Quản trị tri thức tại các doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Trần Thanh Tùng
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Đại học Thái Nguyên
Email: [email protected]
Nguyễn Bảo
Khu phố Bàu Sầm, P. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai
Tóm tắt
Trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, quản trị tri thức trở thành yếu tố then chốt đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu này tập trung đánh giá thực trạng quản trị tri thức tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Kết quả cho thấy, quản trị tri thức tại các doanh nghiệp địa phương còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở các khâu lưu trữ, chia sẻ và khai thác tri thức. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị tri thức, phù hợp với điều kiện thực tiễn của doanh nghiệp địa phương.
Từ khóa: Quản trị tri thức, doanh nghiệp, Thái Nguyên, chuyển đổi số
Abstract
In the context of rapid digital transformation and the expansion of the knowledge-based economy, knowledge management has become a key determinant of organizational performance. This study focuses on assessing the current state of knowledge management practices among enterprises in Thai Nguyen province. The findings reveal that knowledge management in local enterprises remains limited, particularly in knowledge storage, sharing, and utilization. Based on these results, the study proposes several solutions to improve knowledge management practices in alignment with the practical conditions of local enterprises.
Keywords: Knowledge management, enterprises, Thai Nguyen, digital transformation
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, khu vực doanh nghiệp đang có sự tăng trưởng đáng kể. Theo số liệu của Cục Thống kê, năm 2025, cả nước có gần 297,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm trước (Cục Thống kê, 2026). Điều này cho thấy môi trường kinh doanh ngày càng sôi động, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực quản trị, trong đó có quản trị tri thức.
Đối với tỉnh Thái Nguyên, với vai trò là một trung tâm công nghiệp của khu vực trung du miền núi phía Bắc, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh trong những năm gần đây. Theo Niên giám Thống kê tỉnh Thái Nguyên 2024 (trước sáp nhập các đơn vị hành chính), Thái Nguyên có 4921 doanh nghiệp, tăng 6,2% so với năm trước (Chi cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2025). Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có quy mô nhỏ và vừa, năng lực quản trị còn hạn chế, đặc biệt trong việc tiếp cận và triển khai các phương thức quản trị hiện đại. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và yêu cầu đổi mới sáng tạo liên tục, việc khai thác hiệu quả nguồn lực tri thức trở thành yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Mặc dù vậy, thực tiễn cho thấy hoạt động quản trị tri thức tại nhiều doanh nghiệp ở Thái Nguyên vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Việc thu thập, lưu trữ và chia sẻ tri thức còn mang tính tự phát, thiếu hệ thống; tri thức chủ yếu tồn tại dưới dạng cá nhân, chưa được chuyển hóa thành tài sản chung của tổ chức. Bên cạnh đó, hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ quản trị tri thức chưa đồng bộ, văn hóa chia sẻ tri thức trong doanh nghiệp còn hạn chế, làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tri thức trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng quản trị tri thức tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị tri thức, góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững của doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC
Quản trị tri thức được hiểu là sự phối hợp có chủ đích và có hệ thống của con người với công nghệ và những quy trình quản lý nhằm thúc đẩy việc nắm bắt, sáng tạo, lưu giữ, chia sẻ và sử dụng có hiệu quả các tri thức cá nhân cũng như tri thức của tổ chức, nhằm nâng cao hiệu quả quyết định, hiệu quả thực thi và khả năng thích ứng của tổ chức (Đoàn Phan Tân, 2019). Trong thực tế, tri thức tồn tại dưới 2 dạng chính: tri thức có thể ghi chép và tri thức mang tính kinh nghiệm. Điểm đáng chú ý là tri thức kinh nghiệm dù khó quản lý hơn lại có giá trị lớn trong vận hành doanh nghiệp. Nếu không có cơ chế lưu giữ, phần tri thức này dễ bị mất đi khi nhân sự thay đổi. Một số nghiên cứu trong nước cũng chỉ ra rằng việc áp dụng quản trị tri thức có thể giúp doanh nghiệp cải thiện hiệu quả hoạt động, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số (Trần Thị Bích Hảo & Nguyễn Văn Thụy, 2025). Tuy nhiên, mức độ áp dụng còn phụ thuộc nhiều vào quy mô và năng lực quản trị của từng doanh nghiệp.
THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH THÁI NGUYÊN
Khái quát về doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên và yêu cầu đối với quản trị tri thức
Thái Nguyên là một trong những trung tâm công nghiệp quan trọng của khu vực trung du miền núi phía Bắc với nhiều khu công nghiệp lớn và các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như điện tử, cơ khí, chế biến nông sản, thương mại và dịch vụ… Cơ cấu doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), chiếm tỷ trọng lớn về số lượng nhưng còn hạn chế về nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, các doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về vốn, lao động hay công nghệ mà còn về khả năng tạo lập, tích lũy và khai thác tri thức. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc xây dựng và vận hành hệ thống quản trị tri thức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thích ứng với môi trường kinh doanh biến động.
Về nhận thức và chiến lược về quản trị tri thức
Thực tế cho thấy, phần lớn doanh nghiệp tại Thái Nguyên đã bước đầu nhận thức được vai trò của tri thức trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nhận thức này chưa đầy đủ và chưa được chuyển hóa thành chiến lược cụ thể. Nhiều doanh nghiệp vẫn coi tri thức đơn thuần là thông tin hoặc dữ liệu, chưa phân biệt rõ giữa tri thức ẩn (tacit knowledge) và tri thức hiện (explicit knowledge).
Việc xây dựng chiến lược quản trị tri thức còn thiếu tính hệ thống. Hầu hết các doanh nghiệp chưa có bộ phận chuyên trách hoặc chính sách rõ ràng liên quan đến quản trị tri thức. Các hoạt động liên quan chủ yếu mang tính tự phát, gắn với từng cá nhân hoặc phòng ban riêng lẻ, thiếu sự liên kết và định hướng dài hạn.
Về thu thập và tạo lập tri thức
Hoạt động thu thập và tạo lập tri thức tại các doanh nghiệp chủ yếu diễn ra thông qua kinh nghiệm làm việc, đào tạo nội bộ và học hỏi từ đối tác, khách hàng. Tuy nhiên, quá trình này chưa được chuẩn hóa thành quy trình cụ thể. Việc ghi nhận và hệ thống hóa các bài học kinh nghiệm chưa được chú trọng, dẫn đến tình trạng tri thức bị phân tán và khó tái sử dụng.
Đối với các doanh nghiệp có yếu tố đầu tư nước ngoài (FDI), hoạt động tạo lập tri thức có phần bài bản hơn nhờ áp dụng các quy trình quản lý hiện đại. Tuy nhiên, việc lan tỏa tri thức từ khối FDI sang doanh nghiệp nội địa còn hạn chế do rào cản về công nghệ, ngôn ngữ và năng lực hấp thụ tri thức.
Về lưu trữ và bảo tồn tri thức
Một trong những hạn chế lớn hiện nay là hệ thống lưu trữ tri thức chưa được đầu tư đúng mức. Nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng các phương thức lưu trữ truyền thống như văn bản giấy, file rời rạc trên máy tính cá nhân hoặc các nền tảng đơn giản, thiếu tính tích hợp.
Việc thiếu các hệ thống quản lý tri thức tập trung (như cơ sở dữ liệu tri thức, phần mềm quản lý tài liệu, hệ thống ERP tích hợp quản trị tri thức) khiến tri thức khó được truy cập và khai thác hiệu quả. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng chưa có cơ chế rõ ràng để bảo tồn tri thức khi nhân sự chủ chốt nghỉ việc, dẫn đến nguy cơ “mất tri thức” khá phổ biến.
