Kinh nghiệm phát huy các nhân tố tác động đến kinh tế số ở một số quốc gia và hàm ý đối với Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 08:51 | 27/08/2026
Trong 2 thập niên gần đây, kinh tế số đã trở thành một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

TS. Đào Mạnh Ninh

Khoa Cơ bản 1, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

Email: ninhdm@ptit.edu.vn

Tóm tắt

Sự phát triển của kinh tế số chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như thể chế, hạ tầng số, nguồn nhân lực số, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, tài chính và hệ sinh thái doanh nghiệp. Bài viết phân tích kinh nghiệm phát huy các nhân tố tác động đến kinh tế số của một số quốc gia: Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia; từ đó rút ra bài học cho Việt Nam nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế số theo hướng nhanh, bền vững và bao trùm.

Từ khóa: Kinh tế số, chuyển đổi số, nhân tố tác động, kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam

Abstract

The development of the digital economy is influenced by various factors, including institutions, digital infrastructure, digital human resources, innovation, data, finance, and the business ecosystem. This paper analyzes the experiences of China, Thailand, and Indonesia in effectively leveraging the factors influencing the digital economy and draws lessons for Viet Nam to promote the development of the digital economy in a rapid, sustainable, and inclusive manner.

Keywords: Digital economy, digital transformation, influencing factors, international experience, Viet Nam

GIỚI THIỆU

Trong 2 thập niên gần đây, kinh tế số đã trở thành một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Công nghệ số không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất, phân phối và tiêu dùng, mà còn tạo ra các mô hình kinh doanh mới, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế số được xác định là nhiệm vụ chiến lược trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn gặp nhiều khó khăn như chất lượng nguồn nhân lực số còn hạn chế, hạ tầng dữ liệu chưa đồng bộ, thể chế chưa theo kịp thực tiễn và năng lực đổi mới sáng tạo còn khiêm tốn.

Do đó, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế nhằm nhận diện các nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế số có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

Kinh nghiệm của Trung Quốc

Về chính sách phát triển hạ tầng số

Thời gian vừa qua, Trung Quốc chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng số, phát triển mạng thông tin thế hệ mới, mở rộng ứng dụng 5G để tạo tiền đề phát triển kinh tế số. Đặc điểm nổi bật của công nghệ 5G là năng lực truyền tải dữ liệu mạnh hơn rất nhiều so với các công nghệ trước đây. Do đó, công nghệ 5G có vai trò nền tảng, mở ra khả năng ứng dụng ở quy mô lớn chưa từng có cho các công nghệ mới, như dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT). Trung Quốc rất mạnh trong ứng dụng và phát triển mở rộng 5G không chỉ trong nước mà còn trên toàn cầu. Dự kiến, quy mô đầu tư 5G của Trung Quốc có thể lên tới 441 tỷ USD.

Dự báo, công nghệ 5G sẽ đóng góp khoảng 1.300 tỷ USD vào GDP toàn cầu, trong đó đóng góp của Trung Quốc là 220 tỷ USD. Năm 2020, Trung Quốc đầu tư cho cơ sở hạ tầng số lên đến 3.000 tỷ CNY (hơn 420 tỷ USD); kế hoạch 5 năm (2021- 2025) riêng đầu tư trực tiếp cho xây dựng cơ sở hạ tầng số là 10.000 tỷ CNY (hơn 1.400 tỷ USD). Năm 2025, tối thiểu 80% các ứng dụng doanh nghiệp mới của Trung Quốc sử dụng các công nghệ AI. Tháng 2/2022, Trung Quốc đã công bố kế hoạch “Dữ liệu phương Đông, điện toán phương Tây”, nhằm mở rộng phạm vi của các trung tâm dữ liệu để cải thiện khả năng xử lý, lưu trữ và tính toán dữ liệu của Trung Quốc (Phan Huy Thành, 2024).

