ND)

0,830

Chất lượng tốt

3

Sự kiểm soát (KS)

0,840

Chất lượng tốt

4

Cộng đồng (CĐ)

0,836

Chất lượng tốt

5

Cuộc hội thoại (HT)

0,847

Chất lượng tốt

6

Người tiêu dùng (NTD)

0,840

Chất lượng tốt

Nguồn: Tác giả xử lý trên SPSS 20.0

Kết quả ở Bảng 1 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha (CA) của các biến quan sát đều > 0,8, do đó tất cả các biến quan sát đảm bảo chất lượng tốt.

Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Kết quả kiểm định EFA cho các biến độc lập CT, ND, KS và CĐ; biến trung gian HT, CĐ và FEA cho biến phụ thuộc NTD đều đảm bảo yêu cầu dựa trên các hệ số KMO và Sig.

Bảng 2: Tổng hợp kết quả EFA

Component (Nhân tố)

1

2

3

4

5

6

KS3

0,785

KS4

0,766

KS2

0,739

KS1

0,729

ND3

0,811

ND2

0,753

ND4

0,703

ND1

0,703

CT4

0,763

CT2

0,720

CT1

0,687

CT3

0,676

HT3

0,826

HT1

0,822

HT2

0,714

HT4

0,694

CD2

0,864

CD3

0,749

CD1

0,729

NTD3

0,820

NTD4

0,796

NTD2

0,775

NTD1

0,729

Thước đo KMO

0,814

0,716

0,823

Sig.

0,000

0,000

0,000

Giá trị Eigenvalues

2,351

1,923

2,440

Phương sai trích %

58,777

64,084

61,000

Nguồn: Tác giả xử lý trên SPSS 20.0

Kết quả mô hình cấu trúc tuyến tính ở Bảng 3 và Hình 2 cho thấy:

- Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (CB-SEM) cho thấy mô hình nghiên cứu có độ phù hợp rất tốt với dữ liệu thực nghiệm. Các chỉ số đánh giá mô hình đều đạt ngưỡng tiêu chuẩn, cụ thể: CMIN/df = 1,375 (< 3), TLI = 0,975, CFI = 0,978 và NFI = 0,925 (đều > 0,90), RMSEA = 0,033 (< 0,05). Điều này chứng tỏ mô hình nghiên cứu có độ tin cậy và mức độ phù hợp cao với dữ liệu khảo sát.

- Phân tích mối quan hệ nhân quả:

Kết quả kiểm định các mối quan hệ trong mô hình cho thấy biến HT (Cuộc hội thoại) chịu ảnh hưởng tích cực từ CT (Công ty), ND (Nội dung) và KS (Kiểm soát), với các hệ số tác động lần lượt là 0,368; 0,475 và 0,405 (p-value < 0,001). Trong đó, ND (Nội dung) có tác động mạnh nhất đến HT, cho thấy chất lượng nội dung trên mạng xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tương tác, bình luận và chia sẻ của khách hàng. Điều này khẳng định các hoạt động xây dựng nội dung sáng tạo, hấp dẫn và phù hợp với nhu cầu người dùng là yếu tố cốt lõi để gia tăng hiệu quả social media marketing. Do đó, các giả thuyết H1, H2 và H3 được chấp nhận.

Kết quả cũng cho thấy HT (Cuộc hội thoại) có ảnh hưởng rất mạnh đến CD (Cộng đồng) với hệ số tác động đạt 0,847 (p < 0,001). Điều này chứng minh rằng việc duy trì các cuộc hội thoại thường xuyên và hiệu quả trên mạng xã hội sẽ góp phần hình thành cộng đồng khách hàng gắn bó với thương hiệu. Vì vậy, giả thuyết H4 được chấp nhận.

Đối với biến NTD (Người tiêu dùng), kết quả cho thấy cả HT (Cuộc hội thoại) và CD (Cộng đồng) đều có tác động tích cực với hệ số lần lượt là 0,420 và 0,375. Điều này cho thấy khi khách hàng tham gia tương tác và cảm nhận được sự kết nối trong cộng đồng thương hiệu, họ sẽ có xu hướng tiếp tục theo dõi, mua sắm và giới thiệu sản phẩm cho người khác. Kết quả này khẳng định giả thuyết H5 và H6.

