Quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An: Thực trạng và hàm ý chính sách
ThS. Trương Công Giáp
NCS ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học Vinh; Email: [email protected]
PGS, TS. Nguyễn Thị Minh Phượng
Trường Đại học Vinh; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp Nghệ An giai đoạn 2020-2025 qua khung thể chế, mô hình thực tiễn và liên kết chuỗi. Kết quả cho thấy, Tỉnh đã hình thành nhiều mô hình tuần hoàn hiệu quả, song công tác quản lý vẫn còn phân tán, thiếu hệ chỉ tiêu đo lường cấp tỉnh, hạn chế về thu gom phụ phẩm và năng lực tham gia của nông hộ nhỏ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bao gồm: xây dựng chương trình cấp tỉnh, thiết lập cơ chế điều phối liên ngành, phát triển cơ sở dữ liệu phụ phẩm, đổi mới hỗ trợ tài chính theo kết quả môi trường và phát huy vai trò trung gian của hợp tác xã.
Từ khóa: Kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp, quản lý nhà nước, phụ phẩm nông nghiệp, Nghệ An, chính sách xanh
Abstract
This study analyzes the current state of state management of the circular economy in agriculture in Nghe An Province during the 2020-2025 period through an institutional framework, practical models, and value-chain linkages. The results show that the province has developed several effective circular economy models; however, state management remains fragmented, with no provincial-level measurement indicator system, limitations in by-product collection, and limited capacity among smallholder farmers to participate. On this basis, the study proposes key solutions to enhance the effectiveness of state management, including developing a provincial-level program, establishing an intersectoral coordination mechanism, developing a database on agricultural by-products, reforming financial support based on environmental outcomes, and promoting the intermediary role of cooperatives.
Keywords: Circular economy, agriculture, state management, agricultural by-products, Nghe An Province, green policy
GIỚI THIỆU
Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. Trong quá trình này, kinh tế tuần hoàn (KTTH) mở ra một hướng tiếp cận quan trọng khi chuyển từ mô hình sản xuất tuyến tính sang tổ chức lại dòng vật chất, năng lượng và phụ phẩm trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp. Theo đó, phụ phẩm và chất thải không còn được nhìn nhận đơn thuần là đối tượng cần xử lý, mà có thể trở thành nguồn đầu vào cho sản xuất, tạo thêm giá trị kinh tế, giảm chi phí tài nguyên và hạn chế tác động môi trường (Geissdoerfer và cộng sự, 2017). Định hướng này đã được thể chế hóa trong Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Đề án Phát triển KTTH ở Việt Nam (Thủ tướng Chính phủ, 2022a, 2022b).
Đối với Nghệ An, yêu cầu chuyển đổi mang tính đặc thù và cấp bách nhờ quy mô sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp lớn. Khối lượng lớn phụ phẩm phát sinh vừa là nguồn tài nguyên dồi dào, vừa tạo áp lực lớn đối với công tác quản lý môi trường và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực. Thách thức cốt lõi là thiết lập các vòng tuần hoàn kết nối liền mạch giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ để biến dư thừa thành nguồn lực kinh tế.
Từ góc độ quản lý nhà nước, đây là quá trình chuyển đổi có tính hệ thống, đòi hỏi giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề: hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành; khơi thông vốn đầu tư; đẩy mạnh khoa học - công nghệ; phát triển thị trường cho sản phẩm tuần hoàn; xây dựng liên kết giữa nông hộ, hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp; đồng thời thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả. Khoảng cách giữa định hướng chính sách và thực tiễn triển khai đặt ra yêu cầu cấp thiết cần được nghiên cứu thấu đáo.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về KTTH trong nông nghiệp tại Nghệ An giai đoạn 2020-2025; qua đó nhận diện kết quả, hạn chế và nguyên nhân chủ yếu. Kết quả nghiên cứu là căn cứ đề xuất các hàm ý chính sách nhằm đưa KTTH nông nghiệp tại tỉnh từ các sáng kiến phân tán tiến tới hệ thống sản xuất liên kết chặt chẽ, gắn với thị trường và có khả năng nhân rộng.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN TRONG NÔNG NGHIỆP TỈNH NGHỆ AN
Nền tảng sản xuất và nguồn lực tuần hoàn
Nghệ An có cơ cấu nông nghiệp đa dạng, tạo điều kiện hình thành các vòng tuần hoàn giữa trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và chế biến. Các dòng phụ phẩm như: rơm rạ, phân gia súc, phụ phẩm thức ăn chăn nuôi và sinh khối có thể trở thành đầu vào cho compost, phân hữu cơ, năng lượng hoặc các sản phẩm sinh học nếu có công nghệ và thị trường phù hợp (Rao và cộng sự, 2024).
Nghiên cứu tại Nghệ An hiện nay cho thấy, Tỉnh duy trì quy mô sản xuất lớn trong trồng trọt và chăn nuôi. Sản lượng lúa ở mức xấp xỉ hoặc trên 1 triệu tấn/năm tạo nguồn rơm rạ đáng kể; trong khi quy mô đàn gia súc, gia cầm tạo dòng chất thải hữu cơ có thể được xử lý và tái sử dụng. Tuy nhiên, tiềm năng nguyên liệu không tự động chuyển thành giá trị tuần hoàn; nút thắt nằm ở thu gom, phân loại, chế biến, kiểm soát chất lượng và thương mại hóa sản phẩm.
Mức độ thuận lợi cho tuần hoàn cũng khác nhau giữa các nhóm sản xuất. Trang trại và doanh nghiệp quy mô lớn thường có điều kiện kiểm soát dòng vật chất, đầu tư công nghệ và tổ chức chuỗi tốt hơn; ngược lại, nông hộ phân tán phải đối mặt với chi phí thu gom và chi phí giao dịch cao. Do đó, chính sách cần phân tầng theo quy mô và loại hình sản xuất, đồng thời thúc đẩy liên kết để khắc phục tính phân tán của nguồn nguyên liệu (Chính phủ, 2018).
Thực trạng thể chế, chính sách và tổ chức quản lý
Giai đoạn 2020-2025, quản lý KTTH trong nông nghiệp Nghệ An chủ yếu được lồng ghép qua các chính sách phát triển nông nghiệp, bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới, khuyến nông, phát triển HTX và ứng dụng khoa học - công nghệ, thay vì hình thành một chương trình chuyên biệt với hệ chỉ tiêu thống nhất mang tên “KTTH nông nghiệp”. Sự lồng ghép này tạo ra dư địa tích hợp, nhưng đồng thời làm phát sinh nguy cơ phân tán mục tiêu và trách nhiệm quản lý giữa các cơ quan.
Ở cấp tỉnh, mặc dù cơ quan quản lý nông nghiệp và môi trường giữ vai trò quan trọng trong tham mưu và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến sản xuất, chất lượng nông sản, phát triển nông thôn và môi trường, song các vấn đề về chất thải, khoa học - công nghệ, đầu tư, HTX và thị trường liên quan đến nhiều cơ quan, vì vậy KTTH đòi hỏi cơ chế điều phối vượt ra ngoài phạm vi quản lý của từng ngành.
Nghệ An đã ban hành Nghị quyết số 18/2021/NQ-HĐND về một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2022-2025 và Nghị quyết số 13/2018/NQ-HĐND về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Đây là những nền tảng chính sách có thể được tích hợp các tiêu chí tuần hoàn, đặc biệt ở các khâu liên kết sản xuất, đầu tư thiết bị và phát triển chuỗi (HĐND tỉnh Nghệ An, 2018, 2021).
Tuy nhiên, hạn chế lớn là chính sách hiện hành chủ yếu được thiết kế theo lĩnh vực hoặc theo dự án, trong khi KTTH đòi hỏi quản lý theo dòng vật chất liên ngành. Rơm rạ có thể thuộc phạm vi trồng trọt nhưng lại là nguyên liệu cho nấm, compost hoặc năng lượng; phân chăn nuôi có thể trở thành đầu vào cho trồng trọt, năng lượng hoặc công nghiệp sinh học. Nếu quản lý theo “ngành dọc” dễ dẫn đến các chuỗi giá trị tuần hoàn bị đứt đoạn.
Kết quả triển khai các mô hình tuần hoàn
Thực tiễn Nghệ An cho thấy KTTH đã được áp dụng ở nhiều quy mô (Bảng). Ở cấp hộ gia đình và gia trại, các mô hình VAC, VACB và các biến thể tích hợp chăn nuôi - trồng trọt - thủy sản là những hình thức tuần hoàn tương đối phổ biến. Chất thải chăn nuôi có thể được xử lý bằng biogas hoặc ủ phân; phụ phẩm cây trồng được sử dụng làm thức ăn hoặc nguyên liệu ủ; các dòng nước và sinh khối được tái sử dụng trong hệ thống sản xuất. Các mô hình này phù hợp với nguyên lý duy trì dòng vật chất trong hệ thống sản xuất nhưng hiệu quả phụ thuộc vào quy trình kỹ thuật và điều kiện thị trường.
Bảng: So sánh một số mô hình KTTH nông nghiệp đang áp dụng hoặc triển khai tại Nghệ An
|
Mô hình |
Dòng tuần hoàn chủ yếu |
Quy mô phù hợp |
Giá trị kinh tế - môi trường |
Yêu cầu quản lý nổi bật |
|---|---|---|---|---|
|
VAC/VACB |
Cây trồng - vật nuôi -ao nuôi - biogas - phân bón |
Hộ, gia trại |
Giảm chi phí đầu vào, tận dụng phân và nước, giảm phát thải |
Tập huấn kỹ thuật, giám sát vệ sinh môi trường |
|
Lúa - nấm - phân hữu cơ |
Rơm rạ - nấm - bã nấm - phân hữu cơ - cây trồng |
Hộ, tổ hợp tác, HTX |
Hạn chế đốt rơm rạ, tạo việc làm và thu nhập bổ sung |
Thu gom rơm, tiêu chuẩn giá thể, đầu ra nấm và phân bón |
|
Phân chăn nuôi - trùn quế/lính ruồi đen |
Phân - côn trùng/trùn - thức ăn - phân hữu cơ |
Trang trại, HTX |
Giảm chi phí thức ăn, giảm chất thải, nâng chất lượng đất |
Kiểm soát dịch bệnh, quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn sản phẩm |
|
Bò sữa tuần hoàn |
Phân bò - biogas/ủ hữu cơ - đồng cỏ - thức ăn chăn nuôi |
Doanh nghiệp lớn |
Tái sử dụng năng lượng, cải tạo đất, giảm phát thải |
Đầu tư công nghệ, giám sát môi trường, quản trị chuỗi |
|
Chất thải chăn nuôi gà - giun - phân hữu cơ |
Phân, chất độn, xác gà, nước thải - xử lý - phân hữu cơ/giun |
Trang trại gà |
Giảm ô nhiễm; dự kiến giảm 30-40% chi phí thức ăn và tăng hiệu quả kinh tế trên 20% ở mô hình thí điểm |
Hướng dẫn kỹ thuật, liên kết tiêu thụ, đánh giá kết quả thí điểm |
Nguồn: Tổng hợp từ Trường Đại học Kinh tế Nghệ An, 2024; UBND tỉnh Nghệ An, 2024
Ở nhóm mô hình trồng trọt, chuỗi lúa - nấm - phân hữu cơ - cây trồng thể hiện rõ cách tiếp cận biến phụ phẩm thành tài nguyên. Rơm rạ có thể được dùng làm giá thể trồng nấm; bã nấm tiếp tục được xử lý để làm phân hữu cơ. Mô hình có khả năng phù hợp với hộ và HTX, nhưng khả năng nhân rộng phụ thuộc vào kỹ năng, an toàn sinh học, bảo quản và đầu ra sản phẩm (Trường Đại học Kinh tế Nghệ An, 2024).
Trong chăn nuôi, các mô hình sử dụng phân gia súc cho trùn quế hoặc ấu trùng ruồi lính đen, sau đó sử dụng sinh khối và phân tạo ra cho thức ăn hoặc cây trồng, cho thấy tiềm năng tạo vòng tuần hoàn giữa chăn nuôi và trồng trọt. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ quy trình kỹ thuật, dịch bệnh, chất lượng đầu vào - đầu ra và an toàn thực phẩm; do đó không nên đánh giá hiệu quả chỉ dựa trên khả năng giảm chất thải.
Các doanh nghiệp chăn nuôi bò sữa quy mô lớn tại Nghĩa Đàn cho thấy lợi thế của mô hình khép kín nhờ khả năng đầu tư công nghệ, kiểm soát dòng vật chất và tổ chức chuỗi. Tuy nhiên, do các mô hình doanh nghiệp lớn không thể đại diện cho khu vực nông hộ, bài toán chính sách đặt ra là khả năng chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, kỹ năng quản trị và cơ chế thị trường sang các hộ và HTX quy mô nhỏ.
Một bước tiến đáng chú ý trong quản lý theo hướng dự án là Quyết định số 1278/QĐ-UBND ngày 24/5/2024 của UBND tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt Kế hoạch xây dựng mô hình xử lý, tuần hoàn chất thải chăn nuôi gà tại Diễn Châu và Nghi Lộc, bao gồm xử lý chất thải rắn thành phân hữu cơ, xử lý nước thải, nuôi và chế biến giun, đào tạo kỹ thuật viên và xây dựng tài liệu hướng dẫn (UBND tỉnh Nghệ An, 2024). Cần lưu ý về mặt phương pháp luận rằng mức giảm 30-40% chi phí thức ăn công nghiệp hay tăng hiệu quả kinh tế trên 20% trong mô hình tuần hoàn chất thải chăn nuôi gà là các chỉ tiêu/kỳ vọng của kế hoạch thí điểm, không phải kết quả đánh giá cuối kỳ đã được xác nhận, do đó cần phân biệt rõ giữa chỉ tiêu thiết kế, đầu ra thực hiện và tác động thực tế (UBND tỉnh Nghệ An, 2024).
Những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu
Thứ nhất, chưa hình thành bộ chỉ tiêu đo lường KTTH cấp tỉnh cho nông nghiệp. Các chỉ tiêu hiện có chủ yếu phản ánh sản lượng, diện tích, tăng trưởng hoặc số lượng mô hình; chưa đo lường đầy đủ tỷ lệ phụ phẩm được tái sử dụng, lượng nước được tuần hoàn, lượng chất thải được chuyển hóa thành sản phẩm, giá trị gia tăng từ phụ phẩm hoặc mức giảm phát thải. Đây là khoảng trống quan trọng vì KTTH cần được đánh giá bằng các chỉ tiêu dòng vật chất và kết quả môi trường, không chỉ bằng số lượng mô hình (Kirchherr và cộng sự, 2017).
Thứ hai, quy mô sản xuất nông hộ và sự phân tán không gian làm tăng chi phí giao dịch. Theo báo cáo của UBND tỉnh, đến cuối năm 2023, Nghệ An có 688 HTX nông nghiệp; trong đó 445 HTX được đánh giá hoạt động có hiệu quả, chiếm 64,68% số HTX được đánh giá và tỷ lệ giá trị sản phẩm nông, lâm, thủy sản được sản xuất dưới các hình thức hợp tác, liên kết ước đạt trên 26,21% (UBND tỉnh Nghệ An, 2024). Điều này cho thấy hạ tầng tổ chức cho thu gom, sơ chế và vận hành chuỗi tuần hoàn vẫn còn dư địa lớn để cải thiện.
Thứ ba, chính sách hỗ trợ chưa gắn chặt với kết quả môi trường và hiệu quả tuần hoàn. Hỗ trợ máy móc, hạ tầng hoặc công trình xử lý chỉ tạo ra năng lực đầu vào; nếu thiếu thị trường đầu ra, tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế vận hành và giám sát thì hiệu quả tuần hoàn có thể không bền vững.
Thứ tư, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số chưa được khai thác đầy đủ để quản lý dòng phụ phẩm. Khoảng trống nổi bật là thiếu một cơ sở dữ liệu tích hợp về khối lượng, vị trí, mùa vụ, chủ thể sở hữu và nhu cầu sử dụng phụ phẩm. Trong khi đó, việc lập bản đồ dòng vật chất là điều kiện quan trọng để kết nối cung - cầu, quy hoạch điểm tập kết và lựa chọn công nghệ.