Về chính sách phát triển nền tảng số

Trung Quốc đã hình thành hệ thống chiến lược kinh tế số liên kết ngang và thâm nhập dọc. Ở Trung ương, các cơ quan đã ban hành một hệ thống các văn bản chiến lược, quy hoạch, quy định, hướng dẫn phát triển kinh tế số. Ở địa phương, các tỉnh, thành phố của Trung Quốc ban hành chính sách để thực hiện theo định hướng của Trung ương. Năm 2021, các tỉnh, thành phố của Trung Quốc đã ban hành tổng cộng hơn 200 chính sách liên quan đến kinh tế số, tập trung vào các chính sách về công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), chính sách phát triển kinh tế số ngành, lĩnh vực, chính sách quản trị số và chính sách giá trị hóa dữ liệu.

Trung Quốc có nhiều đột phá về thể chế gắn với tầm nhìn và phản ứng nhanh với thực tiễn. Nước này coi dữ liệu là yếu tố đầu vào quan trọng, bắt buộc của nền kinh tế số, từ đó đã triển khai các hành động để cụ thể hóa tầm nhìn này như: (1) thành lập Cục Dữ liệu quốc gia trực thuộc Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia để phát triển và khai thác tiềm năng dữ liệu từ Trung ương tới địa phương; (2) ban hành quy định coi dữ liệu như một loại hàng hóa đặc biệt, được định giá và có thể được mua bán, trao đổi trên các sàn giao dịch dữ liệu; (3) hình thành ngành công nghiệp dữ liệu, tạo thêm nhiều nghề và vị trí việc làm mới so với trước đây, điển hình là nghề dán nhãn dữ liệu; (4) giá trị hóa dữ liệu, đưa dữ liệu trở thành một nguồn lực mới mà Nhà nước Trung Quốc hỗ trợ cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tức là trong các gói hỗ trợ của Nhà nước có thêm thành phần dữ liệu.

Về chính sách phát triển dịch vụ tài chính số

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) hiện đang thực hiện Kế hoạch phát triển công nghệ tài chính cho giai đoạn 2022-2025, nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính trong 4 năm. Đây là kế hoạch phát triển công nghệ tài chính lần thứ hai do PBOC công bố, tiếp theo sau kế hoạch phát triển công nghệ tài chính giai đoạn 2019-2021. Kế hoạch này đưa ra các cơ hội mở rộng công nghệ tài chính, các mục tiêu điều tiết chính của Chính phủ và kỳ vọng của Trung Quốc đối với các ứng dụng công nghệ tài chính tiên tiến và sự phát triển toàn diện lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) của đất nước.

Hệ thống ngân hàng hiện đại hóa phương thức cho vay ngang hàng (P2P lending) truyền thống bằng cách áp dụng công nghệ dựa trên Internet và cải thiện các quy định pháp lý nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận tín dụng. Hiện P2P lending rất phổ biến ở Trung Quốc và Internet đã mở rộng khả năng tiếp cận tài chính thông qua các hoạt động P2P lending với khoảng 2.000 trang Web. Đến nay Trung Quốc là nước dẫn đầu thị trường cho vay P2P trên toàn cầu với doanh số có thời điểm lên 192 tỷ USD, kế đến là Mỹ, Anh, Thụy Sĩ, Ý (Phan Huy Thành, 2024).

Về chính sách thúc đẩy khởi nghiệp số

Các sáng kiến, ý tưởng liên tục được triển khai thí điểm tại các địa phương. Nếu mang lại kết quả tốt sẽ triển khai diện rộng hoặc triển khai ở cấp quốc gia. Việc lựa chọn triển khai thí điểm phụ thuộc vào đặc điểm, thế mạnh của từng địa phương, tập trung vào các sáng kiến về chuyển đổi số ngành, lĩnh vực; phát triển công nghiệp thông minh; quản trị và khai thác dữ liệu; quản trị số, phát triển đô thị thông minh...