Ngoài ra, tất cả các biến quan sát trong mô hình đều có hệ số tải chuẩn hóa > 0,8 và p-value < 0,05, chứng tỏ các thang đo đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ cao. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu khẳng định mô hình 6C phù hợp trong việc giải thích hiệu quả marketing qua truyền thông xã hội tại các doanh nghiệp thời trang bán lẻ. Trong đó, nội dung, kiểm soát thông tin và vai trò của doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng thúc đẩy cuộc hội thoại, từ đó hình thành cộng đồng trực tuyến và tác động tích cực đến hành vi người tiêu dùng.Kết quả mô hình 6C có độ phù hợp rất tốt với dữ liệu thực nghiệm. Nội dung, kiểm soát và hoạt động từ công ty là 3 yếu tố quan trọng tạo nên Cuộc hội thoại (HT). Cuộc hội thoại chính là yếu tố quan trọng dẫn đến sự hình thành Cộng đồng và ảnh hưởng đến Người tiêu dùng.

Bảng 3: Kết quả các mối quan hệ trong mô hình SEM

Mối quan hệ

Estimate

C.R

P-value

Giải thích

HT ← CT

0,368

6,294

0,000

Công ty có vai trò định hướng và kiểm soát nội dung truyền thông, từ đó tạo điều kiện cho cuộc hội thoại diễn ra hiệu quả với khách hàng.

HT ← ND

0,475

7,805

0,000

Nội dung chất lượng và hấp dẫn giúp thúc đẩy sự tương tác, bình luận và chia sẻ của khách hàng trên mạng xã hội.

HT ← KS

0,405

6,633

0,000

Khi khách hàng được kiểm soát trải nghiệm (như cá nhân hóa, lựa chọn nội dung), họ sẵn sàng tham gia vào các cuộc hội thoại hơn.

CD ← HT

0,847

13,879

0,000

Cuộc hội thoại hiệu quả là nền tảng xây dựng cộng đồng khách hàng trung thành xung quanh thương hiệu.

NTD ← HT

0,420

3,573

0,000

Tương tác thường xuyên làm tăng ý định quay lại mua sắm hoặc tiếp tục theo dõi thương hiệu.

NTD ← CD

0,375

3,141

0,002

Khi khách hàng cảm thấy thuộc về cộng đồng, họ có xu hướng tiếp tục sử dụng và giới thiệu sản phẩm/dịch vụ.

Nguồn: Tác giả xử lý trên SPSS 20.0

Hình 2: Kết quả mô hình cấu trúc tuyến tính

Marketing qua truyền thông xã hội: Nghiên cứu tại một số doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ thời trang tại Hà Nội

Nguồn: Tác giả xử lý qua phần mềm AMOS

KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP

Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, Công ty (CT), Nội dung (ND) và Kiểm soát (KS) đều có ảnh hưởng tích cực đến Cuộc hội thoại (HT), trong đó Nội dung (ND) có mức tác động mạnh nhất (β = 0,475). Cuộc hội thoại (HT) tiếp tục có ảnh hưởng rất mạnh đến Cộng đồng (CD) (β = 0,847) và đồng thời tác động tích cực đến Người tiêu dùng (NTD) (β = 0,420). Bên cạnh đó, Cộng đồng (CD) cũng có ảnh hưởng tích cực đến Người tiêu dùng (NTD) (β = 0,375). Như vậy, kết quả thực nghiệm ủng hộ cả 6 giả thuyết H1 - H6 và cho thấy mô hình 6C có khả năng giải thích chuỗi tác động từ hoạt động của doanh nghiệp và nội dung trên mạng xã hội, thông qua cuộc hội thoại và cộng đồng, đến phản ứng của người tiêu dùng. Về mặt quản trị, doanh nghiệp thời trang cần ưu tiên nâng cao chất lượng nội dung, duy trì cuộc hội thoại hai chiều và phát triển cộng đồng trực tuyến để tăng mức độ tham gia và duy trì quan hệ với người tiêu dùng.

Một số giải pháp

Trong bối cảnh thị trường thời trang tại Hà Nội có mức độ cạnh tranh cao và người tiêu dùng ngày càng phụ thuộc vào mạng xã hội trong quá trình tìm kiếm thông tin và mua sắm, các doanh nghiệp bán lẻ thời trang cần chú trọng hoàn thiện hoạt động marketing qua truyền thông xã hội theo các định hướng sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp thời trang cần xây dựng chiến lược nội dung phù hợp với đặc điểm người tiêu dùng tại Hà Nội. Nhóm khách hàng trẻ, nhân viên văn phòng và sinh viên tại Hà Nội có xu hướng quan tâm đến tính thẩm mỹ, sự tiện lợi và xu hướng thời trang mới trên TikTok, Facebook và Instagram. Vì vậy, doanh nghiệp nên phát triển nội dung ngắn gọn, trực quan, mang tính xu hướng và có khả năng lan truyền cao như video ngắn, livestream thử đồ, phối đồ theo mùa hoặc theo phong cách công sở, streetwear và tối giản.

