Tăng cường đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ trong phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên

Thực tiễn - Kinh nghiệm 10:47 | 23/04/2026 TS. Nguyễn Phúc Ái
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng toàn cầu hóa, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ đã trở thành những yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế của các địa phương. Tỉnh Thái Nguyên sở hữu tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và dịch vụ, tuy nhiên, quá trình đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ tại địa phương vẫn còn gặp nhiều hạn chế.

TS. Nguyễn Phúc Ái

Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên

Email: aiqlnn@gmail.com

TS. Lê Thu Hà (Tác giả liên hệ)

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên

Email: thuha@tueba.edu.vn

Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích vai trò của đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế tại tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở đánh giá thực trạng các ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp địa phương, nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đầu tư vào nghiên cứu - phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Nghiên cứu cũng chỉ ra những thách thức mà Thái Nguyên đang đối mặt và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp, trường đại học và cơ quan quản lý, từ đó đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững của Tỉnh.

Từ khóa: Đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ, phát triển kinh tế, tỉnh Thái Nguyên

Abstract

This study analyzes the role of innovation and technology adoption in promoting economic development in Thai Nguyen province. Based on an assessment of the current state of local industries, services, and agriculture, the study emphasizes the importance of investing in research and development (R&D), technology transfer, and the development of an innovation-driven startup ecosystem. The paper also identifies key challenges faced by Thai Nguyen and proposes solutions to enhance innovation capacity, accelerate digital transformation, and strengthen collaboration among enterprises, universities, and government agencies, thereby contributing to the province’s sustainable economic development.

Keywords: Innovation, technology adoption, economic development, Thai Nguyen province

GIỚI THIỆU

Nhiệm vụ khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo là hình thức tổ chức công việc để giải quyết các vấn đề về KHCN và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo (Quốc hội, 2025). Việc tích hợp công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh và quản trị không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững, tạo ra giá trị gia tăng và cơ hội việc làm cho người dân.

Tỉnh Thái Nguyên, với vị trí chiến lược ở miền Bắc Việt Nam, sở hữu tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và dịch vụ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hoạt động đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ tại địa phương vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Xuất phát từ thực trạng trên, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ trong phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên là cấp thiết.

THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TẠI THÁI NGUYÊN

Những kết quả đạt được

Tỉnh Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế - công nghiệp quan trọng của miền Bắc Việt Nam, nổi bật với các ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, luyện kim, cơ khí, điện tử và nông nghiệp công nghệ cao. Trong những năm gần đây, Tỉnh đã nỗ lực thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ. Tỉnh đã triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng với Kế hoạch 02-KH/BCĐTW về thúc đẩy chuyển đổi số liên thông, đồng bộ, nhanh chóng và hiệu quả. Với phương châm “Chuyển đổi số thực chất - Đổi mới sáng tạo vì người dân và doanh nghiệp”, Thái Nguyên đã cụ thể hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW bằng những chương trình hành động thiết thực, tạo ra những chuyển biến rõ rệt trong toàn xã hội và ghi nhận nhiều kết quả ấn tượng. Sau khi sắp xếp tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên đã khẩn trương thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Tỉnh; đồng thời ban hành Kế hoạch hành động số 15-KH/TU ngày 12/9/2025 thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2025). Kết quả nổi bật được thể hiện qua việc Tỉnh đứng thứ 13 về Chỉ số Đổi mới sáng tạo địa phương (PII) do Bộ KHCN công bố ngày 1/10/2025.

Hình 1: Thái Nguyên đứng thứ 13 về Chỉ số Đổi mới sáng tạo địa phương (PII)

Tăng cường đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ trong phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên

Nguồn: Bộ KHCN, 2025

Thái Nguyên cũng đang triển khai kế hoạch đào tạo 2.000 nhân lực cho các ngành công nghiệp bán dẫn và trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, liên kết chặt chẽ với Đại học Thái Nguyên và các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ chiến lược tương lai. Hiện nay, toàn Tỉnh có 36 tổ chức KHCN với hơn 650 cán bộ nghiên cứu, và chiến lược phát triển KHCN được tích hợp trong Quy hoạch Tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050, xác định công nghệ cao, công nghệ xanh và trí tuệ nhân tạo là trụ cột phát triển (Bộ KHCN, 2025).