Nhằm phát triển kinh tế số mạnh hơn, tốt hơn và lớn hơn, Trung Quốc định hướng triển khai các mô hình liên kết và mô hình lực kéo để tận dụng, phát huy tốt nhất các đặc trưng và lợi thế công nghiệp của từng khu vực, từng vùng miền. Mô hình này đã giúp hình thành bố cục lực kéo theo tầng, tập trung vào các thành phố hạng I như Bắc Kinh, Thượng Hải và Thẩm Quyến.

Kinh nghiệm của Thái Lan

Về chính sách phát triển hạ tầng số

Thái Lan luôn xem kết cấu hạ tầng kỹ thuật số là yếu tố nền tảng đầu tiên, tiên quyết để bảo đảm sự sẵn sàng về công nghệ trong giải quyết các thách thức của quá trình chuyển đổi số (Bùi Kim Thanh và Lê Minh Hằng, 2020). Theo số liệu từ trang Datareportal, có 54,50 triệu người dùng internet ở Thái Lan vào tháng 1/2022. Tỷ lệ truy cập internet của Thái Lan ở mức 77,8% trên tổng dân số vào đầu năm 2022.

Bên cạnh đó, hệ thống pháp lý và thực thi pháp luật được xem là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế số. Thái Lan có sự thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò và nội hàm của kinh tế số trong xây dựng và hoạch định chính sách, nhất là trong các cơ quan Chính phủ. Từ đó, có sự định vị và định hướng chính xác, đúng tầm chương trình nghị sự về kinh tế số, cũng như việc phân bổ nguồn lực hợp lý và hiệu quả để triển khai trong thực tế. Chính phủ Thái Lan có chiến lược toàn diện và cơ quan chuyên trách nền kinh tế số như Bộ Kinh tế và xã hội số (MDES) nhằm bảo đảm chiến lược được thực hiện xuyên suốt và có đầu mối tập trung nguồn lực cũng như đánh giá mức độ hiệu quả của từng kế hoạch trong thực thi chiến lược.

Về chính sách phát triển nền tảng số

Thái Lan đã xây dựng Luật Chính phủ điện tử; các kế hoạch về Chính phủ số, tiêu chuẩn dịch vụ, kế hoạch bảo vệ dữ liệu, bảo mật dữ liệu, giám sát kế hoạch làm việc; thiết lập, nâng cấp kết cấu hạ tầng, trung tâm dữ liệu dùng chung của Chính phủ, công nghệ đám mây Chính phủ (G-Cloud) và hệ thống thư của Chính phủ (MailGoThai); xây dựng các dịch vụ thông minh với văn bản điện tử để phục vụ doanh nghiệp và người dân tốt hơn, nhất là xây dựng các nền tảng để tạo điều kiện cho khởi nghiệp, phát triển hệ thống thông tin di động (G-Chat). Hiện nay, Chính phủ Thái Lan đã triển khai chương trình nhận dạng số quốc gia (e-ID). Đặc biệt, đã khởi động cổng thông tin một cửa của Chính phủ (GovChanel) qua trang web (govchannel.co.th; egov.go.th; data.go.th; info.go.th), qua các ứng dụng di động trên các thiết bị thông minh và qua ki-ốt Chính phủ thông minh ở tất cả các tỉnh (Bùi Kim Thanh và Lê Minh Hằng, 2020).

Về chính sách phát triển dịch vụ tài chính số

Chính phủ Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính số. Trong đó điển hình là chính sách thúc đẩy hình thành các định chế cung cấp dịch vụ tài chính số, như thành lập Công ty fintech MONIX tại Bangkok vào năm 2020. Kết hợp sức mạnh sáng tạo, công nghệ và trải nghiệm người dùng của Tập đoàn SCB X (Thái Lan) và kỳ lân fintech Abakus (Trung Quốc), MONIX cung cấp các dịch vụ tài chính số, bao gồm cho vay tài chính vi mô, thanh toán và tiết kiệm, nhằm thực hiện sứ mệnh mà các tổ chức tài chính khác ở Thái Lan chưa đạt được: tài chính bao trùm trên quy mô lớn.

Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã có kế hoạch thúc đẩy sự phát triển tiền tệ kỹ thuật số bán lẻ sang giai đoạn thử nghiệm từ cuối năm 2022. Quá trình thí điểm sẽ chia làm 2 nhánh nền tảng và đổi mới. Tuy nhiên thực trạng tỉ lệ người dân sử dụng các đồng tiền ảo không cao sẽ là yếu tố gây bất lợi cho quá trình thử nghiệm, từ đó ảnh hưởng tới phát triển kinh tế số.

Về chính sách thúc đẩy khởi nghiệp số

Trong hệ sinh thái khởi nghiệp Thái Lan, các tập đoàn như Siam Cement Group và Singha dẫn đầu các khoản đầu tư khởi nghiệp của Thái Lan chứ không phải Chính phủ, khiến Thái Lan trở nên khác biệt với các quốc gia ASEAN khác. Ngoài ra, các nhà đầu tư mạo hiểm trong khu vực, chẳng hạn như Inspire Ventures có trụ sở tại Ả Rập Xê Út, đã vào Thái Lan, cung cấp nhiều lựa chọn tài trợ thay thế cho các doanh nhân Thái Lan.

Các mạng lưới và hỗ trợ trong hệ sinh thái khởi nghiệp Thái Lan được tạo ra và dẫn dắt chủ yếu bởi các tập đoàn và doanh nhân để chia sẻ và trau dồi kiến thức về những thành công và thất bại của các mô hình kinh doanh khác nhau và hỗ trợ các doanh nhân độc lập - những người đang ở giai đoạn biến ý tưởng của họ thành mô hình kinh doanh thực tế. Các doanh nhân bắt tay hợp tác để thành lập hiệp hội cụ thể cho ngành công nghiệp của họ.

Kinh nghiệm của Indonesia

Về chính sách phát triển hạ tầng số

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số hiện có của Indonesia bao gồm 224.573 km đường trục trên mặt đất và 123.869 km đường trục cáp quang dưới biển, 559.020 trạm thu phát cơ sở và 5 Gbps dung lượng vệ tinh bao gồm 5 vệ tinh viễn thông thương mại quốc gia và 4 vệ tinh liên lạc nước ngoài đang được thuê (số liệu thống kê năm 2022). Tại Indonesia, tốc độ kết nối Internet trung bình qua mạng di dộng là 15,82 Mbps, tăng 3,40 Mbps tương ứng 27,4% trong 12 tháng tính đến đầu năm 2022. Bên cạnh đó, tốc độ kết nối Internet cố định trung bình là 20,13 Mbps, tăng 4,04 Mbps 25,1% cùng kỳ.

Việc phát triển cơ sở hạ tầng ICT được Chính phủ Indonesia xác định như là yếu tố quyết định chính hỗ trợ công cuộc chuyển đổi số, phát triển kinh tế số. Đây là dự án lớn trong kế hoạch trung hạn từ 2020- 2024, với ngân sách cần thiết ước tính là 435.200 tỷ IDR (31,1 tỷ USD), trong đó 98% nguồn tài chính được nhắm mục tiêu huy động từ khu vực tư nhân (Phan Huy Thành, 2024).

Về chính sách phát triển nền tảng số

Trong hơn 10 năm gần đây, Indonesia đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc xây dựng nền tảng số. Chính phủ Indonesia đã triển khai nhiều chương trình và kế hoạch hành động nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, bao gồm: Chương trình “Making Indonesia 4.0” nhằm mục đích ứng dụng các công nghệ tiên tiến như robot, AI và IoT vào các lĩnh vực sản xuất, thương mại và dịch vụ; Chiến lược phát triển kinh tế số quốc gia đặt mục tiêu đưa Indonesia trở thành một trong những nền kinh tế số hàng đầu thế giới vào năm 2030; Kế hoạch hành động xây dựng Chính phủ số nhằm mục tiêu cung cấp các dịch vụ công hiệu quả và thuận tiện hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Về chính sách phát triển dịch vụ tài chính số

Ngành Fintech ở Indonesia được quản lý bởi 2 cơ quan Chính phủ là Ngân hàng Indonesia và Cơ quan Dịch vụ Tài chính Otoritas Jasa Keuangan (OJK). OJK đã đưa ra “Kế hoạch tổng thể cho ngành dịch vụ tài chính Indonesia (MPSJKI) 2021- 2025”, với mục tiêu chính là tăng cường khả năng phục hồi và khả năng cạnh tranh của ngành dịch vụ tài chính, đẩy nhanh chuyển đổi kỹ thuật số trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và phát triển hệ sinh thái ngành dịch vụ tài chính. Tính đến tháng 4/2022, tại Indonesia đã có 102 công ty P2P. Các công ty Fintech của Indonesia đang biến các dịch vụ tài chính thành động lực tăng trưởng kinh tế và nền kinh tế số đang có sự tăng trưởng nhanh chóng thông qua một loạt các dịch vụ tài chính sáng tạo, đặc biệt là trong các thị trường kỹ thuật số và cho vay P2P (Nguyễn Thị Phương Loan, 2018).

Về chính sách thúc đẩy khởi nghiệp số

Chính phủ Indonesia đang tập trung vào việc triển khai số hóa cho hơn 64 triệu doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa trên cả nước, khuyến khích họ “Chuyển đổi số và toàn cầu hóa”. Nhóm doanh nghiệp này hiện chiếm 99% tổng số doanh nghiệp của cả nước và 61% GDP. Chính phủ đặt mục tiêu 30 triệu doanh nghiệp nhóm này chuyển đổi kinh tế số vào năm 2024. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp này hoạt động theo kiểu truyền thống và công nghệ thấp. Ngoài ra, các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Indonesia chỉ đóng góp 14% vào kim ngạch xuất khẩu của quốc gia, thấp hơn nhiều so với các quốc gia cùng ngành trong khu vực như Thái Lan và Ấn Độ với tỷ lệ lần lượt là 29% và 48%. Điều này cho thấy, nếu Indonesia không cải thiện khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì sẽ ảnh hưởng đến phát triển kinh tế số (Phan Huy Thành, 2024).

HÀM Ý CHO VIỆT NAM

Từ những kinh nghiệm thực tiễn nêu trên, bài viết đề xuất một số hàm ý đối với Việt Nam.

Một là, Việt Nam cần xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật nhằm tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch cho phát triển kinh tế số. Cụ thể là sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật cho các ngành mới như thương mại điện tử, tài chính số, ngân hàng số... Cải cách thể chế để thu hút đầu tư vào công nghệ số trong các lĩnh vực đầu tư mạo hiểm theo hướng tạo thuận lợi cho các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, mua bán sáp nhập (M&A) doanh nghiệp công nghệ số. Xây dựng các kế hoạch cụ thể về chuyển đổi số cho các doanh nghiệp, gắn liền với các nguồn tài chính, kinh phí để tạo sự thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận với kinh tế số. Cần luật hóa những nội dung về kinh tế số để bảo đảm hành lang, cơ sở pháp lý vững chắc và thống nhất cho triển khai và thực hiện chương trình nghị sự về kinh tế số.

Đặc biệt, trong một số trường hợp, những sáng kiến số có thể dẫn đến những tranh cãi và lo ngại về vấn đề an ninh mạng, bảo mật dữ liệu người dùng, thông tin cá nhân như hệ thống e-ID của Thái Lan, nên cần xây dựng và ban hành một hệ thống pháp luật đồng bộ vừa tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi số trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, vừa bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp và Chính phủ.

Hai là, tăng cường vai trò của Chính phủ. Để phát triển kinh tế số, nhất thiết phải có sự hậu thuẫn từ Chính phủ với tư duy quản lý thông thoáng nhằm “cởi trói” cho các doanh nghiệp. Đặc biệt hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Các sáng kiến dựa vào công nghệ số mang lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội nếu được triển khai hợp lý.

Chính phủ cần có chính sách tăng cường nhận thức của người dân và doanh nghiệp về kinh tế số, các lợi ích và thách thức đi kèm, với các nội dung cụ thể theo từng ngành, lĩnh vực, đặc biệt thông qua các cơ quan, doanh nghiệp và trường học. Các cơ quan báo chí, thông tin truyền thông cần định hướng dư luận, giúp cho các doanh nghiệp, người dân và xã hội có nhận thức đúng về kinh tế số để có sự chuẩn bị tốt nhất, thích ứng xu hướng phát triển kinh tế số. Tăng cường trách nhiệm của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân trong xây dựng kinh tế số.

Đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật số: Chính phủ và khu vực tư nhân đều cần nỗ lực đầu tư nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật số cũng như công nghệ số hiện đại để triển khai ứng dụng số kết nối thông minh, đặc biệt là các ứng dụng thanh toán không dùng tiền mặt, hiệu quả hóa chính phủ điện tử. Đây là nền tảng quan trọng cần triển khai để tạo điều kiện cho các hoạt động trực tuyến. Trên cơ sở nền tảng viễn thông mạnh, Việt Nam tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu khác, song song với phát triển các yếu tố công nghệ đảm bảo an toàn an ninh thông tin trên không gian mạng. Để nâng cấp hạ tầng số, Chính phủ và các doanh nghiệp cần thực hiện các phương án triển khai dịch vụ 5G để theo kịp xu hướng thế giới. Công nghệ 5G sẽ tạo cơ sở hạ tầng tốt cho việc kết nối theo xu hướng IoT, mở ra nhiều cơ hội kinh doanh lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việt Nam có thể rút ra bài học kinh nghiệm từ Indonesia là tối ưu hóa các khoản đầu tư ở cấp quốc gia, hợp tác với những công ty công nghệ toàn cầu, vừa tránh cho việc cạnh tranh quá mức giữa các “ông lớn”, vừa tối ưu hóa cấu trúc chi phí và tối đa hóa hiệu suất cơ sở hạ tầng. Hoặc kinh nghiệm từ Thái Lan cho thấy, trong quá trình đầu tư xây dựng nền tảng số nói chung, kết cấu hạ tầng kỹ thuật số nói riêng, cần đặc biệt lưu ý đến những đặc thù của khu vực thành thị và nông thôn để có kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật số ở 2 khu vực này một cách cân bằng và hài hòa, góp phần rút ngắn khoảng cách và chênh lệch phát triển giữa thành thị và nông thôn.

Ba là, tăng tốc quá trình số hóa dịch vụ, sản phẩm, quy trình. Nhìn từ những hạn chế trong phát triển kinh tế số của Indonesia, Việt Nam có thể cân nhắc xem xét cơ cấu danh mục đầu tư ngành công nghiệp từ các ngành công nghiệp truyền thống công nghệ thấp sang các ngành công nghệ cao và tập trung vào kỹ thuật số. Ví dụ, có thể xem xét đến việc định hình lại lĩnh vực sản xuất theo hướng sử dụng nhiều thiết bị công nghệ thông tin, xe điện và năng lượng tái tạo, đồng thời đặt sản xuất linh kiện bán dẫn trong tương lai để giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhập khẩu công nghệ cao. Bên đó, cần đẩy nhanh việc áp dụng quy trình chuyển đổi số trên tất cả các lĩnh vực, bao gồm cả Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước và khu vực tư nhân.

Từ kinh nghiệm Thái Lan về nhận thức và phân bổ nguồn lực cho kinh tế số cho thấy, để thành công, cần xác định phát triển kinh tế số không đơn thuần là thúc đẩy phát triển công nghệ thông tin mà là quá trình số hóa toàn diện mọi lĩnh vực đời sống, chuyển trọng tâm từ xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật số sang ứng dụng các công nghệ kỹ thuật số để nâng cao giá trị và chất lượng, phát triển kinh tế xã hội. Do đó, cần có sự thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò và nội hàm của phát triển kinh tế số trong xây dựng và hoạch định chính sách, nhất là trong các cơ quan Chính phủ.

Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin phục vụ chuyển đổi kinh tế số: Bên cạnh việc nâng cấp hạ tầng kỹ thuật số, việc đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng. Chương trình đào tạo nhân lực công nghệ thông tin cần hướng đến đẩy nhanh xã hội hóa giáo dục công nghệ thông tin. Cập nhật giáo trình đào tạo công nghệ thông tin gắn với các xu thế công nghệ mới như internet kết nối vạn vật IoT, AI, công nghệ robot. Đẩy mạnh liên kết đào tạo giữa các trường và khu vực doanh nghiệp trong ứng dụng công nghệ thông tin. Đồng thời, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên tiếp cận lĩnh vực này càng sớm càng tốt, đẩy mạnh liên kết đào tạo và thực hành giữa các trường và khu vực doanh nghiệp trong ứng dụng công nghệ; nâng cao nhận thức của người dân về nhu cầu và giá trị của nghề nghiệp này trong xã hội.

Cần phải tạo lập hệ sinh thái toàn diện cho doanh nghiệp phát triển, người tiêu dùng được trở thành trung tâm của các sản phẩm, dịch vụ và đội ngũ lao động được đào tạo để tham gia khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Như vậy, vai trò của thị trường vốn, hoạt động đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp sáng tạo, thể chế pháp luật và các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, sự sẵn có của các viện nghiên cứu và phát triển công nghệ, trao đổi hợp tác giữa các trường đại học là rất quan trọng. Ngoài các chính sách về kinh tế, chính sách xã hội, an sinh xã hội cho người lao động ở các khu công nghiệp, chính sách bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, phát triển cân bằng, bao trùm cũng đóng vai trò lớn trong việc phát triển nền kinh tế số hiện đại, hiệu quả và đem lại lợi ích cho tất cả các nhóm dân cư.

Tài liệu tham khảo:

1. Bùi Kim Thanh và Lê Minh Hằng (2020). Phát triển kinh tế số tại Thái Lan và những gợi ý cho Việt Nam. Tạp chí Cộng sản. https://tapchicongsan.org.vn/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/ 817243/phat-trien-kinh-te-so-tai-thai-lan-va-nhung-goi-y-cho-viet- nam.aspx#]

2. Nguyễn Thị Phương Loan (2018). Phát triển nền kinh tế số nhìn từ kinh nghiệm một số nước châu Á và hàm ý đối với Việt Nam. Chuyên đề số 4/2018. Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương.

3. Phan Huy Thành (2024). Các nhân tố tác động đến kinh tế số các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng. Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân.

Ngày nhận bài: 25/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/8/2026; Ngày duyệt đăng: 26/8/2026

Các tin khác

Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota

Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota

Đối với Việt Nam, vấn đề này mang tính thời sự rõ rệt. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nợ công của Việt Nam tăng nhanh từ 53,8% GDP năm 2007 lên 62,6% GDP năm 2017, tiệm cận ngưỡng trần 65% GDP được quy định trong Chiến lược nợ công.
Tác động của các loại hình văn hóa tổ chức đến cảm nhận tính hữu ích của dự toán linh hoạt: Cách tiếp cận từ mô hình PLS - SEM tại Việt Nam

Tác động của các loại hình văn hóa tổ chức đến cảm nhận tính hữu ích của dự toán linh hoạt: Cách tiếp cận từ mô hình PLS - SEM tại Việt Nam

Trong bối cảnh biến động, dự toán linh hoạt dần thay thế dự toán truyền thống nhờ tính thích ứng cao. Dựa trên Mô hình TAM, Lý thuyết ngẫu nhiên và Khung CVF, nghiên cứu này xem xét 4 loại hình văn hóa tổ chức (gia tộc, sáng tạo, thị trường, thứ bậc) định hình cảm nhận tính hữu ích của dự toán linh hoạt.
Tác động của vốn trí tuệ đến hành vi đổi mới sáng tạo của nhân viên: Tổng quan lý thuyết và định hướng mô hình nghiên cứu