Thứ năm, năng lực kiểm tra môi trường và tuân thủ kỹ thuật ở cơ sở không đồng đều. Doanh nghiệp lớn có điều kiện đầu tư hệ thống xử lý tốt hơn, trong khi nông hộ và trang trại vừa, nhỏ gặp khó khăn về vốn, công nghệ, kiến thức và thị trường.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TUẦN HOÀN NÔNG NGHIỆP TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2030
Một là, xây dựng Chương trình phát triển KTTH trong nông nghiệp Nghệ An giai đoạn 2026-2030. Chương trình cần xác định rõ mục tiêu, ngành hàng ưu tiên, không gian ưu tiên, cơ chế tài chính, đơn vị đầu mối và bộ chỉ tiêu đánh giá. Các chuỗi cần ưu tiên gồm: lúa - rơm rạ - nấm - phân hữu cơ; chăn nuôi bò/lợn/gà - biogas - phân hữu cơ - cây trồng; nuôi trồng thủy sản - xử lý nước - tái sử dụng bùn đáy; lâm nghiệp - sinh khối - năng lượng hoặc vật liệu sinh học.
Hai là, thiết lập cơ chế điều phối liên ngành. UBND tỉnh nên giao một cơ quan đầu mối chủ trì, với sự tham gia thường xuyên của cơ quan nông nghiệp và môi trường, khoa học và công nghệ, công thương, tài chính, kế hoạch và đầu tư, chính quyền cơ sở, Liên minh HTX và các tổ chức tín dụng. Cơ chế này cần bảo đảm sự liên thông từ quản lý nguồn phụ phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, hỗ trợ đầu tư đến xúc tiến thị trường.
Ba là, xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ số phụ phẩm nông nghiệp. Hệ thống dữ liệu cần thống kê theo địa bàn, mùa vụ, loại phụ phẩm, quy mô phát sinh, khả năng thu gom, nhu cầu tái sử dụng và chủ thể tham gia. Trên nền tảng đó, Tỉnh có thể quy hoạch điểm thu gom rơm rạ, khu xử lý phân chăn nuôi, trung tâm ủ phân hữu cơ, vùng cung cấp nguyên liệu cho trồng nấm hoặc sản xuất năng lượng sinh khối.
Bốn là, đổi mới hỗ trợ tài chính theo kết quả đầu ra. Ngoài hỗ trợ máy móc và hạ tầng, cần thiết kế cơ chế khuyến khích dựa trên lượng phụ phẩm được tái sử dụng, lượng phân hữu cơ đạt tiêu chuẩn được sản xuất, diện tích canh tác thay thế một phần phân vô cơ, lượng nước được tái tuần hoàn hoặc mức giảm phát thải đã được xác minh. Cách tiếp cận này giúp gắn chi ngân sách với kết quả chính sách thay vì chỉ với đầu vào.
Năm là, phát triển HTX như “tác nhân trung gian tuần hoàn”. HTX không chỉ cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản mà cần được hỗ trợ đảm nhận chức năng thu gom phụ phẩm, vận hành máy ép - đóng kiện rơm, tổ chức ủ phân, cung ứng phân hữu cơ, ký hợp đồng với doanh nghiệp chế biến và quản lý truy xuất nguồn gốc. Chính sách liên kết cần được vận dụng theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP và các chính sách của Tỉnh về hợp tác, liên kết sản xuất (Chính phủ, 2018; HĐND tỉnh Nghệ An, 2018).
Sáu là, hoàn thiện tiêu chuẩn, chứng nhận và thị trường sản phẩm tuần hoàn. Cần tăng cường kiểm nghiệm, công bố chất lượng và truy xuất nguồn gốc đối với phân bón hữu cơ, giá thể, thức ăn chăn nuôi từ phụ phẩm và nông sản sản xuất theo quy trình tuần hoàn. Tỉnh nên lồng ghép tiêu chí sử dụng đầu vào tuần hoàn, bao bì thân thiện môi trường và giảm chất thải vào các chương trình phát triển sản phẩm địa phương, trên cơ sở tuân thủ quy định chuyên ngành.