Nhiều nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng công nghệ được triển khai gắn với thế mạnh của địa phương, tiêu biểu như ứng dụng AI trong y tế, xây dựng mô hình giáo dục STEM/STEAM, nghiên cứu sản phẩm từ chè Thái Nguyên, chatbot tư vấn kỹ thuật chè, phát thanh viên ảo tiếng Tày. Công tác sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, quản lý an toàn bức xạ và thẩm định công nghệ cho các dự án đầu tư được thực hiện chặt chẽ (UBND tỉnh Thái Nguyên, 2025). Các chương trình truyền thông, tuyên truyền về KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được tổ chức rộng khắp, như chuyên mục “Nghị quyết 57 - Hành động và Kết quả”, cuộc thi “Đổi mới sáng tạo - Vì Thái Nguyên thân yêu” và các phong trào “Bình dân học AI - Bình dân học vụ số”, đã góp phần nâng cao nhận thức và khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo trong cộng đồng. Những kết quả này đã giúp Thái Nguyên vươn lên vị trí thứ 13 toàn quốc về Chỉ số Đổi mới sáng tạo địa phương, đồng thời khẳng định hiệu quả của các giải pháp đồng bộ, quyết liệt, tạo tác động lan tỏa rõ rệt đến năng lực cạnh tranh, tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.

Một số khó khăn, hạn chế

Mặc dù Thái Nguyên đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong triển khai KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thực tế cho thấy quá trình này vẫn còn nhiều hạn chế và khó khăn cần được khắc phục. Trước hết, Tỉnh chưa có cơ chế chính sách đủ mạnh để thu hút và đãi ngộ nhân tài, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao cho các ngành mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn hay dữ liệu lớn, dẫn đến nguồn lực con người phục vụ đổi mới sáng tạo còn hạn chế. Đồng thời, chính sách khuyến khích doanh nghiệp công nghệ đầu tư vào hạ tầng, các khu công nghệ và trung tâm đổi mới sáng tạo vẫn chưa được triển khai đầy đủ, trong khi hệ thống văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ, cơ chế khoán chi và thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn thiếu tính đồng bộ, gây khó khăn cho thực tiễn triển khai.

Tốc độ đổi mới công nghệ và thiết bị tại các ngành, lĩnh vực vẫn chậm, giá trị giao dịch của thị trường KHCN còn thấp; các khu công nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp công nghệ cao chưa hình thành; đồng thời cơ chế đặc thù thúc đẩy phát triển thị trường KHCN còn hạn chế. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Tỉnh còn non trẻ, số lượng doanh nghiệp KHCN và startup còn khiêm tốn, trong khi nhận thức về tầm quan trọng của KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở một số cấp, ngành, địa phương vẫn chưa đầy đủ, việc triển khai còn thiếu quyết liệt và đồng bộ.

Bên cạnh đó, tiềm lực nghiên cứu, cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm chưa đồng bộ, tỷ lệ đầu tư cho KHCN trong tổng chi ngân sách còn thấp; liên kết giữa cơ quan quản lý, nhà trường và doanh nghiệp chưa chặt chẽ; cơ chế đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu từ doanh nghiệp còn hạn chế. Về hạ tầng số, một số thôn, bản vùng cao vẫn thiếu cáp quang và trạm phát sóng, trong khi các nền tảng ứng dụng và cơ sở dữ liệu chuyên ngành chưa được tối ưu, người dân vùng sâu khó tiếp cận; dữ liệu chưa đảm bảo các tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung” để liên thông và tích hợp (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2025).

Tất cả những yếu tố này khiến hoạt động đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế, chưa có trung tâm đổi mới sáng tạo quy mô quốc gia, doanh nghiệp KHCN chưa nhiều và thiếu động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu, từ đó ảnh hưởng đến tốc độ và chất lượng chuyển đổi số cũng như phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN

Để thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ, tỉnh Thái Nguyên cần triển khai một chiến lược tổng thể, kết hợp nhiều giải pháp đồng bộ nhằm khai thác tối đa tiềm năng của doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và nguồn nhân lực.

Thứ nhất, việc nâng cao năng lực R&D trong các doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu là yếu tố nền tảng. Điều này có thể thực hiện thông qua việc tăng cường đầu tư cho các dự án R&D, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ tiên tiến và thiết lập các chương trình hợp tác nghiên cứu giữa doanh nghiệp với các trường đại học và viện nghiên cứu. Việc hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo tại các khu công nghiệp và các cơ sở nghiên cứu sẽ giúp kết nối tri thức, nhân lực và tài nguyên công nghệ, từ đó tạo điều kiện cho việc triển khai các dự án công nghệ ứng dụng thực tiễn.

Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là giải pháp then chốt nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo. Thái Nguyên cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, kỹ năng quản lý công nghệ và tư duy sáng tạo cho cán bộ, nhân viên, đặc biệt trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chương trình đào tạo cần kết hợp lý thuyết và thực hành, đồng thời tạo cơ hội cho nhân lực trẻ tham gia các dự án nghiên cứu và thử nghiệm công nghệ mới. Đồng thời, việc thu hút chuyên gia trong nước và quốc tế, kết hợp với các chính sách hỗ trợ như ưu đãi thuế, quỹ hỗ trợ nghiên cứu, sẽ góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và mở rộng tầm nhìn đổi mới cho các doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu.

Thứ ba, ứng dụng công nghệ trong sản xuất và dịch vụ cần được thực hiện một cách chiến lược và đồng bộ. Các doanh nghiệp cần được hỗ trợ trong việc chuyển đổi số, ứng dụng các công nghệ thông minh, tự động hóa quy trình sản xuất và quản trị, cũng như triển khai các giải pháp công nghệ xanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường. Các cơ quan quản lý cần xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới thông qua các chính sách hỗ trợ về vốn, tín dụng ưu đãi, tư vấn kỹ thuật và đào tạo nhân lực. Ngoài ra, việc hình thành các khu thí điểm ứng dụng công nghệ cao và trung tâm ươm tạo sáng chế sẽ giúp doanh nghiệp thử nghiệm và triển khai các giải pháp công nghệ trong môi trường kiểm soát, từ đó giảm rủi ro và tăng khả năng thành công.

Thứ tư, thúc đẩy hợp tác và liên kết giữa các bên liên quan. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các tổ chức nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp sẽ tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bền vững. Chính quyền Tỉnh cần đóng vai trò điều phối, xây dựng các chính sách khuyến khích nghiên cứu, bảo hộ sáng chế và chuyển giao công nghệ, đồng thời giám sát việc triển khai các dự án ứng dụng công nghệ trong thực tế. Các trường đại học và viện nghiên cứu cần tăng cường nghiên cứu ứng dụng, gắn kết đào tạo với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ chuyển giao công nghệ và sáng chế. Doanh nghiệp cần chủ động đầu tư, tham gia các dự án hợp tác và xây dựng chiến lược đổi mới phù hợp với năng lực và thị trường.

Thứ năm, việc xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ toàn diện và minh bạch là yếu tố đảm bảo sự bền vững của đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ. Các chính sách này bao gồm ưu đãi về thuế, hỗ trợ tài chính cho R&D, cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo, cũng như hệ thống đánh giá, giám sát hiệu quả ứng dụng công nghệ. Đồng thời, truyền thông nội bộ và quảng bá các mô hình thành công sẽ giúp lan tỏa kinh nghiệm, khuyến khích doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu mạnh dạn áp dụng công nghệ mới, từ đó thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo trên quy mô toàn tỉnh.

KẾT LUẬN

Việc tăng cường đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững tại tỉnh Thái Nguyên. Qua phân tích các tiềm năng và thách thức hiện nay, có thể thấy rằng sự phát triển kinh tế không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực tự nhiên và vốn đầu tư, mà còn dựa trên khả năng sáng tạo, năng lực nghiên cứu và khả năng ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất, dịch vụ và quản trị. Để khai thác hiệu quả các nguồn lực này, Tỉnh cần triển khai một chiến lược tổng thể, kết hợp nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển trong doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong sản xuất và dịch vụ, tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan và xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ đồng bộ. Các giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn góp phần hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bền vững, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội toàn Tỉnh.

Trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập kinh tế sâu rộng, việc tích hợp đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ vào chiến lược phát triển kinh tế sẽ giúp tỉnh Thái Nguyên không chỉ đạt được tăng trưởng nhanh mà còn nâng cao chất lượng phát triển, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển dài hạn. Nhìn chung, đổi mới sáng tạo và công nghệ là động lực quan trọng, cần được ưu tiên trong hoạch định chính sách và chiến lược phát triển kinh tế, nhằm đảm bảo tỉnh Thái Nguyên có thể tận dụng tối đa cơ hội, vượt qua thách thức và vươn lên trở thành một trung tâm kinh tế - công nghiệp hiện đại, năng động và bền vững trong khu vực.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Thái Nguyên bứt phá trong hành trình chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo quốc gia. https://mst.gov.vn/thai-nguyen-but-pha-trong-hanh-trinh-chuyen-doi-so-va-doi-moi-sang-tao-quoc-gia-197251103105344357.htm.

2. Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15.

3. Tỉnh ủy Thái Nguyên (2025). Đề án số 22/ĐA-TU ngày 11/12/2025 về Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026-2030.

4. UBND tỉnh Thái Nguyên (2025). Báo cáo số 168/BC-UBND ngày 17/10/2025 về Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2025 và một số nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2025.

Ngày nhận bài: 2/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/4/2026; Ngày duyệt đăng: 15/4/2026

Các tin khác

Trải nghiệm ẩm thực người Hoa và ý định quay lại của du khách tại TP. Hồ Chí Minh

Trải nghiệm ẩm thực người Hoa và ý định quay lại của du khách tại TP. Hồ Chí Minh

Ẩm thực người Hoa là một thành tố nổi bật trong cảnh quan văn hóa Chợ Lớn, TP. Hồ Chí Minh nhưng bằng chứng định lượng về cách du khách tiếp nhận các giá trị này còn hạn chế.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"
Kinh nghiệm quản lý, giám sát hoạt động thử nghiệm có kiểm soát đối với tài sản mã hóa tại Hàn Quốc và bài học cho Việt Nam

Kinh nghiệm quản lý, giám sát hoạt động thử nghiệm có kiểm soát đối với tài sản mã hóa tại Hàn Quốc và bài học cho Việt Nam

Tài sản mã hóa được xem như một trong những “nguồn lực chiến lược” với tiềm năng định hình lại cấu trúc hệ thống tài chính của toàn cầu. Một số quốc gia, trung tâm tài chính quốc tế như Hàn Quốc, Singapore, Dubai đã xây dựng thành công khung pháp lý cho các giao dịch tài sản mã hóa và đây được coi như lợi thế lớn trong thu hút các dòng vốn và công nghệ đầu tư vào tài sản mã hóa.
Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất vật liệu xây dựng Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất vật liệu xây dựng Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Cam kết môi trường trong EVFTA, CPTPP cùng mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tạo sức ép chuyển đổi mạnh lên ngành xây dựng và vật liệu xây dựng
Vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách: Nghiên cứu tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Vai trò của Nhà nước trong quản lý ngân sách: Nghiên cứu tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Ở cấp địa phương, hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước không chỉ quyết định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ thường xuyên về giáo dục, y tế, an sinh xã hội, quốc phòng và an ninh, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực đầu tư kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư và tạo lập động lực tăng trưởng dài hạn.
Tác động của đầu tư xanh với tiêu thụ năng lượng tái tạo: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Tác động của đầu tư xanh với tiêu thụ năng lượng tái tạo: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Biến đổi khí hậu toàn cầu và sự cạn kiệt nhanh chóng của các nguồn năng lượng truyền thống đang trở thành những thách thức nghiêm trọng nhất đối với sự phát triển bền vững của nhân loại trong thế kỷ XXI.
Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Tại Việt Nam, thương mại điện tử tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho kinh tế số, nhưng hành vi tiêu dùng số vẫn phân hóa theo ngành và khu vực; ở các tỉnh như Tiền Giang, người dân vẫn ưu tiên mua bán truyền thống, ít chủ động tự mua dịch vụ viễn thông trên nền tảng trực tuyến.