Tác động của vốn trí tuệ đến hành vi đổi mới sáng tạo của nhân viên: Tổng quan lý thuyết và định hướng mô hình nghiên cứu

Trong nền kinh tế tri thức và bối cảnh chuyển đổi số, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc vào khả năng khai thác tri thức và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Định hướng ESG và hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam: Tiếp cận hồi quy Bayes

Định hướng ESG và hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam: Tiếp cận hồi quy Bayes

Tín dụng xanh giữ vai trò ngày càng quan trọng trong lộ trình phát triển bền vững của Việt Nam. Tuy nhiên, việc mở rộng tín dụng xanh đòi hỏi ngân hàng phải xây dựng năng lực thẩm định rủi ro môi trường, thu thập dữ liệu phát thải và đánh giá tác động dài hạn của dự án, những công việc vốn tốn kém và chưa được chuẩn hóa trong điều kiện Việt Nam.
Phân tích các nhân tố tác động đến sự hài lòng của du khách đối với phát triển du lịch bền vững tại Đặc khu Phú Quốc tỉnh An Giang

Phân tích các nhân tố tác động đến sự hài lòng của du khách đối với phát triển du lịch bền vững tại Đặc khu Phú Quốc tỉnh An Giang

Phú Quốc có nguồn tài nguyên du lịch hết sức đa dạng, phong phú và đặc sắc, nổi trội nhất là tài nguyên du lịch biển đảo, vườn quốc gia, hệ thống núi, sông suối trên đảo, các hoạt động sản xuất nông nghiệp (vườn tiêu, xưởng nước mắm…) cũng như các tài nguyên du lịch nhân văn.
Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam chi nhánh Bình Dương

Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam chi nhánh Bình Dương

Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2025 tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản thanh toán đạt 86,97% và nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận trên 95% giao dịch qua kênh số, cho thấy giai đoạn mở rộng quy mô hạ tầng về cơ bản đã hoàn tất. Tuy nhiên, độ phủ hạ tầng không đồng nghĩa với mức độ chấp nhận của người dùng.
Các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp của khách du lịch nội địa

Các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp của khách du lịch nội địa

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong 7 vùng du lịch trọng điểm của Việt Nam, song mức đóng góp vào doanh thu du lịch cả nước vẫn khiêm tốn so với tiềm năng của vùng. Trong vùng này, Mỹ Tho là một điểm đến du lịch nổi bật.
Phát triển kinh tế tư nhân ở Đồng Tháp trong kỷ nguyên mới: Thực trạng và giải pháp đột phá

Phát triển kinh tế tư nhân ở Đồng Tháp trong kỷ nguyên mới: Thực trạng và giải pháp đột phá

Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, không gian kinh tế mới của tỉnh Đồng Tháp đã mở ra nhiều tiềm năng phát triển, khi kết hợp được thế mạnh nông nghiệp nội địa của vùng Đồng Tháp Mười với thế mạnh hướng biển, phát triển công nghiệp và kinh tế biển của Tiền Giang (cũ).
Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tại Việt Nam

Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp thể thao nhỏ và vừa tại Việt Nam

Thị trường thể thao Việt Nam đang ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) đạt 7,79%/năm, đi cùng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào thể thao cộng đồng.
Marketing qua truyền thông xã hội: Nghiên cứu tại một số doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ thời trang tại Hà Nội

Marketing qua truyền thông xã hội: Nghiên cứu tại một số doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ thời trang tại Hà Nội

Đối với các doanh nghiệp bán lẻ thời trang, đặc biệt tại thị trường Hà Nội, đặc điểm trực quan của sản phẩm và mức độ tham gia cao của người tiêu dùng trên mạng xã hội tạo ra nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu về cách thiết kế và tổ chức hoạt động marketing qua truyền thông xã hội.