Về chia sẻ và lan tỏa tri thức
Chia sẻ tri thức trong doanh nghiệp tại Thái Nguyên còn gặp nhiều rào cản. Văn hóa chia sẻ chưa thực sự được hình thành; nhiều nhân viên có xu hướng giữ tri thức như một “lợi thế cá nhân” thay vì chia sẻ vì lợi ích chung của tổ chức. Bên cạnh đó, cơ chế khuyến khích chia sẻ tri thức (như khen thưởng, ghi nhận) còn thiếu hoặc chưa đủ mạnh.
Các kênh chia sẻ tri thức chủ yếu mang tính không chính thức, như trao đổi trực tiếp, họp nhóm hoặc hướng dẫn công việc. Việc ứng dụng các nền tảng số (hệ thống quản lý tri thức, diễn đàn nội bộ) còn hạn chế, đặc biệt ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Về khai thác và ứng dụng tri thức
Mặc dù tri thức tồn tại trong doanh nghiệp ở nhiều dạng khác nhau nhưng việc khai thác và ứng dụng vào thực tiễn còn chưa hiệu quả. Các quyết định quản trị phần lớn vẫn dựa trên kinh nghiệm cá nhân hơn là dựa trên hệ thống tri thức được phân tích và tổng hợp.
Khả năng chuyển hóa tri thức thành đổi mới sáng tạo, cải tiến quy trình hoặc phát triển sản phẩm mới còn hạn chế. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng và sự khác biệt.
Về hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực phục vụ quản trị tri thức
Hạ tầng công nghệ thông tin tại nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn ở mức cơ bản, chưa đáp ứng yêu cầu của quản trị tri thức hiện đại. Việc đầu tư vào các hệ thống phần mềm hỗ trợ còn hạn chế do chi phí và thiếu nhân lực có chuyên môn.
Nguồn nhân lực cũng là một điểm nghẽn quan trọng. Đội ngũ lao động chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng quản trị tri thức, kỹ năng số và tư duy hệ thống. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Nhìn chung, quản trị tri thức tại các doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên vẫn đang ở giai đoạn sơ khai, chưa phát triển thành một hệ thống hoàn chỉnh. Các hạn chế chủ yếu tập trung ở nhận thức, chiến lược, hạ tầng công nghệ, văn hóa chia sẻ và năng lực nguồn nhân lực. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ và sự quan tâm ngày càng tăng từ phía Nhà nước đối với đổi mới sáng tạo, đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp tại Thái Nguyên từng bước hoàn thiện công tác quản trị tri thức, hướng tới phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tới.
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH THÁI NGUYÊN
Xuất phát từ những hạn chế đã phân tích, việc hoàn thiện quản trị tri thức tại các doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên cần được triển khai đồng bộ trên nhiều phương diện, từ nhận thức, chiến lược đến hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực.
Thứ nhất, nâng cao nhận thức và xây dựng chiến lược quản trị tri thức
Các doanh nghiệp cần thay đổi tư duy, coi tri thức là tài sản chiến lược thay vì chỉ là thông tin đơn thuần. Ban lãnh đạo cần chủ động xây dựng chiến lược quản trị tri thức gắn với mục tiêu phát triển dài hạn, xác định rõ nguồn tri thức cốt lõi và định hướng khai thác hiệu quả. Đồng thời, cần phân công bộ phận hoặc nhân sự phụ trách để đảm bảo việc triển khai mang tính hệ thống và xuyên suốt.
Thứ hai, hoàn thiện quy trình thu thập và tạo lập tri thức
Doanh nghiệp cần thiết lập quy trình chuẩn trong việc thu thập tri thức từ hoạt động thực tiễn, khách hàng, đối tác và đào tạo nội bộ. Đặc biệt, cần chú trọng hệ thống hóa tri thức thông qua các công cụ như sổ tay nghiệp vụ, báo cáo kinh nghiệm, cơ sở dữ liệu tri thức, nhằm giúp tri thức được lưu giữ và tái sử dụng hiệu quả.