Bảy là, đẩy mạnh nghiên cứu, khuyến nông và chuyển giao công nghệ phù hợp quy mô nhỏ. Cần phát triển các gói kỹ thuật chi phí thấp, dễ vận hành như compost, biogas cải tiến, máy băm -ép phụ phẩm, nuôi trùn quế quy mô hộ và tái sử dụng phụ phẩm trồng trọt. Hoạt động khuyến nông nên chuyển từ “trình diễn kỹ thuật đơn lẻ” sang “huấn luyện vận hành chuỗi tuần hoàn”.
Tám là, tăng cường giám sát và công khai kết quả. Mỗi mô hình hoặc dự án cần có đường cơ sở trước khi triển khai, chỉ tiêu đầu ra rõ ràng và đánh giá sau thí điểm. Đối với mô hình chăn nuôi gà ở Diễn Châu và Nghi Lộc, cần đánh giá lượng chất thải được xử lý, tỷ lệ tái sử dụng, chi phí thức ăn thực tế, doanh thu từ sản phẩm tuần hoàn, mức giảm mùi, chất lượng nước thải và mức độ chấp nhận của người dân trước khi quyết định nhân rộng (UBND tỉnh Nghệ An, 2024).
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2018). Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
2. Chính phủ (2022). Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
3. Geissdoerfer, M., Savaget, P., Bocken, N. M. P., & Hultink, E. J. (2017). The circular economy - A new sustainability paradigm? Journal of Cleaner Production, 143, 757-768. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2016.12.048
4. HĐND tỉnh Nghệ An (2018). Nghị quyết số 13/2018/NQ-HĐND ngày 12/12/2018 quy định về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
5. HĐNDN tỉnh Nghệ An (2021). Nghị quyết số 18/2021/NQ-HĐND ngày 09/12/2021 ban hành Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022-2025.
6. Kirchherr, J., Reike, D., & Hekkert, M. (2017). Conceptualizing the circular economy: An analysis of 114 definitions. Resources, Conservation and Recycling, 127, 221-232. https://doi.org/10.1016/j.resconrec.2017.09.005
7. Rao, M. M., Botsa, S. M., Rao, T. P., Goddu, S. R., & Vijayasanthi, C. (2024). A comprehensive review on agricultural waste production and onsite management with circular economy opportunities. Discover Sustainability, 5, 288. https://doi.org/10.1007/s43621-024-00492-z
8. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An (2024). Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2021-2023; phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm giai đoạn 2024-2025.
9. Thủ tướng Chính phủ (2022a). Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 07/6/2022 phê duyệt Đề án phát triển KTTH ở Việt Nam.
10. Thủ tướng Chính phủ (2022b). Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
11. Trường Đại học Kinh tế Nghệ An (2024). Hội thảo tập huấn “Kiến thức về KTTHkhu vực miền Trung”: Tham luận “Một số ứng dụng tốt về áp dụng KTTH trong lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh Nghệ An”.
12. UBND tỉnh Nghệ An (2024). Quyết định số 1278/QĐ-UBND ngày 24 /5/2024 phê duyệt Kế hoạch xây dựng mô hình xử lý, tuần hoàn chất thải chăn nuôi gà trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
| Ngày nhận bài: 2/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 14/9/2026; Ngày duyệt đăng: 28/92026 |
Các tin khác
Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi khách hàng chọn lựa sử dụng xe điện trong nước hoặc nước ngoài bằng phương pháp hồi quy logistic
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn căn hộ có mức giá trung bình của khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh
Hành vi tìm kiếm thông tin bất động sản của người tiêu dùng trong bối cảnh chuyển đổi số tại TP. Hồ Chí Minh
Quản lý rủi ro pháp lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sắp xếp đơn vị hành chính: Thực tiễn tại TP. Cần Thơ
Từ thực hiện ESG đến tài sản bền vững: Tổng quan nghiên cứu và định hướng phát triển mô hình kế toán bền vững
Nghiên cứu hành vi lựa chọn trường của sinh viên đại học: Ứng dụng phương pháp phân tích hồi quy bội
Tác động của eTax Mobile đến phương thức thực hiện nghĩa vụ thuế