Thứ hai, doanh nghiệp thời trang cần tăng cường tính địa phương hóa trong hoạt động truyền thông xã hội. Các chiến dịch marketing nên gắn với văn hóa, phong cách sống và hành vi tiêu dùng của khách hàng Hà Nội như thời trang theo mùa, phong cách thanh lịch nơi công sở hoặc xu hướng “Made in Vietnam”. Việc kết hợp các địa điểm quen thuộc tại Hà Nội trong nội dung truyền thông như phố đi bộ, quán cà phê, khu mua sắm hoặc trường đại học sẽ giúp thương hiệu tạo cảm giác gần gũi và tăng mức độ nhận diện.

Thứ ba, doanh nghiệp thời trang cần đẩy mạnh tương tác hai chiều với khách hàng trên mạng xã hội. Người tiêu dùng tại Hà Nội có xu hướng tham khảo đánh giá và phản hồi từ cộng đồng trước khi mua sắm, do đó doanh nghiệp cần phản hồi nhanh chóng bình luận, tin nhắn và đánh giá của khách hàng. Đồng thời, nên tổ chức các hoạt động tương tác như livestream, mini game, bình chọn sản phẩm hoặc thử thách trên TikTok để gia tăng mức độ tham gia của người dùng.

Thứ tư, các doanh nghiệp thời trang cần xây dựng cộng đồng khách hàng trực tuyến theo từng phong cách tiêu dùng cụ thể. Có thể phát triển các nhóm cộng đồng dành cho khách hàng yêu thích thời trang công sở, thời trang tối giản hoặc thời trang bền vững nhằm tạo sự kết nối giữa khách hàng với thương hiệu. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên kết hợp các hoạt động offline tại Hà Nội như workshop phối đồ, hội chợ thời trang hoặc sự kiện dành cho khách hàng thân thiết để tăng cường sự gắn bó.

Thứ năm, doanh nghiệp thời trang cần ứng dụng công nghệ nhằm cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng trên nền tảng số. Việc sử dụng chatbot, gợi ý sản phẩm theo hành vi mua sắm, quảng cáo cá nhân hóa hoặc tích hợp thử đồ trực tuyến sẽ giúp nâng cao trải nghiệm người dùng và tăng hiệu quả chuyển đổi mua sắm trên mạng xã hội.

Cuối cùng, các thương hiệu thời trang tại Hà Nội cần chú trọng xây dựng hình ảnh thương hiệu gắn với giá trị cảm xúc và trách nhiệm xã hội. Những thông điệp như thời trang bền vững, tiêu dùng xanh, hỗ trợ sản phẩm Việt Nam hoặc lan tỏa phong cách sống tích cực sẽ giúp doanh nghiệp tạo sự đồng cảm với khách hàng trẻ tại Hà Nội, từ đó nâng cao niềm tin thương hiệu và ý định tiếp tục sử dụng của người tiêu dùng.

Tài liệu tham khảo:

1. Ashley, C., & Tuten, T. (2015). Creative strategies in social media marketing: An exploratory study of branded social content and consumer engagement, Psychology & Marketing, 32(1), 15–27.

2. Chu, S.-C., & Kim, Y. (2011). Determinants of consumer engagement in electronic word-of-mouth (eWOM) in social networking sites, International Journal of Advertising, 30(1), 47–75.

3. Hair, J. F., Anderson, R. E., Tatham, R. L., & Black, W. C. (2006). Multivariate Data Analysis (6th ed.), Prentice-Hall, Upper Saddle River, New Jersey.

4. Hollensen, S., Opresnik, M. O. (2015). Marketing: A Relationship Perspective (2nd ed.), Pearson Education.

5. Kaplan, A. M., & Haenlein, M. (2010). Users of the world, unite! The challenges and opportunities of social media, Business Horizons, 53(1), 59–68.

6. Kotler, P., Kartajaya, H., & Setiawan, I. (2017). Marketing 4.0: Moving from Traditional to Digital, Wiley, New Jersey.

7. Levy, M., & Weitz, B. (2004). Retail Management (5th ed.), McGraw-Hill Irwin, New York.

8. Mangold, W. G., & Faulds, D. J. (2009). Social media: The new hybrid element of the promotion mix, Business Horizons, 52(4), 357–365.

9. Pulizzi, J. (2014). Epic Content Marketing: How to Tell a Different Story, Break Through the Clutter, and Win More Customers by Marketing Less, McGraw-Hill Education, New York.

