Phát triển lực lượng sản xuất trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số hàm ý cho Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 11:00 | 03/10/2026
Trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các công nghệ tiên tiến được kết hợp thành những hệ thống sản xuất có khả năng cảm nhận - kết nối - phân tích - ra quyết định - thực hiện - học hỏi. Dưới tác động của cuộc cách mạng này, lực lượng sản xuất đã có sự biến đổi sâu sắc về chất ở tất cả các thành tố.

TS. Nguyễn Hồng Thu

Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới

Email: [email protected]

Tóm tắt

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển đột phá của khoa học và công nghệ đã và đang tác động sâu rộng đến đời sống xã hội, tạo ra sự biến đổi mang tính cấu trúc và bước ngoặt đối với lực lượng sản xuất (LLSX) trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, nền kinh tế đang đối mặt với những giới hạn ngày càng rõ nét của mô hình tăng trưởng cũ, do đó việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên LLSX mới đang trở thành yêu cầu cấp thiết mang tính chiến lược. Tuy nhiên, LLSX mới của Việt Nam từ người lao động đến đối tượng lao động, công cụ lao động đều đang đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế. Trong bối cảnh đó, bài viết này tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về LLSX trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phân tích các vấn đề mà LLSX mới của Việt Nam đang phải đối mặt, qua đó đưa ra một số hàm ý chính sách cho Việt Nam.

Từ khóa: Lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế, Việt Nam, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Abstract

The Fourth Industrial Revolution, driven by breakthrough advances in science and technology, has had and continues to have profound impacts on social life, bringing about structural transformations and a turning point for the productive forces worldwide. In Viet Nam, the economy is facing increasingly evident limitations of the existing growth model; therefore, transforming the growth model based on new productive forces has become an urgent strategic requirement. However, Viet Nam’s new productive forces, from workers to objects and means of production, face numerous difficulties and limitations. In this article, we clarify several theoretical issues concerning productive forces in the context of the Fourth Industrial Revolution, analyze the challenges facing Viet Nam’s new productive forces, and provide several policy implications for Viet Nam.

Keywords: Productive forces, economic development, Viet Nam, Fourth Industrial Revolution

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây, robot, công nghệ sinh học, vật liệu mới và các công nghệ tiên tiến được kết hợp thành những hệ thống sản xuất có khả năng cảm nhận - kết nối - phân tích - ra quyết định - thực hiện - học hỏi. Dưới tác động của CMCN 4.0, LLSX đã có sự biến đổi sâu sắc về chất ở tất cả các thành tố. Đối với Việt Nam, quá trình này đã bắt đầu và đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Trong bối cảnh đó, việc làm rõ những vấn đề lý luận về LLSX trong bối cảnh CMCN 4.0; phân tích thực tiễn Việt Nam, để từ đó đưa ra các hàm ý chính sách có ý nghĩa đạc biệt quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Khái niệm và cấu trúc của lực lượng sản xuất

LLSX là một khái niệm trung tâm của học thuyết duy vật lịch sử của C.Mác và Ph. Ăngghen. Theo học thuyết này, mọi sự thay đổi của đời sống xã hội, xét đến cùng, đều bắt nguồn từ sự biến đổi của LLSX (C.Mác và Ph. Ăngghen, 1995). Theo quan điểm duy vật lịch sử của C.Mác, LLSX là tổng hợp các yếu tố của quá trình sản xuất vật chất, bao gồm con người và tư liệu sản xuất (tư liệu lao động và đối tượng lao động). Trong đó, người lao động là chủ thể sử dụng, vận hành và sáng tạo ra công cụ, phương pháp sản xuất; còn tư liệu sản xuất là hệ thống các điều kiện vật chất - kỹ thuật trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất.

Ngoài việc bàn đến 2 yếu tố cơ bản cấu thành LLSX, C. Mác cũng đề cao, coi trọng vai trò của khoa học đối với sản xuất vật chất nói chung và với sự phát triển của LLSX nói riêng. C. Mác nhấn mạnh rằng, các thời đại kinh tế khác nhau được phân biệt không chỉ bởi sản phẩm được tạo ra, mà còn bởi cách thức sản xuất và những tư liệu lao động được sử dụng (C.Mác và Ph. Ăngghen, 2002). Trình độ của LLSX lại phụ thuộc vào sự kết hợp của các yếu tố cấu thành như: phương tiện lao động, công cụ lao động, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật, trình độ của người lao động. Dưới tác động của cuộc CMCN 4.0, nhận định này càng có ý nghĩa khi công nghệ số, AI, robot, dữ liệu và các hệ thống kết nối đang làm thay đổi đồng thời cả nội dung, cấu trúc và phương thức vận hành của LLSX. Do đó, trong bối cảnh CMCN 4.0 phát triển mạnh mẽ, khái niệm LLSX cũng cần được mở rộng để bao hàm các yếu tố khoa học công nghệ, tri thức mới và phương thức kết hợp các yếu tố sản xuất.

Vì vậy, trong bối cảnh CMCN 4.0, có thể hiểu LLSX mới là trình độ và cấu trúc phát triển mới của LLSX, được hình thành trên cơ sở những biến đổi về chất của người lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, khoa học - công nghệ và sự xuất hiện của các phương thức kết hợp mới giữa con người, máy móc, dữ liệu, tri thức và hệ thống số, qua đó tạo ra năng lực sản xuất có mức độ thông minh, kết nối, linh hoạt, thích ứng và đổi mới cao hơn.

LLSX mới vẫn bao gồm 2 bộ phận cơ bản là: người lao động và tư liệu sản xuất. Bên cạnh đó, để cụ thể hóa cách thức các yếu tố truyền thống của LLSX biểu hiện trong bối cảnh CMCN 4.0, các yếu tố cấu thành LLSX mới được mở rộng thêm thành tố khoa học - công nghệ và tri thức, và phương thức kết hợp các yếu tố sản xuất. Việc mở rộng các thành tố này không làm thay đổi bản chất của khái niệm LLSX trong lý luận của C. Mác, mà cụ thể hóa cách thức các yếu tố truyền thống của LLSX biểu hiện trong điều kiện kinh tế tri thức và công nghệ số.

Sự biến đổi của lực lượng sản xuất trong bối cảnh CMCN 4.0

CMCN 4.0 khác với các cuộc cách mạng công nghiệp trước ở mức độ hội tụ và tích hợp cao giữa các công nghệ số, vật lý và sinh học. AI, Big Data, IoT, robot, điện toán đám mây, công nghệ sinh học, vật liệu mới và các công nghệ tiên tiến không tồn tại biệt lập, mà ngày càng được kết hợp thành những hệ thống sản xuất có khả năng cảm nhận - kết nối - phân tích - ra quyết định - thực hiện - học hỏi. Theo đó, LLSX dưới tác động của CMCN 4.0 đã có sự biến đổi sâu sắc về chất ở tất cả các thành tố.

Thứ nhất, tư liệu lao động chuyển từ cơ giới hóa và tự động hóa sang số hóa và thông minh hóa (như mạng lưới IoT, AI, robot). Trong các cuộc CMCN trước, máy móc chủ yếu thay thế hoặc hỗ trợ sức lao động cơ bắp. Trong CMCN 4.0, máy móc ngày càng có khả năng cảm nhận môi trường, thu thập dữ liệu, phân tích và đưa ra quyết định trong phạm vi được lập trình hoặc huấn luyện. Sự phát triển nhanh của robot công nghiệp cũng cho thấy sự thay đổi của tư liệu lao động khá rõ nét. Theo IFR (2025), năm 2024 thế giới lắp đặt khoảng 542.000 robot công nghiệp, hơn gấp đôi mức của 10 năm trước; số robot công nghiệp đang hoạt động đạt khoảng 4,66 triệu đơn vị, tăng 9% so với năm 2023.

Thứ hai, đối tượng lao động mở rộng từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn (đất đai, khoáng sản) sang các tài nguyên vô hình có khả năng tái tạo và tự sinh trưởng (dữ liệu, thông tin, tri thức và tài sản trí tuệ). Trong đó, dữ liệu đã vươn lên trở thành một yếu tố sản xuất đầu vào mới, mang tính quyết định (OECD, 2019; WB, 2021). Theo IDC (2023), tổng dung lượng dữ liệu được tạo ra trên toàn cầu đã vượt mốc 120 Zettabytes (ZB; 1 ZB = 1.000 tỷ Gigabyte -GB) vào năm 2023 và cán mốc 181 ZB vào năm 2025, đặt nền móng cho mô hình tăng trưởng dựa trên dữ liệu. Dữ liệu đang trở thành “nguyên liệu thô” quan trọng nhất của kỷ nguyên số, thậm chí còn được ví như “dầu mỏ” của thế kỷ XXI.

Thứ ba, người lao động chuyển dịch từ lao động chủ yếu dựa vào sức lực và kỹ năng thao tác sang lao động có hàm lượng tri thức và kỹ năng công nghệ cao hơn (Baratta, 2023). WEF (2023) dự báo đến năm 2027, 44% kỹ năng của người lao động toàn cầu sẽ bị xáo trộn, trong đó tư duy phân tích, tư duy sáng tạo và sự am hiểu công nghệ trở thành các kỹ năng nòng cốt.

Thứ tư, khoa học - công nghệ trở thành một bộ phận ngày càng trực tiếp của LLSX (Romer, 1990). Khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và sản xuất được rút ngắn. Điều này làm cho năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), khả năng hấp thụ công nghệ và liên kết giữa trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp trở thành một bộ phận của năng lực sản xuất quốc gia.

Thứ năm, phương thức kết hợp các yếu tố sản xuất thay đổi theo hướng tích hợp và tính phi vật chất hóa. CMCN 4.0 không chỉ tạo ra từng yếu tố sản xuất mới mà còn làm thay đổi phương thức kết hợp các yếu tố: từ quan hệ tương đối đơn giản giữa người lao động - máy móc - nguyên liệu sang hệ thống kết hợp phức tạp giữa người lao động - máy móc thông minh - dữ liệu - phần mềm - tri thức - vốn - mạng lưới doanh nghiệp. Sản xuất không còn bó hẹp trong phạm vi nhà máy vật lý truyền thống mà kết nối theo dạng mạng lưới số, và diễn ra ở các nhà máy thông minh, nền tảng số và chuỗi giá trị toàn cầu.

Phát triển lực lượng sản xuất

Phát triển LLSX có thể được hiểu là quá trình nâng cao quy mô, chất lượng, trình độ công nghệ, năng lực kết hợp và hiệu quả sử dụng các yếu tố của LLSX, qua đó nâng cao năng suất lao động, năng lực sản xuất của nền kinh tế và khả năng tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng ngày càng cao (Solow, 1957; Romer, 1990; Nelson và Winter, 1982). Theo cách tiếp cận này, phát triển LLSX có thể được xem xét trên 4 phương diện chính: Hiện đại hóa tư liệu sản xuất (mức độ tự động hóa, robot hóa, IoT, AI, hệ thống vật lý ảo, dữ liệu); Nâng cao chất lượng người lao động (kỹ năng số, kỹ năng AI, lao động tri thức, năng lực sáng tạo); Nâng cao năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (R&D, bằng sáng chế, công nghệ lõi, thương mại hóa); Nâng cao hiệu quả kết hợp các yếu tố sản xuất (mức độ kết nối người - máy - dữ liệu - AI - nền tảng).

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CMCN 4.0

Dựa trên cơ sở lý luận về LLSX trong bối cảnh CMCN 4.0 ở trên, có thể thấy LLSX mới ở Việt Nam có sự phát triển đáng kể. Sự phát triển này được thể hiện ở trình độ, chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện; hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu có những bước tiến đột phá; việc ứng dụng các công cụ lao động và phương tiện sản xuất hiện đại như AI, IoT, Robot tự hành và chuỗi khối có xu hướng gia tăng; dữ liệu đang từng bước được công nhận và khai thác như một yếu tố sản xuất đầu vào quan trọng. Nhờ đó nền sản xuất có sự chuyển biến tích cực, năng suất lao động gia tăng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, bên cạnh đó, LLSX mới của Việt Nam cũng đang phải đối mặt với một số vấn đề và được thể hiện ở tất cả các yếu tố cấu thành.

Chất lượng người lao động chưa theo kịp sự thay đổi của lực lượng sản xuất trong CMCN 4.0

Mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đã tăng lên mức 29,2% vào năm 2025 so với 26,1% năm 2021, song điều này đồng nghĩa với việc hiện vẫn còn hơn 70% lực lượng lao động (tương đương khoảng 36 triệu người) chưa qua đào tạo bài bản (Cục Thống kê, 2026). Trong khi đó, tốc độ tự động hóa và ứng dụng AI gia tăng được dự báo sẽ đẩy hàng triệu lao động kỹ năng thấp trong các ngành thâm dụng lao động (dệt may, da giày, lắp ráp điện tử) vào nguy cơ mất việc làm hàng loạt mà không có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp linh hoạt (WEF, 2024). Đặc biệt sự chênh lệch nghiêm trọng giữa yêu cầu kỹ năng của nền kinh tế số và chất lượng đào tạo thực tế đang tạo ra một “cuộc khủng hoảng nhân lực” trầm trọng trong các ngành công nghệ cao (Bảng).

Bảng: Thực trạng kỹ năng công nghệ tại Việt Nam năm 2025

Lĩnh vực công nghệ

Nhu cầu

nhân lực/năm

Khả năng đáp ứng thực tế

Mức độ

thiếu hụt

Nguồn

Kỹ sư Thiết kế Bán dẫn

~10.000 kỹ sư

~1.200 kỹ sư

88,0%

VINASA (2025)

Chuyên gia AI & khoa học dữ liệu

~15.000 kỹ sư

~3.500 kỹ sư

76,7%

VINASA (2025)

Chuyên gia An ninh mạng

~8.000 chuyên gia

~2.100 chuyên gia

73,8%

Hiệp hội An toàn thông tin (2025)

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Bên cạnh đó, chỉ báo đổi mới sáng tạo cũng cho thấy Việt Nam vẫn tương đối yếu về việc làm dựa trên tri thức. Trong chỉ số xếp hạng đổi mới toàn cầu (GII) của WIPO (2025), Việt Nam đứng thứ 100 về tỷ trọng việc làm chuyên sâu về tri thức và thứ 70 về vốn con người và nghiên cứu. Đây là một hạn chế có tính cấu trúc: quy mô lao động vẫn lớn nhưng khả năng chuyển hóa lao động thành nguồn lực tri thức và công nghệ chưa tương xứng.

Nguyên nhân trực tiếp đầu tiên của hạn chế này là do tốc độ thay đổi của công nghệ nhanh hơn tốc độ điều chỉnh của hệ thống đào tạo và thị trường lao động. CMCN 4.0 làm xuất hiện nhu cầu đối với những kỹ năng mới, trong khi chương trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học và nghề nghiệp chậm đổi mới, nặng về lý thuyết và thiếu sự kết nối thực tế với nhu cầu của doanh nghiệp.

Tư liệu lao động hiện đại phát triển nhanh nhưng mức độ phổ cập và làm chủ công nghệ còn thấp

Tư liệu lao động ở Việt Nam đang chuyển nhanh từ máy móc và thiết bị truyền thống sang hệ thống tự động, thiết bị kết nối, phần mềm, nền tảng số và AI. Tuy nhiên, khoảng cách công nghệ giữa các doanh nghiệp, ngành và khu vực kinh tế còn lớn. Việc ứng dụng các công cụ lao động hiện đại như AI, IoT, Robot tự hành và chuỗi khối (Blockchain) chủ yếu tập trung ở khối doanh nghiệp FDI và các tập đoàn công nghệ hàng đầu (Viettel, VNPT, FPT, Vingroup). Theo Oxford Insights (2025), Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế ổn định trong nhóm các quốc gia có mức độ sẵn sàng ứng dụng AI ở mức khá cao tại khu vực Đông Nam Á (xếp thứ 5 trong khối ASEAN) và nằm trong nhóm nửa trên của bảng xếp hạng toàn cầu. Nhưng nhìn chung trong toàn bộ nền kinh tế, năng lực tự chủ công nghệ lõi còn thấp, phần lớn tư liệu lao động công nghệ cao vẫn phụ thuộc vào việc nhập khẩu giải pháp phần mềm và thiết bị từ nước ngoài. Các doanh nghiệp sản xuất trong nước chủ yếu vẫn sử dụng tư liệu lao động ở mức độ công nghiệp 2.0 hoặc 3.0; mức độ tự động hóa sâu kết hợp AI trong toàn bộ chuỗi sản xuất còn thấp dưới 12% (CIEM, 2025).

Đối tượng lao động mới chưa được khai thác tương xứng

Dữ liệu đang từng bước được công nhận và khai thác như một yếu tố sản xuất đầu vào quan trọng tại Việt Nam. Quá trình này thể hiện rõ qua sự phát triển nhanh của kinh tế số. Năm 2025, giá trị tăng thêm của kinh tế số đã đạt mốc 72,1 tỷ USD, tăng hơn 1,5 lần so với quy mô năm 2021. Đóng góp của kinh tế số vào tổng quy mô GDP cả nước tăng từ 12,87% năm 2021 lên 14,02% năm 2025 (Cục Thống kê, 2026). Mặc dù vậy, khả năng chuyển dữ liệu và tri thức thành giá trị gia tăng nội sinh vẫn còn hạn chế. Năm 2025, Việt Nam đứng thứ 39 về đầu ra tri thức và công nghệ nhưng chỉ đứng thứ 80 về tạo lập tri thức; riêng số bài báo khoa học và kỹ thuật tính theo quy mô GDP đứng thứ 105. Doanh thu từ quyền sở hữu trí tuệ cũng đứng ở thứ hạng thấp, thứ 112 (WIPO, 2025). Vì vậy, hạn chế của đối tượng lao động mới không phải là thiếu dữ liệu hay thiếu thông tin, tri thức đơn thuần, mà là khả năng tổ chức, xử lý, kết nối và chuyển hóa dữ liệu - tri thức thành công nghệ, sản phẩm và giá trị gia tăng còn thấp.

Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa tạo được nền tảng đủ mạnh cho lực lượng sản xuất nội sinh

Vai trò kinh tế trực tiếp và lan tỏa của khoa học và công nghệ đang gia tăng ở Việt Nam. Năm 2025, hoạt động khoa học và công nghệ đóng góp trực tiếp khoảng 1,68% GDP và tác động gián tiếp khoảng 0,81%, tổng cộng khoảng 2,5% GDP, tương đương 320.400 tỷ đồng (Cục Thống kê, 2026). Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã có tiến bộ rõ rệt. Năm 2025, Việt Nam đứng thứ 44/139 nền kinh tế trong GII và tiếp tục thuộc nhóm các nền kinh tế có kết quả đổi mới sáng tạo cao hơn mức kỳ vọng so với trình độ phát triển (WIPO, 2025). Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa các cấu phần khá rõ: Việt Nam đứng thứ 34 về đầu ra sáng tạo, thứ 39 về đầu ra tri thức và công nghệ, trong khi đứng thứ 70 về vốn con người và nghiên cứu. Điều này cho thấy hệ thống đổi mới sáng tạo đã phát triển nhưng chưa chuyển hoàn toàn sang mô hình đổi mới dựa trên R&D và công nghệ nội sinh. Kết quả này cần được nhìn nhận cùng với những hạn chế về năng lực công nghệ và R&D. Chi tiêu R&D của Việt Nam đã tăng từ 0,15% GDP năm 2011 lên 0,43% năm 2021, song vẫn thấp so với nhiều nền kinh tế châu Á có trình độ công nghệ cao; số nhân lực R&D của Việt Nam năm 2021 khoảng 779 người trên một triệu dân, thấp hơn đáng kể so với Thái Lan và Hàn Quốc (OECD, 2025).

Phương thức kết hợp các yếu tố sản xuất chưa tạo được mức độ liên kết cao giữa công nghệ, lao động, doanh nghiệp và tri thức

Phương thức kết hợp các yếu tố sản xuất ở Việt Nam đã có sự dịch chuyển khá rõ từ kết hợp trong phạm vi doanh nghiệp sang kết hợp theo mạng lưới và chuỗi giá trị, thúc đẩy tăng trưởng GDP tăng 8,02% năm 2025, năng suất lao động tăng 6,83%. Tuy nhiên, OECD chỉ ra rằng, tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam đã giảm từ khoảng 5,9%/năm giai đoạn 2000-2010 xuống 4,6%/năm giai đoạn 2010-2022, thấp hơn mục tiêu 6,5% của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2021-2025. Điều này cho thấy một đặc điểm quan trọng của quá trình phát triển LLSX mới: các chỉ tiêu kết quả đã được cải thiện, nhưng chưa thể hiện đầy đủ một sự chuyển đổi căn bản sang mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tri thức, đổi mới sáng tạo và công nghệ nội sinh.

Nguyên nhân là do liên kết nội sinh còn hạn chế, thể hiện rõ ở mức độ kết nối giữa FDI - doanh nghiệp trong nước - viện nghiên cứu - trường đại học - hệ sinh thái đổi mới sáng tạo chưa tương xứng với yêu cầu của LLSX mới. Báo cáo của OECD (2026) cho thấy doanh nghiệp nước ngoài có xu hướng sử dụng công nghệ tiên tiến nhiều hơn doanh nghiệp trong nước, nhưng mức đóng góp trực tiếp vào đổi mới nội địa còn hạn chế. Đáng chú ý, chỉ 1,9% tổng vốn đầu tư FDI mới trong giai đoạn 2020-2024 được dành cho R&D, thấp hơn mức 3,7% của OECD và 2,4% của ASEAN. Lĩnh vực số có dấu hiệu tích cực hơn: khoảng 16% dự án FDI kỹ thuật số trong giai đoạn 2021-2025 có hoạt động R&D, tăng từ 14% trong giai đoạn 2016-2020. Tuy nhiên, quy mô vốn của các dự án này thường tương đối nhỏ, cho thấy quá trình dịch chuyển sang các chức năng kỹ thuật và tri thức cao hơn mới đang hình thành.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CMCN 4.0

Trong bối cảnh CMCN 4.0, LLSX của Việt Nam đã xuất hiện các yếu tố sản xuất mới và đã bắt đầu tạo ra những năng lực sản xuất khác với phương thức truyền thống. Tuy nhiên chất lượng của từng yếu tố và khả năng kết hợp chúng để tạo ra năng suất, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng đang gặp nhiều vấn đề. Vì vậy, để phát triển LLSX trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần tập trung vào 6 nhóm chính sách dưới đây.

Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và năng lực thích ứng công nghệ

Trước hết, cần coi người lao động là yếu tố trung tâm của LLSX mới, chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô đào tạo sang nâng cao chất lượng, kỹ năng và khả năng thích ứng với công nghệ. Ưu tiên phát triển nhân lực STEM, kỹ thuật, AI, dữ liệu, bán dẫn, tự động hóa, công nghệ sinh học và các ngành công nghệ nền tảng; đồng thời tăng cường kỹ năng số và kỹ năng công nghệ cho lao động trong các ngành truyền thống. Cần gắn chặt đào tạo với nhu cầu của doanh nghiệp thông qua sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp vào xây dựng chương trình, đào tạo tại nơi làm việc và đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động hiện hữu. Đặc biệt, cần phát triển hệ thống đào tạo lại và nâng cao kỹ năng nhằm thích ứng với quá trình tự động hóa và thay đổi nhanh của công nghệ. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để cải thiện năng suất của Việt Nam.

Thứ hai, phát triển và làm chủ tư liệu lao động mới, nhất là công nghệ số và hạ tầng dữ liệu

Trọng tâm chính sách không chỉ là mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ mà phải nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ và cải tiến công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam. Nhà nước cần ưu tiên đầu tư các hạ tầng có tính nền tảng và dùng chung, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận công nghệ với chi phí hợp lý. Cùng với hạ tầng số, cần coi hạ tầng dữ liệu là một bộ phận quan trọng của tư liệu lao động trong LLSX mới. Phát triển các cơ sở dữ liệu, nền tảng dữ liệu dùng chung và cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu cần đi đôi với bảo đảm an toàn, bảo mật và quyền khai thác hợp pháp. Mục tiêu cuối cùng là biến hạ tầng và dữ liệu từ “nguồn lực tiềm năng” thành năng lực sản xuất thực tế.

Thứ ba, thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển từ hấp thụ sang sáng tạo

Để tạo bước chuyển từ mô hình tiếp nhận và ứng dụng công nghệ sang làm chủ, cải tiến và từng bước sáng tạo công nghệ, cần tập trung nguồn lực cho một số công nghệ có tính nền tảng và lan tỏa cao như AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ năng lượng, tự động hóa và công nghệ số. Chính sách R&D nên được thiết kế theo chuỗi từ nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ đến thương mại hóa và mở rộng sản xuất. Đồng thời, cần tăng vai trò của doanh nghiệp trong hệ thống đổi mới sáng tạo, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư R&D, hợp tác với trường đại học và viện nghiên cứu, hình thành các trung tâm R&D và mạng lưới đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao liên kết FDI - doanh nghiệp nội địa

Nhóm chính sách thứ tư hướng tới nâng cao năng lực của chủ thể trực tiếp tổ chức và kết hợp các yếu tố của LLSX - tức doanh nghiệp. Cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tăng quy mô, tích lũy vốn, đầu tư công nghệ và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị. Chính sách hỗ trợ không nên chỉ tập trung vào số lượng doanh nghiệp mà phải hướng tới nâng cao năng suất, năng lực công nghệ và khả năng đổi mới sáng tạo. Đối với FDI, cần chuyển dần từ mục tiêu thu hút vốn và mở rộng năng lực sản xuất sang nâng cao chất lượng lan tỏa công nghệ và tri thức. Cần phát triển các chương trình kết nối nhà cung ứng trong nước với doanh nghiệp FDI, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế và thúc đẩy hợp tác R&D, đào tạo nhân lực và đổi mới công nghệ.

Thứ năm, hoàn thiện thể chế để tạo môi trường cho các phương thức sản xuất mới

Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến dữ liệu, AI, tài sản trí tuệ, kinh tế nền tảng, thương mại điện tử, công nghệ tài chính, sản xuất thông minh và các mô hình kinh doanh mới. Với những lĩnh vực công nghệ phát triển nhanh, cần áp dụng mạnh hơn cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, đánh giá rủi ro và điều chỉnh chính sách linh hoạt. Song song với đó là bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng, cải thiện khả năng tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ và thị trường của doanh nghiệp tư nhân. Cải thiện phân bổ nguồn lực có ý nghĩa trực tiếp đối với LLSX vì nó cho phép lao động và vốn dịch chuyển tới những doanh nghiệp và ngành có năng suất cao hơn. Đồng thời tạo sân chơi bình đẳng hơn giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân và tăng cạnh tranh, nhất là trong các ngành dịch vụ.

Thứ sáu, gắn phát triển lực lượng sản xuất mới với nâng năng suất và phát triển bền vững

Để đảm bảo đầu ra của LLSX, hệ thống đánh giá chính sách cần chuyển từ các chỉ tiêu đơn thuần về số hóa sang các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kết hợp các yếu tố sản xuất như năng suất lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), giá trị gia tăng nội địa, tỷ lệ sản phẩm công nghệ cao, năng lực đổi mới và mức độ tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị. Đồng thời, phát triển LLSX mới phải gắn với xanh hóa sản xuất. AI, tự động hóa, dữ liệu và công nghệ số cần được sử dụng để tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và phát triển kinh tế tuần hoàn. Điều này đặc biệt quan trọng khi Việt Nam vừa phải đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh vừa thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

KẾT LUẬN

Có thể khẳng định rằng, CMCN 4.0 đang tạo ra một bước chuyển quan trọng trong sự phát triển của LLSX mới. Đối với Việt Nam, quá trình này đã bắt đầu và đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn chuyển tiếp, trong đó các yếu tố mới tồn tại đan xen với các yếu tố truyền thống. Khoảng cách về nhân lực chất lượng cao, R&D, sáng tạo tri thức, năng lực công nghệ nội sinh và khả năng tích hợp công nghệ của doanh nghiệp vẫn là những điểm nghẽn quan trọng đối với việc phát triển LLSX mới. Vì vậy, Việt Nam cần tập trung xây dựng năng lực nội sinh để biến khoa học, công nghệ, dữ liệu, tri thức và con người thành sức sản xuất mới. Đây không chỉ là yêu cầu của CMCN 4.0 mà còn là một trong những điều kiện quyết định khả năng thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong giai đoạn mới.

(*) Nghiên cứu này là sản phẩm của đề tài cấp Bộ: “Những nội dung mới của lực lượng sản xuất trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư” do TS. Nguyễn Hồng Thu làm chủ nhiệm, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới là tổ chức chủ trì thực hiện.

Tài liệu tham khảo:

1. Baratta A, Cimino A, Gnoni MG, Longo F (2023). Human Robot Collaboration in Industry 4.0: A Literature Review. Procedia Computer Science 217 (2023) 1887-1895. doi: 10.1016/j.procs.2022.12.389

2. C.Mác và Ph. Ăngghen (1995). Toàn tập. t.4. Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.187.

3. C.Mác và Ph.Ăngghen (2002). Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr. 269.

4. CIEM (2025). Báo cáo đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ 4.0 trong doanh nghiệp sản xuất Việt Nam. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Nxb Kinh tế.

5. Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.

6. IFR (2025). World Robotics 2025. International Federation of Robotics.

7. Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam - VNISA (2025). Báo cáo đánh giá diễn biến an toàn thông tin mạng tại Việt Nam năm 2025. Nxb VNISA.

8. IDC (2023). Worldwide IDC Global DataSphere Forecast, 2023-2027: Continuous Data Growth in an AI-Driven World. International Data Corporation.

9. Nelson, R. R., & Winter, S. G. (1982). An evolutionary theory of economic change. Harvard University Press.

10. OECD (2019). Exploring the Economics of Personal Data: A Survey of Methodologies for Measuring its Value. OECD Digital Economy Papers, No. 220. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/5k486qtxldmq-en

11. OECD (2025). OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025. OECD Publishing.

12. OECD (2026). Báo cáo về các yếu tố thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam (ấn bản rút gọn). OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/9f15e7a0-vi

13. Oxford Insights (2025). Government AI Readiness Index 2025. Oxford Insights Publishing.

14. Romer, P. M. (1990). Endogenous technological change. Journal of Political Economy, 98(5, Part 2), S71-S102. https://doi.org/10.1086/261725

15. Solow, R. M. (1957). Technical change and the aggregate production function. The Review of Economics and Statistics, 39(3), 312-320. https://doi.org/10.2307/1926047

16. VINASA (2025). Báo cáo khảo sát nhu cầu nhân lực CNTT và công nghệ cao giai đoạn 2025-2030. Hiệp hội Doanh nghiệp CNTT Việt Nam.

17. WB (2021). World Development Report 2021: Data for Better Lives. World Bank. https://doi.org/10.1596/978-1-4648-1612-3

18. WEF (2023). The Future of Jobs Report 2023. World Economic Forum

19. WEF (2024). The Global Competitiveness Report 2024: Digital Skills and Human Capital Readiness. World Economic Forum.

20. WIPO (2025). Global Innovation Index 2025. World Intellectual Property Organization.

Ngày nhận bài: 2/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/9/2026; Ngày duyệt đăng: 2/10/2026

Các tin khác

Chuyển hóa FDI thành động lực phát triển kinh tế: Vai trò của năng lực hấp thụ công nghệ

Chuyển hóa FDI thành động lực phát triển kinh tế: Vai trò của năng lực hấp thụ công nghệ

Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, FDI tiếp tục là nguồn lực quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển. Bên cạnh bổ sung vốn, FDI mang lại công nghệ, kỹ năng quản trị và cơ hội tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị liên quan đến lựa chọn dịch vụ lưu trú cao cấp tại Hà Nội

Các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị liên quan đến lựa chọn dịch vụ lưu trú cao cấp tại Hà Nội

Trải nghiệm đã trở thành một hướng nghiên cứu quan trọng trong du lịch và khách sạn, phản ánh sự chuyển dịch từ việc chỉ xem xét sản phẩm hoặc chất lượng dịch vụ sang cách tiếp cận rộng hơn về những gì du khách cảm nhận, suy nghĩ và thực hiện trong quá trình tương tác với điểm đến.
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại  Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Biên Hòa

Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Biên Hòa

Trong bối cảnh kinh tế số và thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, thẻ tín dụng ngày càng trở thành sản phẩm quan trọng của ngân hàng bán lẻ nhờ khả năng hỗ trợ thanh toán, chi tiêu ngắn hạn, miễn lãi, trả góp, hoàn tiền và tích điểm.
Tác động của nội dung tiếp thị do AI tạo ra trên mạng xã hội đến ý định mua thực phẩm thương hiệu Bibigo của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của nội dung tiếp thị do AI tạo ra trên mạng xã hội đến ý định mua thực phẩm thương hiệu Bibigo của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (GenAI) đang làm thay đổi hoạt động marketing, đặc biệt thông qua nội dung tiếp thị do AI tạo ra giúp doanh nghiệp sáng tạo nội dung nhanh hơn, tiết kiệm chi phí và nâng cao mức độ cá nhân hóa
Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam

Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam

Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) được Nhà nước giao phó trọng trách quản lý một quỹ đất có quy mô khổng lồ, trải dài qua hàng chục tỉnh, thành phố và gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển hàng thế kỷ của ngành đường sắt.
​​​​​​​Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An

​​​​​​​Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An

Các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo đã chuyển dần từ cách tiếp cận coi đổi mới là kết quả của hoạt động nghiên cứu và phát triển bên trong doanh nghiệp sang quan điểm hệ thống, trong đó đổi mới được hình thành thông qua tương tác giữa doanh nghiệp với môi trường thể chế, các tổ chức tri thức và các mạng lưới kinh tế.
Giải thích ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z tại thị trường Nha Trang

Giải thích ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z tại thị trường Nha Trang

Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z không chỉ giải mã tâm lý sử dụng của nhóm đối tượng này, mà còn góp phần hỗ trợ cơ quan và doanh nghiệp địa phương triển khai các giải pháp, chính sách khắc phục ô nhiễm môi trường.
Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Ngày 19/5/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm cho giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh đó, vai trò dẫn dắt của đầu tư công đối với khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng.
Đổi mới cơ chế đầu tư giao thông đô thị ở Việt Nam: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý chính sách

Đổi mới cơ chế đầu tư giao thông đô thị ở Việt Nam: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý chính sách

Đô thị hóa nhanh làm gia tăng nhu cầu đi lại, ùn tắc, ô nhiễm và yêu cầu tái cấu trúc không gian. Trong bối cảnh đó, giao thông đô thị không còn chỉ là một nhóm công trình kỹ thuật, mà là hạ tầng nền tảng quyết định năng suất, khả năng tiếp cận việc làm, hiệu quả sử dụng đất và chất lượng sống.
​​​​​​​Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công tại Hà Tĩnh: Kinh nghiệm giai đoạn 2020-2025 và hàm ý cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số từ năm 2026

​​​​​​​Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công tại Hà Tĩnh: Kinh nghiệm giai đoạn 2020-2025 và hàm ý cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số từ năm 2026

Theo cách tiếp cận tăng trưởng nội sinh, chi tiêu công cho hạ tầng và dịch vụ có thể tác động đến năng suất biên của vốn tư nhân nếu được phân bổ vào các lĩnh vực tạo ngoại ứng tích cực.