​​​​​​​Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An

Nghiên cứu - Trao đổi 12:04 | 03/10/2026
Các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo đã chuyển dần từ cách tiếp cận coi đổi mới là kết quả của hoạt động nghiên cứu và phát triển bên trong doanh nghiệp sang quan điểm hệ thống, trong đó đổi mới được hình thành thông qua tương tác giữa doanh nghiệp với môi trường thể chế, các tổ chức tri thức và các mạng lưới kinh tế.

ThS. Võ Minh Thế

NCS ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học Vinh; Email: [email protected]

Thái Minh Nhật

Học viên cao học ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học Vinh; Email: [email protected]

PGS, TS. Nguyễn Thị Minh Phượng

GVCC Trường Đại học Vinh; Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa, lấy Nghệ An làm nghiên cứu trường hợp trong giai đoạn 2020-2025. Trên cơ sở Lý thuyết hệ thống đổi mới sáng tạo vùng, Mô hình Triple Helix và cách tiếp cận hỗ trợ doanh nghiệp; sử dụng phương pháp phân tích chính sách, thống kê mô tả và so sánh dữ liệu thứ cấp từ PII, PCI, niên giám thống kê và các văn bản chính sách, kết quả cho thấy Nghệ An đã từng bước chuyển từ hỗ trợ doanh nghiệp theo chiều rộng sang kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cải thiện môi trường thể chế, kết nối doanh nghiệp, trường đại học, cơ quan khoa học và tổ chức các chương trình khởi nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, dữ liệu PII 2025 cho thấy khoảng cách đáng kể giữa đầu vào đổi mới sáng tạo và kết quả đầu ra ở cấp doanh nghiệp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất chuyển trọng tâm chính sách từ cung cấp hỗ trợ sang tạo ra kết quả đổi mới sáng tạo có thể đo lường, đồng thời phát triển cơ chế đồng tài trợ R&D, phiếu đổi mới sáng tạo, liên kết doanh nghiệp, trường đại học, phát triển nhà cung ứng cho doanh nghiệp FDI và hệ thống giám sát chính sách dựa trên kết quả.

Từ khóa: Chính quyền cấp tỉnh, đổi mới sáng tạo, DNNVV, hệ thống đổi mới sáng tạo vùng, chính sách đổi mới sáng tạo

Abstract

This study analyzes the role of provincial governments in promoting innovation among small and medium-sized enterprises, using Nghe An as a case study during the 2020-2025 period. Drawing on Regional Innovation Systems Theory, the Triple Helix Model, and a business support approach, and employing policy analysis, descriptive statistics, and comparisons of secondary data from the Provincial Innovation Index (PII), Provincial Competitiveness Index (PCI), statistical yearbooks, and policy documents, the results show that Nghe An has gradually shifted from broad-based enterprise support toward fostering an innovation ecosystem, improving the institutional environment, connecting enterprises, universities, and scientific organizations, and organizing innovative entrepreneurship programs. However, PII 2025 data indicate a significant gap between innovation inputs and outputs at the enterprise level. Accordingly, the study proposes shifting the policy focus from providing support toward generating measurable innovation outcomes, while developing co-financing mechanisms for R&D, innovation vouchers, enterprise-university linkages, supplier development for FDI enterprises, and an outcome-based policy monitoring system.

Keywords: Provincial government, innovation, small and medium-sized enterprises, Regional Innovation Systems, innovation policy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo (ĐMST) đã chuyển dần từ cách tiếp cận coi đổi mới là kết quả của hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) bên trong doanh nghiệp sang quan điểm hệ thống, trong đó đổi mới được hình thành thông qua tương tác giữa doanh nghiệp với môi trường thể chế, các tổ chức tri thức và các mạng lưới kinh tế. Cooke và cộng sự (1997) đặt nền tảng cho cách tiếp cận hệ thống ĐMST vùng khi cho rằng, năng lực đổi mới của một khu vực phụ thuộc vào năng lực tài chính, quá trình học hỏi được thể chế hóa, cấu trúc tổ chức và khả năng phối hợp của các chủ thể; do đó năng lực đổi mới không thể được lý giải đầy đủ chỉ bằng đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp. Trên nền tảng đó, Etzkowitz và Leydesdorff (2000) phát triển Mô hình Triple Helix, nhấn mạnh sự tương tác giữa trường đại học, doanh nghiệp và chính quyền như một cơ chế hình thành, chuyển giao và thương mại hóa tri thức. Hai cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), bởi nhóm doanh nghiệp này thường không đủ nguồn lực duy trì hệ thống R&D độc lập và do vậy phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn tri thức bên ngoài.

Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam củng cố lập luận đó. Nguyen và cộng sự (2023), sử dụng dữ liệu bảng của 1.018 DNNVV Việt Nam, cho thấy hỗ trợ phi tài chính của Nhà nước đối với đào tạo nhân lực và phát triển công nghệ làm tăng khả năng đổi mới sản phẩm và quy trình, trong khi nguồn lực dự phòng đóng vai trò trung gian giúp doanh nghiệp hấp thụ hỗ trợ bên ngoài. Trong một bối cảnh khác, Nguyen và cộng sự (2024) cho thấy DNNVV đổi mới có khả năng chống chịu và tồn tại tốt hơn trong đại dịch, đồng thời hỗ trợ của Chính phủ là một cơ chế quan trọng trong mối quan hệ này; tuy nhiên, nghiên cứu cũng nhấn mạnh yêu cầu thiết kế chính sách nhằm hạn chế hiệu ứng hỗ trợ chết và hiệu ứng thay thế.

Xét trong bối cảnh Việt Nam, Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 và Nghị định 80/2021/NĐ-CP đã thể chế hóa nhiều công cụ hỗ trợ công nghệ, tư vấn, nhân lực, khởi nghiệp sáng tạo và chuỗi giá trị, trong khi Luật Khoa học, công nghệ và ĐMST năm 2025 mở rộng nền tảng pháp lý của chính sách đổi mới (Quốc hội, 2017, 2025; Chính phủ, 2021).

Trường hợp Nghệ An cung cấp một bối cảnh hữu ích để kiểm nghiệm những lập luận này ở cấp địa phương. Kế hoạch 383/KH-UBND năm 2022 và Kế hoạch 686/KH-UBND năm 2024 cho thấy vai trò của chính quyền đang chuyển từ hỗ trợ DNNVV theo các chương trình riêng lẻ sang điều phối hệ sinh thái, cải thiện thể chế, kết nối doanh nghiệp với trường đại học, hỗ trợ chuyển giao công nghệ và quản trị đổi mới dựa trên PII (UBND tỉnh Nghệ An, 2022, 2024). Tuy nhiên, dữ liệu PII 2025 cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa đầu vào đổi mới của Nghệ An (46,97 điểm) và đầu ra (27,34 điểm), trong khi tỷ lệ doanh nghiệp có R&D và hoạt động đổi mới lần lượt mới đạt 1,80% và 1,70% (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Khoảng trống nghiên cứu vì vậy nằm ở việc các công trình hiện có chủ yếu xác nhận rằng hỗ trợ của Nhà nước có liên quan đến đổi mới doanh nghiệp nhưng chưa giải thích đầy đủ cơ chế mà năng lực điều hành của chính quyền cấp tỉnh chuyển hóa thành đổi mới đối với DNNVV, đặc biệt thông qua liên kết trường đại học doanh nghiệp, phát triển nhà cung ứng FDI, tổ chức trung gian và các công cụ đồng tài trợ R&D.

Nghiên cứu trường hợp Nghệ An góp phần bổ sung khoảng trống này khi đề xuất chuyển đơn vị phân tích từ số lượng chính sách và mức hỗ trợ sang hiệu suất chuyển hóa đầu vào chính sách thành đầu ra đổi mới của doanh nghiệp, qua đó đặt nền tảng cho các nghiên cứu định lượng tiếp theo về tác động của chính quyền địa phương đối với năng lực ĐMST của DNNVV.

KHUNG LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khung lý thuyết về vai trò của chính quyền cấp tỉnh

Theo cách tiếp cận hệ thống ĐMST vùng, chính quyền địa phương không đơn thuần là cơ quan quản lý hành chính. Chính quyền đồng thời đóng vai trò kiến tạo thể chế, điều phối mạng lưới, cung cấp hoặc kích hoạt nguồn lực và khắc phục các thất bại hệ thống. Cooke và cộng sự (1997) nhấn mạnh 3 điều kiện quan trọng đối với đổi mới vùng gồm năng lực tài chính, quá trình học hỏi được thể chế hóa và văn hóa sản xuất - đổi mới. Do đó, một địa phương có nhiều doanh nghiệp nhưng các doanh nghiệp không kết nối với trường đại học, tổ chức khoa học, quỹ đầu tư hoặc thị trường công nghệ thì khó hình thành một hệ thống đổi mới có hiệu quả.

Mô hình Triple Helix bổ sung một luận điểm quan trọng: chính quyền không nên thay thế doanh nghiệp trong quá trình đổi mới, mà cần thiết kế điều kiện để tri thức của trường đại học, nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp và nguồn lực công gặp nhau. Chính quyền vì vậy có chức năng như một nhà kiến tạo nền tảng hơn là chỉ một nhà tài trợ (Etzkowitz và Leydesdorff, 2000).

Từ 2 tiếp cận trên, nghiên cứu xác định vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với ĐMST của DNNVV thông qua 5 kênh liên kết: tạo lập thể chế và giảm chi phí giao dịch; hỗ trợ nguồn lực và nâng cao năng lực hấp thụ; phát triển hạ tầng và các tổ chức trung gian đổi mới; kết nối doanh nghiệp với nguồn tri thức, trường đại học, FDI và thị trường; cuối cùng là đo lường, giám sát và điều chỉnh chính sách theo kết quả. Năm kênh này có quan hệ bổ sung lẫn nhau; hỗ trợ tài chính đơn lẻ khó tạo ra đổi mới nếu thiếu năng lực doanh nghiệp và cơ chế liên kết.

Nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2023) củng cố lập luận này khi cho thấy, tại Việt Nam, hỗ trợ đào tạo và công nghệ của Nhà nước có khả năng làm tăng đổi mới sản phẩm và quy trình. Đồng thời, kết quả của Nguyen và cộng sự (2024) cảnh báo rằng, chính sách hỗ trợ cần được thiết kế để hạn chế hiệu ứng tiêu cực, tức hỗ trợ những hoạt động doanh nghiệp vốn vẫn có thể tự thực hiện và hiệu ứng thay thế nguồn lực tư nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp đối với tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2020-2025. Dữ liệu được tổng hợp từ Niên giám Thống kê Nghệ An; bộ PII 2023, 2024 và 2025; PCI; các kế hoạch của UBND tỉnh; pháp luật về hỗ trợ DNNVV và ĐMST; đồng thời đối chiếu với nghiên cứu thực nghiệm đã công bố về DNNVV Việt Nam.

Ba phương pháp phân tích được sử dụng. Thứ nhất, thống kê mô tả nhằm nhận diện sự thay đổi về quy mô doanh nghiệp, mật độ doanh nghiệp và các chỉ tiêu PII. Thứ hai, so sánh theo thời gian và so sánh với một số địa phương khu vực Bắc Trung Bộ nhằm xác định tương quan vị thế của Nghệ An. Thứ ba, phân tích chính sách theo chuỗi đầu vào chính sách, năng lực hệ sinh thái, hoạt động đổi mới của doanh nghiệp, đầu ra đổi mới.

Nghiên cứu không sử dụng dữ liệu vi mô cấp doanh nghiệp để ước lượng tác động nhân quả. Do đó, các kết quả về vai trò của chính quyền được hiểu là bằng chứng mô tả và phân tích cơ chế, không phải bằng chứng rằng một chính sách riêng biệt đã gây ra một mức tăng xác định trong ĐMST. Hạn chế này đặc biệt cần lưu ý khi sử dụng PII vì cấu trúc chỉ số và địa giới hành chính có thay đổi qua các năm.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Sự phát triển của khu vực doanh nghiệp Nghệ An giai đoạn 2020-2025

Số liệu trong Bảng 1 cho thấy số doanh nghiệp của Nghệ An tăng từ 10.244 doanh nghiệp năm 2020 lên 12.766 doanh nghiệp năm 2024, tương ứng tăng khoảng 24,6%. Trong khi dân số chỉ tăng khoảng 3,2%, mật độ doanh nghiệp tăng từ 3,04 lên 3,68 doanh nghiệp/1.000 dân.

Bảng 1: Một số chỉ tiêu nền tảng của khu vực doanh nghiệp Nghệ An giai đoạn 2020-2024

Chỉ tiêu

2020

2024

So sánh

giai đoạn 2020-2024 (%)

Dân số trung bình (nghìn người)

3.365,2

3.472,3

3,2

Số doanh nghiệp

10.244

12.766

24,6

Doanh nghiệp/1.000 dân

3,04

3,68

21,1

Thu nhập bình quân (nghìn đồng/người/tháng)

3.007,1

4.420,3

47,0

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Nghệ An (2025)

Sự gia tăng số lượng doanh nghiệp tạo điều kiện mở rộng cầu đổi mới, nhưng không đồng nghĩa với việc năng lực công nghệ của doanh nghiệp tự động được cải thiện. Đây là điểm cần phân biệt giữa phát triển doanh nghiệp theo số lượng và phát triển doanh nghiệp dựa trên ĐMST.

Theo bộ dữ liệu PII 2025 (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025), mật độ doanh nghiệp của Nghệ An được ghi nhận ở mức 4,10 doanh nghiệp/1.000 dân. Cùng lúc đó, Tỉnh có 248,66 doanh nghiệp hoạt động trong các ngành dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ trên 1.000 doanh nghiệp, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động R&D chỉ đạt 1,80% và tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động ĐMST là 1,70%.

Như vậy, thách thức của giai đoạn tiếp theo không đơn giản là tạo thêm doanh nghiệp, mà là nâng tỷ lệ doanh nghiệp thực sự tham gia vào R&D, đổi mới công nghệ và thương mại hóa tri thức.

Vai trò kiến tạo thể chế và môi trường kinh doanh

Vai trò đầu tiên của chính quyền cấp tỉnh nằm ở khả năng giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp. Đối với DNNVV, chi phí tìm hiểu thủ tục, xin giấy phép, tiếp cận thông tin, đất đai và dịch vụ công có tỷ trọng tương đối lớn hơn so với doanh nghiệp quy mô lớn. Vì vậy, cải cách hành chính về bản chất cũng là một dạng chính sách ĐMST: nguồn lực doanh nghiệp tiết kiệm được từ chi phí tuân thủ có thể được phân bổ sang đào tạo, công nghệ và phát triển sản phẩm.

Kế hoạch 383/KH-UBND năm 2022 là một dấu mốc cho thấy hỗ trợ DNNVV được tổ chức thành chương trình ở cấp tỉnh. Đến Kế hoạch 686/KH-UBND năm 2024, cách tiếp cận đã rộng hơn khi gắn môi trường kinh doanh với chỉ số ĐMST, phát triển doanh nghiệp KH&CN, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp, liên kết đào tạo doanh nghiệp và rút ngắn thủ tục hành chính (UBND tỉnh Nghệ An, 2022, 2024).

Kết quả về PCI 2024 cho thấy Nghệ An đạt 66,48 điểm. Một số chỉ số thành phần như gia nhập thị trường đạt 7,92 điểm và tiếp cận đất đai đạt 7,01 điểm; trong khi tính minh bạch giảm từ 6,74 điểm năm 2023 xuống 5,92 điểm năm 2024 và chi phí thời gian từ 7,37 xuống 6,54 (VCCI, 2025). Những biến động này cho thấy cải thiện thể chế không phải quá trình tuyến tính và việc ban hành chính sách chưa đủ để bảo đảm trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp đồng đều ở mọi khâu. Điều này có ý nghĩa trực tiếp đối với ĐMST. Một doanh nghiệp có ý tưởng đổi mới nhưng phải dành quá nhiều nguồn lực cho chi phí tuân thủ sẽ có xu hướng ưu tiên tồn tại ngắn hạn hơn là đầu tư cho những dự án công nghệ có thời gian hoàn vốn dài.

Chuyển từ hỗ trợ doanh nghiệp sang kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Một thay đổi quan trọng của chính sách địa phương là sự dịch chuyển từ tư duy hỗ trợ từng doanh nghiệp riêng lẻ sang hình thành mạng lưới ĐMST. Điều này thể hiện khá rõ trong Kế hoạch 686/KH-UBND khi Tỉnh yêu cầu tăng cường kết nối doanh nghiệp với trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tổ chức KH&CN (UBND tỉnh Nghệ An, 2024).

Techfest Nghệ An Open 2025 cũng phản ánh cách tiếp cận hệ sinh thái. Chương trình không chỉ tổ chức thi ý tưởng mà bao gồm trưng bày công nghệ, kết nối đầu tư, diễn đàn hoàn thiện chính sách, kết nối quỹ và startup. Kế hoạch của UBND tỉnh xác định rõ mục tiêu xây dựng mạng lưới chuyên gia, cố vấn, nhà đầu tư và kết nối hệ sinh thái Nghệ An với mạng lưới quốc gia và khu vực Bắc Trung Bộ (UBND tỉnh Nghệ An, 2025).

Theo mô hình Triple Helix, đây là hướng đi phù hợp. Tuy nhiên, chất lượng hệ sinh thái không nên được đánh giá chủ yếu bằng số sự kiện, số hội thảo hoặc số dự án tham dự cuộc thi. Thước đo có ý nghĩa hơn là số doanh nghiệp sau hỗ trợ triển khai được sản phẩm mới, số hợp đồng nghiên cứu doanh nghiệp - trường đại học, số công nghệ được chuyển giao, vốn tư nhân được huy động sau hỗ trợ và doanh thu từ sản phẩm đổi mới. Dữ liệu PII đã cung cấp một góc nhìn tương đối hệ thống về vấn đề này (Bảng 2).

Bảng 2: Một số chỉ tiêu tổng hợp PII của Nghệ An

Chỉ tiêu

2023

2024

2025

Điểm PII

36,50

32,69

37,16

Đầu vào ĐMST

40,76

39,09

46,97

Đầu ra ĐMST

32,23

26,29

27,34

Thể chế

60,81

55,60

57,20

Trình độ phát triển doanh nghiệp

32,45

33,72

41,82

Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ (2024a, 2024b, 2025)

Đặc biệt lưu ý đó là cấu trúc đầu vào đầu ra. Năm 2025, đầu vào ĐMST của Nghệ An đạt 46,97 điểm nhưng đầu ra chỉ đạt 27,34 điểm. Khoảng cách gần 20 điểm này gợi ý rằng một phần đáng kể nguồn lực, thể chế và điều kiện hỗ trợ chưa được chuyển hóa tương xứng thành sản phẩm tri thức, công nghệ và kết quả đổi mới.

So sánh trong khu vực năm 2025 cho thấy điểm PII của TP. Huế là 49,37; Thanh Hóa 41,06; Nghệ An 37,16; Hà Tĩnh 34,69 và Quảng Trị 34,09. Đây là phép so sánh mô tả, không phải đánh giá chất lượng điều hành tổng thể của từng chính quyền địa phương, bởi cấu trúc kinh tế, quy mô đô thị và nền tảng KH&CN giữa các địa phương khác nhau.

Bảng 3: Một số chỉ tiêu phản ánh đầu vào chính sách, năng lực doanh nghiệp, đầu ra của Nghệ An năm 2025

Nhóm

Chỉ tiêu

Giá trị (%)

Môi trường chính sách

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

8,01

Quản trị

Cải cách hành chính

89,00

Tính năng động của chính quyền địa phương

6,12

Năng lực doanh nghiệp

DN có hoạt động R&D

1,80

Liên kết

Hợp tác nghiên cứu giữa tổ chức KH&CN và DN

19,86

Hấp thu tri thức

DN có hoạt động ĐMST

1,70

FDI/GRDP

18,05

Lan tỏa tri thức

DN KH&CN và đủ điều kiện/1.000 DN

0,81

DN mới thành lập/10.000 dân

6,37

Khởi nghiệp

DN/dự án khởi nghiệp sáng tạo trong DN mới

5,63

Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ (2025)

Dữ liệu Bảng 3 cho thấy một nghịch lý chính sách. Chỉ tiêu chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đạt 8,01 trong khi tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện R&D là 1,80%, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động ĐMST là 1,70%, và mật độ doanh nghiệp KH&CN mới đạt 0,81 trên 1.000 doanh nghiệp. Đây không phải bằng chứng rằng chính sách không có tác dụng; nhưng đủ để đặt câu hỏi về hiệu suất chuyển hóa chính sách.

Vai trò kết nối tri thức, trường đại học và khu vực FDI

Một ưu thế tiềm năng của Nghệ An là sự hiện diện đồng thời của hệ thống cơ sở giáo dục đại học, các tổ chức KH&CN, khu kinh tế và dòng vốn FDI. PII 2025 ghi nhận FDI/GRDP đạt 18,05%, trong khi tỷ lệ hợp tác nghiên cứu giữa tổ chức KH&CN và doanh nghiệp đạt 19,86% (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025).

Tuy nhiên, FDI chỉ trở thành động lực đổi mới cho DNNVV địa phương khi hình thành được liên kết nhà cung ứng, chuyển giao tiêu chuẩn, đào tạo công nghệ và học hỏi quản trị. Nếu các doanh nghiệp FDI vận hành như những ốc đảo công nghệ, hiệu ứng lan tỏa đến DNNVV sẽ hạn chế.

Vai trò phù hợp của chính quyền tỉnh vì vậy không phải yêu cầu doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ bằng biện pháp hành chính, mà là giảm chi phí hình thành quan hệ giữa FDI với doanh nghiệp địa phương. Chính quyền có thể tổ chức cơ sở dữ liệu năng lực nhà cung ứng, chương trình đánh giá khoảng cách công nghệ, hỗ trợ chứng nhận ISO và tiêu chuẩn quốc tế, chương trình nâng cấp nhà cung ứng và dự án R&D đồng tài trợ với trường đại học.

Đây cũng là không gian để các trường đại học trên địa bàn chuyển từ mô hình cung cấp nhân lực sang vai trò tổ chức trung gian tri thức. Khi một DNNVV không có bộ phận R&D riêng, phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu của trường đại học có thể trở thành R&D mở rộng của doanh nghiệp thông qua hợp đồng nghiên cứu, thử nghiệm, thiết kế sản phẩm và chuyển giao công nghệ.

THẢO LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kết quả nghiên cứu cho thấy chính quyền cấp tỉnh có vai trò rõ rệt nhưng không nên được hiểu theo logic chính quyền càng chi nhiều thì doanh nghiệp càng đổi mới. Kinh nghiệm nghiên cứu về DNNVV Việt Nam cho thấy hỗ trợ đào tạo và công nghệ có tác động tích cực khi doanh nghiệp có khả năng hấp thụ và sử dụng nguồn lực hỗ trợ (Nguyen và cộng sự, 2023). Đồng thời, chính sách hỗ trợ không được thiết kế tốt có thể tạo ra hiệu ứng hỗ trợ trùng lặp hoặc thay thế nguồn lực mà doanh nghiệp vốn có thể tự huy động (Nguyen và cộng sự, 2024).

Đối với Nghệ An, hàm ý thứ nhất là cần chuyển từ quản lý chương trình hỗ trợ sang quản trị danh mục ĐMST của doanh nghiệp. Mỗi chương trình không nên chỉ báo cáo số lớp đào tạo, số doanh nghiệp tham gia hay kinh phí giải ngân, mà phải theo dõi kết quả sau 12-24 tháng: doanh nghiệp có sản phẩm mới hay không, doanh thu sản phẩm mới, năng suất lao động, bằng độc quyền hoặc giải pháp hữu ích, công nghệ được tiếp nhận, hợp đồng R&D và vốn tư nhân được huy động.

Thứ hai, Tỉnh nên triển khai cơ chế phiếu ĐMST cho DNNVV. Thay vì cơ quan quản lý lựa chọn sẵn dịch vụ cung cấp, doanh nghiệp được hỗ trợ một phần chi phí để mua dịch vụ R&D, kiểm định, thiết kế, sở hữu trí tuệ, chuyển đổi số hoặc tư vấn công nghệ từ trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp KH&CN đủ điều kiện. Cách làm này đồng thời tạo cầu công nghệ và thúc đẩy thị trường dịch vụ đổi mới.

Thứ ba, chính sách tài chính nên chuyển dần sang nguyên tắc đồng tài trợ. Với dự án cải tiến thông thường, Nhà nước chỉ tài trợ một tỷ lệ nhất định và doanh nghiệp phải cùng đầu tư; tỷ lệ hỗ trợ cao hơn có thể dành cho công nghệ xanh, công nghệ số, đổi mới có tính lan tỏa hoặc hợp tác doanh nghiệp - trường đại học. Cơ chế này giúp kiểm chứng mức độ cam kết của doanh nghiệp và giảm nguy cơ xin hỗ trợ để có hỗ trợ.

Thứ tư, Nghệ An cần phát triển một chương trình đổi mới nhà cung cấp gắn với khu kinh tế và các doanh nghiệp FDI. Trọng tâm không phải hỗ trợ dàn trải cho mọi doanh nghiệp, mà lựa chọn các DNNVV có tiềm năng trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2; tiến hành đánh giá khoảng cách về công nghệ, chất lượng, ESG, năng suất, quản trị và tiêu chuẩn; sau đó thiết kế gói hỗ trợ theo đúng khoảng cách đó.

Thứ năm, cần nâng vai trò của trường đại học trong hệ thống ĐMST vùng. Chính quyền có thể đặt hàng các bài toán doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp đưa ra vấn đề kỹ thuật thực tế; trường đại học và nhóm nghiên cứu đề xuất giải pháp; ngân sách tỉnh chỉ đồng tài trợ khi doanh nghiệp cam kết ứng dụng hoặc thương mại hóa kết quả. Cách tiếp cận này khác căn bản với tài trợ đề tài trước rồi mới tìm địa chỉ ứng dụng.

Thứ sáu, PII, PCI và các bộ chỉ số địa phương nên được sử dụng như hệ thống chẩn đoán, không phải mục tiêu hành chính tự thân. Mục tiêu cuối cùng không phải tăng một vài điểm chỉ số, mà là cải thiện thực chất năng lực R&D, đổi mới sản phẩm, năng suất, khả năng hấp thụ công nghệ và tỷ lệ doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị. Chính Kế hoạch 686/KH-UBND của Nghệ An đã chuyển theo hướng phân công trách nhiệm cụ thể để cải thiện từng cấu phần PII; bước tiếp theo cần bổ sung đánh giá kết quả ở cấp doanh nghiệp.

Việc Luật Khoa học, công nghệ và ĐMST số 93/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/10/2025 tạo bối cảnh pháp lý mới để các địa phương thiết kế chính sách theo hướng đặt hàng, chấp nhận đặc thù rủi ro của ĐMST và tăng liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất kinh doanh (Quốc hội, 2025). Tuy nhiên, các công cụ cụ thể của Tỉnh vẫn phải được thiết kế đúng thẩm quyền, bảo đảm minh bạch, cạnh tranh và có tiêu chí đánh giá kết quả rõ ràng.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với ĐMST của DNNVV không nên được giới hạn ở hỗ trợ tài chính hay ban hành chính sách ưu đãi, .à quan trọng hơn là khả năng kiến tạo thể chế, giảm chi phí giao dịch, kết nối các nguồn tri thức, chia sẻ rủi ro đổi mới và tổ chức hệ sinh thái ĐMST vùng.

Trường hợp Nghệ An giai đoạn 2020-2025 cho thấy những chuyển biến đáng ghi nhận về quy mô doanh nghiệp và cấu trúc chính sách. Số doanh nghiệp tăng từ 10.244 năm 2020 lên 12.766 năm 2024; mật độ doanh nghiệp tăng từ 3,04 lên 3,68 doanh nghiệp/1.000 dân. Tỉnh đã ban hành chương trình hỗ trợ DNNVV, xây dựng kế hoạch cải thiện PII, phát triển hoạt động khởi nghiệp sáng tạo và tăng cường kết nối doanh nghiệp với cơ sở khoa học - đào tạo.

Tuy vậy, dữ liệu PII 2025 cho thấy bài toán trọng tâm vẫn là khả năng chuyển hóa điều kiện đầu vào thành kết quả đổi mới ở doanh nghiệp. Điểm đầu vào đổi mới đạt 46,97 nhưng điểm đầu ra mới đạt 27,34; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động R&D là 1,80%, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động ĐMST là 1,70% và số doanh nghiệp KH&CN hoặc đủ điều kiện là doanh nghiệp KH&CN đạt 0,81/1.000 doanh nghiệp.

Do đó, chính sách giai đoạn tiếp theo cần chuyển từ hỗ trợ bao nhiêu doanh nghiệp sang tạo ra bao nhiêu kết quả đổi mới, từ hỗ trợ cung ứng sang hỗ trợ theo nhu cầu, từ tài trợ đơn phương sang đồng tài trợ, từ sự kiện kết nối sang hợp đồng R&D và thương mại hóa thực tế, và từ quản lý đầu vào ngân sách sang đánh giá kết quả ở cấp doanh nghiệp.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024a). Bộ chỉ số ĐMST cấp địa phương năm 2023 (PII 2023).

2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024b). Báo cáo Chỉ số ĐMST cấp địa phương năm 2024 (PII 2024).

3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Báo cáo Chỉ số ĐMST cấp địa phương năm 2025 (PII 2025).

4. Chính phủ (2021). Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

5. Cooke, P., Uranga, M. G., & Etxebarria, G. (1997). Regional innovation systems: Institutional and organisational dimensions. Research Policy, 26(4-5), 475-491. doi:10.1016/S0048-7333(97)00025-5

6. Cục Thống kê tỉnh Nghệ An (2025). Niên giám Thống kê tỉnh Nghệ An năm 2024.

7. Etzkowitz, H., & Leydesdorff, L. (2000). The dynamics of innovation: From National Systems and “Mode 2” to a Triple Helix of university-industry-government relations. Research Policy, 29(2), 109-123. doi:10.1016/S0048-7333(99)00055-4

8. Nguyen, T., Verreynne, M.-L., Steen, J., & Torres de Oliveira, R. (2023). Government support versus international knowledge: Investigating innovations from emerging-market small and medium enterprises. Journal of Business Research, 154, 113305. doi:10.1016/j.jbusres.2022.113305

9. Nguyen, H. T., Vu, T. T. D., Nguyen, H. M., & Nguyen, D. B. P. (2024). SMEs’ innovation and government support during the COVID-19 pandemic. Journal of Asian Business and Economic Studies, 31(3), 203-215. doi:10.1108/JABES-08-2023-0300

10. Quốc hội (2017). Luật số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017 về Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

11. Quốc hội (2025). Luật số 93/2025/QH15 ngày 27/6/2025 về Khoa học, công nghệ và ĐMST.

12. UBND tỉnh Nghệ An (2022). Kế hoạch số 383/KH-UBND ngày 15/6/2022 thực hiện một số nội dung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2022.

13. UBND tỉnh Nghệ An (2024). Kế hoạch số 686/KH-UBND ngày 04/9/2024 về cải thiện thứ hạng và nâng cao Chỉ số ĐMST (PII) tỉnh Nghệ An năm 2025 và giai đoạn 2026-2030.

14. UBND tỉnh Nghệ An (2025). Kế hoạch tổ chức Ngày hội Khởi nghiệp sáng tạo tỉnh Nghệ An mở rộng năm 2025 - Techfest Nghe An Open 2025.

15. VCCI (2025). Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2024 - Hồ sơ tỉnh Nghệ An.

Ngày nhận bài: 25/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 26/9/2026; Ngày duyệt đăng: 2/10/2026

Các tin khác

Giải thích ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z tại thị trường Nha Trang

Giải thích ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z tại thị trường Nha Trang

Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z không chỉ giải mã tâm lý sử dụng của nhóm đối tượng này, mà còn góp phần hỗ trợ cơ quan và doanh nghiệp địa phương triển khai các giải pháp, chính sách khắc phục ô nhiễm môi trường.
Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Ngày 19/5/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm cho giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh đó, vai trò dẫn dắt của đầu tư công đối với khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng.
Đổi mới cơ chế đầu tư giao thông đô thị ở Việt Nam: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý chính sách

Đổi mới cơ chế đầu tư giao thông đô thị ở Việt Nam: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý chính sách

Đô thị hóa nhanh làm gia tăng nhu cầu đi lại, ùn tắc, ô nhiễm và yêu cầu tái cấu trúc không gian. Trong bối cảnh đó, giao thông đô thị không còn chỉ là một nhóm công trình kỹ thuật, mà là hạ tầng nền tảng quyết định năng suất, khả năng tiếp cận việc làm, hiệu quả sử dụng đất và chất lượng sống.
​​​​​​​Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công tại Hà Tĩnh: Kinh nghiệm giai đoạn 2020-2025 và hàm ý cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số từ năm 2026

​​​​​​​Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công tại Hà Tĩnh: Kinh nghiệm giai đoạn 2020-2025 và hàm ý cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số từ năm 2026

Theo cách tiếp cận tăng trưởng nội sinh, chi tiêu công cho hạ tầng và dịch vụ có thể tác động đến năng suất biên của vốn tư nhân nếu được phân bổ vào các lĩnh vực tạo ngoại ứng tích cực.
Phát triển lực lượng sản xuất trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số hàm ý cho Việt Nam

Trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các công nghệ tiên tiến được kết hợp thành những hệ thống sản xuất có khả năng cảm nhận - kết nối - phân tích - ra quyết định - thực hiện - học hỏi. Dưới tác động của cuộc cách mạng này, lực lượng sản xuất đã có sự biến đổi sâu sắc về chất ở tất cả các thành tố.
Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi khách hàng chọn lựa sử dụng xe điện trong nước hoặc nước ngoài bằng phương pháp hồi quy logistic

Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi khách hàng chọn lựa sử dụng xe điện trong nước hoặc nước ngoài bằng phương pháp hồi quy logistic

Thị trường xe điện Việt Nam đang chứng kiến sự hiện diện đồng thời của các thương hiệu nội địa cùng với các hãng xe quốc tế, tạo nên một môi trường cạnh tranh đặc thù.
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn căn hộ có mức giá trung bình của khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn căn hộ có mức giá trung bình của khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh

Thị trường căn hộ tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2020-2025 gặp nhiều khó khăn. Theo HOREA (2022), khoảng 80% dự án chung cư tạm ngưng thi công do không bán được hàng.
Hành vi tìm kiếm thông tin bất động sản của người tiêu dùng trong bối cảnh chuyển đổi số tại TP. Hồ Chí Minh

Hành vi tìm kiếm thông tin bất động sản của người tiêu dùng trong bối cảnh chuyển đổi số tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh bất động sản, một hàng hóa có giá trị lớn, tính không đồng nhất cao, rủi ro pháp lý, tài chính đáng kể, bất cân xứng thông tin dễ dẫn tới lựa chọn bất lợi và gia tăng chi phí phòng vệ của người mua.
Quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An: Thực trạng và hàm ý chính sách

Quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An: Thực trạng và hàm ý chính sách

Nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An giai đoạn 2020-2025 để đề xuất các giải pháp thúc đẩy sản xuất liên kết, gắn với thị trường và phát triển bền vững.
Quản lý rủi ro pháp lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Quản lý rủi ro pháp lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số tài chính diễn ra mạnh mẽ, tài sản mã hóa đã trở thành một cấu phần ngày càng quan trọng trong hành vi tài chính của người dân Việt Nam