Ngày nhận bài: 29/6/2026; Ngày phản biện: 29/7/2026; Ngày duyệt đăng: 24/8/2026

Các tin khác

Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota

Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota

Đối với Việt Nam, vấn đề này mang tính thời sự rõ rệt. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nợ công của Việt Nam tăng nhanh từ 53,8% GDP năm 2007 lên 62,6% GDP năm 2017, tiệm cận ngưỡng trần 65% GDP được quy định trong Chiến lược nợ công.
Tác động của các loại hình văn hóa tổ chức đến cảm nhận tính hữu ích của dự toán linh hoạt: Cách tiếp cận từ mô hình PLS - SEM tại Việt Nam

Tác động của các loại hình văn hóa tổ chức đến cảm nhận tính hữu ích của dự toán linh hoạt: Cách tiếp cận từ mô hình PLS - SEM tại Việt Nam

Trong bối cảnh biến động, dự toán linh hoạt dần thay thế dự toán truyền thống nhờ tính thích ứng cao. Dựa trên Mô hình TAM, Lý thuyết ngẫu nhiên và Khung CVF, nghiên cứu này xem xét 4 loại hình văn hóa tổ chức (gia tộc, sáng tạo, thị trường, thứ bậc) định hình cảm nhận tính hữu ích của dự toán linh hoạt.
Tác động của vốn trí tuệ đến hành vi đổi mới sáng tạo của nhân viên: Tổng quan lý thuyết và định hướng mô hình nghiên cứu

Tác động của vốn trí tuệ đến hành vi đổi mới sáng tạo của nhân viên: Tổng quan lý thuyết và định hướng mô hình nghiên cứu

Trong nền kinh tế tri thức và bối cảnh chuyển đổi số, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc vào khả năng khai thác tri thức và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Định hướng ESG và hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam: Tiếp cận hồi quy Bayes

Định hướng ESG và hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam: Tiếp cận hồi quy Bayes

Tín dụng xanh giữ vai trò ngày càng quan trọng trong lộ trình phát triển bền vững của Việt Nam. Tuy nhiên, việc mở rộng tín dụng xanh đòi hỏi ngân hàng phải xây dựng năng lực thẩm định rủi ro môi trường, thu thập dữ liệu phát thải và đánh giá tác động dài hạn của dự án, những công việc vốn tốn kém và chưa được chuẩn hóa trong điều kiện Việt Nam.
Phân tích các nhân tố tác động đến sự hài lòng của du khách đối với phát triển du lịch bền vững tại Đặc khu Phú Quốc tỉnh An Giang

Phân tích các nhân tố tác động đến sự hài lòng của du khách đối với phát triển du lịch bền vững tại Đặc khu Phú Quốc tỉnh An Giang

Phú Quốc có nguồn tài nguyên du lịch hết sức đa dạng, phong phú và đặc sắc, nổi trội nhất là tài nguyên du lịch biển đảo, vườn quốc gia, hệ thống núi, sông suối trên đảo, các hoạt động sản xuất nông nghiệp (vườn tiêu, xưởng nước mắm…) cũng như các tài nguyên du lịch nhân văn.
Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam chi nhánh Bình Dương

Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam chi nhánh Bình Dương

Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2025 tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản thanh toán đạt 86,97% và nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận trên 95% giao dịch qua kênh số, cho thấy giai đoạn mở rộng quy mô hạ tầng về cơ bản đã hoàn tất. Tuy nhiên, độ phủ hạ tầng không đồng nghĩa với mức độ chấp nhận của người dùng.
Kinh nghiệm phát huy các nhân tố tác động đến kinh tế số ở một số quốc gia và hàm ý đối với Việt Nam

Kinh nghiệm phát huy các nhân tố tác động đến kinh tế số ở một số quốc gia và hàm ý đối với Việt Nam

Trong 2 thập niên gần đây, kinh tế số đã trở thành một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu.
Các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp của khách du lịch nội địa

Các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp của khách du lịch nội địa

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong 7 vùng du lịch trọng điểm của Việt Nam, song mức đóng góp vào doanh thu du lịch cả nước vẫn khiêm tốn so với tiềm năng của vùng. Trong vùng này, Mỹ Tho là một điểm đến du lịch nổi bật.
Phát triển kinh tế tư nhân ở Đồng Tháp trong kỷ nguyên mới: Thực trạng và giải pháp đột phá

Phát triển kinh tế tư nhân ở Đồng Tháp trong kỷ nguyên mới: Thực trạng và giải pháp đột phá

Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, không gian kinh tế mới của tỉnh Đồng Tháp đã mở ra nhiều tiềm năng phát triển, khi kết hợp được thế mạnh nông nghiệp nội địa của vùng Đồng Tháp Mười với thế mạnh hướng biển, phát triển công nghiệp và kinh tế biển của Tiền Giang (cũ).
Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tại Việt Nam

Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tại Việt Nam

Thị trường thể thao Việt Nam đang ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) đạt 7,79%/năm, đi cùng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào thể thao cộng đồng.