Thứ ba, đầu tư hệ thống lưu trữ và hạ tầng công nghệ thông tin
Các doanh nghiệp cần từng bước đầu tư vào hệ thống lưu trữ tri thức hiện đại như nền tảng điện toán đám mây, phần mềm quản lý tài liệu hoặc hệ thống tích hợp (ERP, CRM). Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tri thức tập trung sẽ giúp thông tin được tổ chức khoa học, dễ truy cập và đảm bảo an toàn, bảo mật.
Thứ tư, xây dựng văn hóa chia sẻ tri thức trong doanh nghiệp
Doanh nghiệp cần hình thành môi trường làm việc khuyến khích chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm giữa các cá nhân, bộ phận. Cần tổ chức các hoạt động như hội thảo nội bộ, sinh hoạt chuyên môn, diễn đàn trao đổi tri thức. Đồng thời, thiết lập cơ chế khen thưởng, ghi nhận nhằm tạo động lực cho người lao động tích cực chia sẻ tri thức.
Thứ năm, tăng cường khai thác và ứng dụng tri thức
Tri thức cần được sử dụng hiệu quả trong quá trình ra quyết định, cải tiến quy trình và phát triển sản phẩm, dịch vụ. Doanh nghiệp nên áp dụng các công cụ phân tích dữ liệu, hệ thống hỗ trợ ra quyết định để nâng cao giá trị sử dụng của tri thức, từ đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ sáu, phát triển nguồn nhân lực phục vụ quản trị tri thức
Doanh nghiệp cần chú trọng đào tạo đội ngũ nhân sự về kỹ năng quản trị tri thức, kỹ năng số và tư duy đổi mới. Đồng thời, cần có chính sách thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao - những người đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập và lan tỏa tri thức trong tổ chức.
Thứ bảy, tăng cường liên kết và học hỏi từ bên ngoài
Các doanh nghiệp cần chủ động hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp khác để trao đổi và tiếp nhận tri thức mới. Đặc biệt, việc học hỏi từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ giúp nâng cao năng lực quản trị và khả năng tiếp cận công nghệ hiện đại.
Thứ tám, kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước
Cơ quan quản lý cần ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong triển khai quản trị tri thức như hỗ trợ tài chính, đào tạo và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, cần phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận và khai thác tri thức.
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế tri thức, quản trị tri thức ngày càng trở thành yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp tại Thái Nguyên đã bước đầu quan tâm đến quản trị tri thức nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thu thập, lưu trữ, chia sẻ và khai thác tri thức. Vì vậy, việc triển khai đồng bộ các giải pháp về nhận thức, chiến lược, công nghệ và nguồn nhân lực là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị tri thức, góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh và hướng tới phát triển bền vững của doanh nghiệp trong thời gian tới.
Tài liệu tham khảo:
1. Chi cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên (2025). Niên giám Thống kê tỉnh Thái Nguyên 2024, Nxb Thống kê.
2. Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.
3. Đoàn Phan Tân (2019). Quản trị tri thức và khả năng ứng dụng trong thư viện các trường đại học. Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 1, trang 30-34.
4. Trần Thị Bích Hảo, Nguyễn Văn Thụy (2025). Quản trị tri thức và hiệu quả tổ chức trong ngành dịch vụ. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán, số 298, trang 33-37.
| Ngày nhận bài: 1/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 11/4/2026; Ngày duyệt đăng: 23/4/2026 |
Các tin khác
Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam
Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An
Đổi mới cơ chế đầu tư giao thông đô thị ở Việt Nam: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý chính sách
Tổng quan nghiên cứu về tác động của quá tải lựa chọn đến ý định đặt phòng khách sạn của khách du lịch tại Hà Nội trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo
Tài chính xanh trong phát triển nông nghiệp bền vững: Kinh nghiệm từ một số địa phương và hàm ý chính sách cho tỉnh Phú Thọ
Giải pháp tài chính bền vững trong quản trị quy hoạch vùng phát thải thấp tại Thủ đô Hà Nội
Gắn kết thương hiệu và lòng trung thành đối với mỹ phẩm thuần chay trong môi trường tiếp thị số tại TP. Hồ Chí Minh
Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ
Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội