Thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sắp xếp đơn vị hành chính: Thực tiễn tại TP. Cần Thơ

Nghiên cứu - Trao đổi 09:58 | 30/09/2026
Phát triển kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, huy động nguồn lực xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Lê Thị Thùy Dương

Đại học Cần Thơ; Email: [email protected]

Trần Mộng Nghi

Đại học Cần Thơ

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích quá trình thể chế hóa kinh tế tư nhân tại TP. Cần Thơ trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025. Trên cơ sở Lý thuyết thể chế của North và quan điểm về thể chế bao trùm của Acemoglu và Robinson, nghiên cứu xây dựng khung phân tích 3 tầng, gồm: thể chế chính sách ở Trung ương, cơ chế thực thi tại địa phương và kết quả phát triển kinh tế tư nhân. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên phân tích tài liệu, tổng hợp chính sách và đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế, quản trị địa phương và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2022-2026. Kết quả cho thấy, sau sắp xếp đơn vị hành chính, Cần Thơ có quy mô kinh tế và không gian phát triển lớn hơn, trong đó khu vực tư nhân đóng góp khoảng 74% GRDP và trên 80% thu ngân sách. Tuy nhiên, quá trình thể chế hóa vẫn đối mặt với những vấn đề về đồng bộ hóa chất lượng quản trị giữa các địa bàn trước sáp nhập, năng lực thực thi ở cấp cơ sở, thủ tục đất đai và đầu tư, cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu mới của PCI 2.0. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp tập trung vào chuẩn hóa thủ tục, nâng cao năng lực cán bộ cấp xã, tăng cường giám sát thực thi Nghị quyết số 68-NQ/TW, hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh và cải thiện chất lượng điều hành kinh tế. Nghiên cứu nhấn mạnh năng lực thể chế hóa và thực thi chính sách là yếu tố then chốt để chuyển hóa lợi thế sau sắp xếp thành môi trường thuận lợi hơn cho kinh tế tư nhân.

Từ khóa: Kinh tế tư nhân, thể chế hóa, sáp nhập hành chính, chính quyền 2 cấp, Nghị quyết số 68-NQ/TW, Cần Thơ

Abstract

This study analyzes the institutionalization of the private sector in Can Tho City in the context of implementing Resolution No. 68-NQ/TW on private sector development and the organization of the two-tier local government system following the 2025 administrative restructuring. Drawing on North’s institutional theory and Acemoglu and Robinson’s perspective on inclusive institutions, the study develops a three-tier analytical framework comprising central policy institutions, local implementation mechanisms, and private sector development outcomes. The research primarily employs document analysis, policy synthesis, and comparisons of economic, local governance, and provincial competitiveness indicators during the 2022-2026 period. The results show that following the merger, Can Tho has a larger economic scale and development space, with the private sector contributing approximately 74% of GRDP and more than 80% of state budget revenue. However, the institutionalization process continues to face challenges related to harmonizing governance quality across the pre-merger areas, implementation capacity at the grassroots level, land and investment procedures, and the ability to meet the new requirements of PCI 2.0. Accordingly, the study proposes five groups of solutions: standardizing procedures, strengthening the capacity of commune-level officials, enhancing monitoring of the implementation of Resolution No. 68-NQ/TW, supporting the transformation of household businesses, and improving the quality of economic administration. The study emphasizes that institutionalization and policy implementation capacity are key factors in transforming post-merger advantages into a more favorable environment for private sector development.

Keywords: Private sector, institutionalization, administrative merger, two-tier local government, Resolution No. 68-NQ/TW, Can Tho

GIỚI THIỆU

Năm 2025-2026 đánh dấu giai đoạn cải cách thể chế kinh tế - hành chính có quy mô chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam. Ngày 4/5/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân - lần đầu tiên xác định khu vực kinh tế tư nhân là “một trong những động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế quốc dân, với mục tiêu cả nước có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030 (Bộ Chính trị, 2025b). Song hành với đó, thực hiện Nghị quyết số 60-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, cả nước tiến hành sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh từ 63 xuống còn 34 tỉnh, thành phố và chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (bỏ cấp huyện), chính thức vận hành từ ngày 1/7/2025 (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2025).

TP. Cần Thơ là một trường hợp điển hình của sự giao thoa giữa 2 cuộc cải cách lịch sử này. Từ một thành phố trực thuộc Trung ương có diện tích hơn 1.440 km² và dân số 1,36 triệu người, TP. Cần Thơ (mới) được hợp nhất từ TP. Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng, trở thành đô thị có diện tích hơn 6.360 km², dân số hơn 4,1 triệu người, gồm 103 đơn vị hành chính cấp xã (31 phường, 72 xã), tổng GRDP đạt 281.675 tỷ đồng. Câu hỏi đặt ra mang tính cấp thiết: tinh thần “kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất” của Nghị quyết số 68-NQ/TW được thể chế hóa như thế nào trong một không gian hành chính hoàn toàn mới, với bộ máy chính quyền 2 cấp vẫn đang trong giai đoạn vận hành ổn định?

Tính cấp thiết của vấn đề còn được thể hiện qua bối cảnh toàn quốc: trong 6 tháng đầu năm 2025, cả nước có gần 176.700 doanh nghiệp gia nhập thị trường, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2024; cả năm 2025 đạt 297.500 doanh nghiệp thành lập mới - mức cao nhất từ trước đến nay, cho thấy chính sách cởi mở đang tạo ra làn sóng doanh nghiệp mới. Trong xu thế đó, việc TP. Cần Thơ - với quy mô GRDP lớn thứ hai vùng ĐBSCL sau sáp nhập - cần phải nhanh chóng thể chế hóa vai trò kinh tế tư nhân để không bị bỏ lại phía sau là đòi hỏi mang tính cấp thiết cả về học thuật lẫn thực tiễn quản trị.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Thể chế và phát triển kinh tế tư nhân

Theo Lý thuyết thể chế kinh tế mới (New Institutional Economics) của North (1990), thể chế là “luật chơi” của xã hội, bao gồm thể chế chính thức (luật pháp, chính sách, bộ máy hành chính) và thể chế phi chính thức (quy phạm, tập quán kinh doanh), có vai trò quyết định chi phí giao dịch và động lực đầu tư của khu vực tư nhân. Acemoglu và Robinson (2012) nhấn mạnh rằng, các thể chế “dung hợp” (inclusive) cho phép doanh nghiệp tư nhân tiếp cận bình đẳng nguồn lực, đất đai, tín dụng và thị trường - là điều kiện tiên quyết để duy trì tăng trưởng dài hạn.

Trong bối cảnh Việt Nam, Nghị quyết số 68-NQ/TW (2025) cụ thể hóa định hướng thể chế dung hợp thông qua các nguyên tắc: bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, cải cách thủ tục hành chính theo hướng hậu kiểm và xây dựng đội ngũ doanh nhân dân tộc. Tuy nhiên, “thể chế hóa” - quá trình chuyển hóa chủ trương thành quy định pháp luật, bộ máy thực thi và hành vi thực tế - luôn có độ trễ và phụ thuộc vào năng lực quản trị địa phương. Theo Báo cáo PCI 2025 của VCCI, cải cách thể chế đã đi đúng hướng, nhưng khoảng cách giữa thiết kế chính sách ở Trung ương và năng lực thực thi tại cơ sở vẫn còn rất lớn (VCCI, 2026).

Khung phân tích: Ba tầng thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sáp nhập

Nghiên cứu xây dựng khung phân tích “3 tầng thể chế hóa” (Hình 1), trong đó:

Tầng 1 (Thể chế chính sách Trung ương): Nghị quyết số 68-NQ/TW về kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 60-NQ/TW về sắp xếp đơn vị hành chính, Nghị quyết số 57-NQ/TW và số 66-NQ/TW về khoa học - công nghệ và xây dựng pháp luật, định hình khung pháp lý và mục tiêu quốc gia (Bộ Chính trị, 2024, 2025a, 2025b; Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2025).

Tầng 2 (Bộ máy thực thi địa phương): Chính quyền 2 cấp tại TP. Cần Thơ (103 xã, phường), Trung tâm phục vụ hành chính công, đội ngũ cán bộ sau sáp nhập, chuyển hóa chính sách thành thủ tục và dịch vụ công (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2025; UBND TP. Cần Thơ, 2025).

Tầng 3 (Hiệu quả khu vực kinh tế tư nhân): Kết quả gia nhập thị trường, tiếp cận nguồn lực, đóng góp GRDP và thu ngân sách, phản ánh kết quả thực chất của thể chế hóa.

Hình 1: Khung phân tích 3 tầng về thể chế hóa kinh tế tư nhân tại TP. Cần Thơ sau sáp nhập hành chính

Thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sắp xếp đơn vị hành chính: Thực tiễn tại TP. Cần Thơ

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ North (1990), Acemoglu và Robinson (2012), Nghị quyết số 68-NQ/TW (2025), Nghị quyết số 60-NQ/TW (2025), VCCI (2026).

THỰC TRẠNG THỂ CHẾ HÓA KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI TP. CẦN THƠ (2022-2026)

Quy mô kinh tế TP. Cần Thơ sau hợp nhất hành chính

Theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính do HĐND TP. Cần Thơ thông qua tại kỳ họp thứ 12 (ngày 25/4/2025) và được Chính phủ phê duyệt, TP. Cần Thơ (mới) được hợp nhất từ TP. Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng chính thức vận hành chính quyền 2 cấp từ 1/7/2025 - có các chỉ số kinh tế cơ bản: diện tích hơn 6.360 km², dân số 4.199.806 người, tổng GRDP đạt 281.675 tỷ đồng, tổng thu ngân sách trên địa bàn 24.043 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người 88,02 triệu đồng/năm (Bảng 1) (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2025; Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2025; UBND TP. Cần Thơ, 2025).

Năm 2025, tốc độ tăng trưởng kinh tế của TP. Cần Thơ đạt 7,87%, cao hơn bình quân cả nước (7,31%), xếp thứ 19/34 tỉnh, thành phố và đứng thứ 2 vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Lê Sơn, 2025). Đáng chú ý, khu vực kinh tế tư nhân và cộng đồng doanh nghiệp đóng góp khoảng 74% tổng GRDP và trên 80% tổng thu ngân sách của Thành phố - qua đó khẳng định vai trò trụ cột theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW. Tuy nhiên, theo đánh giá của VCCI chi nhánh Cần Thơ, số doanh nghiệp thành lập mới 6 tháng đầu năm 2025 chỉ đạt gần 3.000 đơn vị với tổng vốn đăng ký trên 11.000 tỷ đồng - thấp hơn đáng kể so với Tây Ninh (hơn 94.000 tỷ đồng cùng kỳ) và có trên 2.000 doanh nghiệp rời khỏi thị trường, cho thấy hiệu lực tạo lập doanh nghiệp mới còn hạn chế so với tiềm năng quy mô kinh tế hợp nhất (Lê Sơn, 2025).

Đặt trong tương quan vùng, GRDP bình quân đầu người của TP. Cần Thơ (mới) đạt 88,02 triệu đồng/năm - cao hơn bình quân vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ước khoảng 72 triệu đồng/người/năm) nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với Hà Nội (~150 triệu đồng) và TP. Hồ Chí Minh (~178 triệu đồng), phản ánh dư địa phát triển kinh tế tư nhân còn rất lớn nếu thể chế được khai thông hiệu quả. Bảng 1 tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế và kinh tế tư nhân của TP. Cần Thơ theo chuỗi thời gian trong giai đoạn 2022-2025.

Bảng 1: Các chỉ tiêu kinh tế và kinh tế tư nhân của TP. Cần Thơ giai đoạn 2022-2025

Chỉ tiêu

2022

2023

2024

2025*

Dân số (triệu người)

1,24

1,28

1,36

4,20**

GRDP (nghìn tỷ đồng)

~118

~125

~135

281,7**

Tăng trưởng GRDP (%)

9,08

5,75

7,12

7,87

Tỷ trọng kinh tế tư nhân/GRDP (%)

~65

~68

~71

~74

Tỷ lệ thu ngân sách từ tư nhân (%)

~74

~76

~78

>80

Doanh nghiệp thành lập mới (6 tháng đầu năm, đơn vị)

~2.100

~2.400

~2.750

~2.950

Doanh nghiệp gia nhập thị trường cả nước (nghìn doanh nghiệp, cả năm)

~149

~159

~233

297,5

Xếp hạng tăng trưởng GRDP (/tổng số)

Top 10/63

—/63

—/63

19/34

(*) Số liệu 2025 là số liệu TP. Cần Thơ sau hợp nhất (từ 1/7/2025), bao gồm địa bàn Hậu Giang và Sóc Trăng cũ, không nên so sánh trực tiếp với các năm trước. (**) Quy mô dân số và GRDP của TP. Cần Thơ (mới).

Nguồn: UBND TP. Cần Thơ (2025), Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2025), VCCI (2026), Thống kê TP. Cần Thơ

Vận hành chính quyền 2 cấp và chỉ số năng lực cạnh tranh PCI 2.0 (2025-2026)

Tháng 5/2026, VCCI lần đầu công bố Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam và Chỉ số PCI năm 2025 (PCI 2025) trên không gian hành chính mới, gồm 34 tỉnh, thành phố, đồng thời nâng cấp lên phiên bản PCI 2.0 với 9 chỉ số thành phần và 98 chỉ tiêu (VCCI, 2026). Lần đầu tiên giới thiệu thêm Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân (BPI - Business Performance Index), đo lường không chỉ “đầu vào thể chế”, mà cả “đầu ra thị trường” - khả năng doanh nghiệp tồn tại, sinh lời và vươn lên trong chuỗi giá trị. Khảo sát được thực hiện trên 3.546 doanh nghiệp tư nhân trong nước, 586 doanh nghiệp FDI và 1.001 hộ kinh doanh trên toàn bộ 34 tỉnh, thành phố; điểm PCI 2.0 trung vị toàn quốc đạt 63,9/100.

VCCI không công bố thứ hạng cụ thể của từng địa phương như các kỳ PCI trước, thay vào đó là 6 nhóm chất lượng điều hành để phản ánh sát thực hơn sự khác biệt trong điều kiện hành chính mới sau sáp nhập. Nhóm “chất lượng điều hành xuất sắc” năm 2025 gồm 5 địa phương: Bắc Ninh (dẫn đầu về chính quyền kiến tạo và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính), Đà Nẵng (dẫn đầu về gia nhập thị trường), Hải Phòng (7/9 chỉ số thành phần thuộc top 10 cả nước), Phú Thọ và Quảng Ninh (VCCI, 2026; VietnamNet, 2026). TP. Cần Thơ dù từng nằm trong nhóm 30 tỉnh, thành có chất lượng điều hành tốt nhất ở PCI 2021-2024 và PCI 2021 đạt 68,06 điểm (xếp hạng 12/63) nhưng chưa có tên trong nhóm 5 địa phương xuất sắc của PCI 2025 (VCCI, 2026). Hình 2 minh họa mức độ ưu tiên cải thiện của từng chỉ số thành phần tại TP. Cần Thơ, đối chiếu với điểm tốt nhất trên toàn quốc.

Về phía TP. Cần Thơ, UBND Thành phố đã ban hành kế hoạch hành động phấn đấu đạt “nhóm địa phương có chất lượng điều hành tốt” theo PCI 2.0, đồng thời giao Sở Nội vụ theo dõi tác động của cải cách hành chính đến kinh tế - xã hội trong điều kiện chính quyền 2 cấp mới vận hành (Báo Cần Thơ Online, 2026). Bí thư Thành ủy Cần Thơ cũng chỉ đạo các sở, ngành ghi nhận và tháo gỡ khó khăn từ doanh nghiệp liên quan đến vận hành bộ máy chính quyền 2 cấp trong giai đoạn chuyển tiếp, bao gồm thủ tục đất đai, đầu tư và tiếp cận dịch vụ công.

Hình 2: Mức độ ưu tiên cải thiện các chỉ số thành phần của PCI 2.0 tại TP. Cần Thơ (2026)

Thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sáp nhập hành chính: Thực tiễn tại TP. Cần Thơ

Chú giải màu sắc: Đỏ: ưu tiên cao nhất; Cam: ưu tiên trung bình; Xanh lá: tương đối tốt/duy trì. Cột “Điểm tốt nhất cả nước” dùng điểm số cao nhất toàn quốc của từng chỉ số (địa phương dẫn đầu) làm chuẩn so sánh khoảng cách; PCI 2025 không công bố điểm chi tiết của từng tỉnh, thành phố.

Nguồn: VCCI (2026), Báo Cần Thơ Online (2026), tổng hợp của nhóm tác giả

Rào cản thể chế trong giai đoạn chuyển tiếp 2025-2026

Giai đoạn chuyển tiếp 2025-2026 bộc lộ một số rào cản thể chế đặc thù của quá trình “vừa sáp nhập, vừa cải cách” tại TP. Cần Thơ:

Thứ nhất, sự khác biệt về chất lượng điều hành kinh tế giữa 3 địa bàn cũ (Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng) tạo ra thách thức trong việc đồng bộ hóa thủ tục và văn hóa hành chính - điều này được VCCI (2025) đánh giá là một trong những nguyên nhân chính khiến một số tỉnh, thành sáp nhập chưa duy trì được điểm số PCI tốt ngay trong năm đầu vận hành.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã/phường mới - được tổ chức lại từ nhiều đơn vị hành chính cấp huyện cũ sang 103 xã, phường - cần thời gian thích nghi với khối lượng công việc và thẩm quyền lớn hơn đáng kể so với trước khi bỏ cấp huyện.

Thứ ba, theo phản ánh của VCCI chi nhánh Cần Thơ và Bí thư Thành ủy tại hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp (7/2025), cộng đồng doanh nghiệp vẫn còn gặp vướng mắc thực tế liên quan đến thủ tục đất đai, đầu tư và việc tiếp cận dịch vụ công tại các trung tâm hành chính công mới trong giai đoạn chuyển tiếp.

Thứ tư, mặc dù khu vực kinh tế tư nhân đóng góp trên 74% GRDP và 80% thu ngân sách, nhưng vốn đăng ký doanh nghiệp mới tại TP. Cần Thơ (hơn 11.000 tỷ đồng/6 tháng) còn thấp so với nhiều địa phương nhỏ hơn về quy mô hành chính, cho thấy hiệu lực thu hút nguồn lực tư nhân mới chưa tương xứng với tiềm năng của không gian kinh tế hợp nhất.

GIẢI PHÁP THỂ CHẾ HÓA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG KHÔNG GIAN HÀNH CHÍNH MỚI

Từ khung phân tích 3 tầng và kết quả đánh giá thực trạng, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm (Bảng 2) nhằm rút ngắn khoảng cách giữa thể chế chính sách Trung ương và năng lực thực thi địa phương, hướng TP. Cần Thơ thuộc nhóm địa phương có chất lượng điều hành tốt theo PCI 2.0 và đóng góp vào mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp của cả nước vào năm 2030.

Bảng 2: Đề xuất 5 nhóm giải pháp thể chế hóa kinh tế tư nhân tại TP. Cần Thơ (2026-2030)

STT

Nhóm giải pháp

Nội dung và cơ sở pháp lý

Chỉ tiêu đến 2030

1

Đồng bộ hóa thủ tục hành chính kinh tế 3 địa bàn cũ

Chuẩn hóa quy trình một cửa liên thông tại Trung tâm PVHCC; số hóa toàn bộ thủ tục đầu tư - đất đai theo Nghị quyết số 68-NQ/TW và Luật Dữ liệu 2024

100% thủ tục hành chính kinh tế chuẩn hóa; thời gian xử lý giảm ≥ 30%

2

Nâng cao năng lực cán bộ kinh tế cấp xã, phường

Đào tạo nghiệp vụ quản lý kinh tế cho cán bộ 103 xã, phường; triển khai bộ chỉ số cạnh tranh cấp xã (DDCI) giám sát chất lượng điều hành, tương tự mô hình TP. Cần Thơ đã áp dụng từ 2022

100% cán bộ phụ trách kinh tế được tập huấn; vận hành DDCI cấp xã từ 2027

3

Cơ chế giám sát thực thi Nghị quyết 68 tại cơ sở

Thành lập Tổ công tác chuyên trách theo dõi thực thi Nghị quyết số 68-NQ/TW gắn với Ban Chỉ đạo cải cách hành chính Thành phố; công khai kết quả và kiến nghị doanh nghiệp theo quý

≥ 90% kiến nghị doanh nghiệp được giải quyết đúng hạn

4

Kích hoạt gia nhập thị trường và doanh nghiệp hóa hộ kinh doanh

Chương trình hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp; ưu đãi thuế, tín dụng theo Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017 và Nghị quyết số 68-NQ/TW; khai thác lợi thế 6,1 triệu hộ kinh doanh trên cả nước

≥ 6.000 doanh nghiệp thành lập mới/năm vào 2030; tỷ lệ doanh nghiệp rời thị trường giảm còn ≤ 20%

5

Cải thiện chỉ số PCI 2.0 và BPI

Tập trung cải thiện 2 chỉ số ưu tiên cao nhất (chính quyền kiến tạo và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính); học hỏi mô hình Bắc Ninh và Hải Phòng; xây dựng KPI phân bổ đến từng sở, ngành

Lọt nhóm “chất lượng điều hành tốt” PCI 2.0 trước năm 2028

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả; Nghị quyết số 68-NQ/TW (2025); Nghị quyết số 60-NQ/TW (2025); Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (2017); Luật Dữ liệu (2024); VCCI (2026).

Trong 5 nhóm giải pháp, Nhóm 1 (đồng bộ hóa thủ tục hành chính) và Nhóm 3 (cơ chế giám sát thực thi) cần được triển khai ngay trong giai đoạn 2026-2027 với chi phí thấp nhưng tác động trực tiếp đến việc rút ngắn “độ trễ thể chế”. Nhóm 4 (doanh nghiệp hóa hộ kinh doanh) là giải pháp có tiềm năng tác động mạnh nhất về số lượng doanh nghiệp, vì Việt Nam hiện có hơn 6,1 triệu hộ kinh doanh - nguồn lực còn chưa được thể chế hóa thành doanh nghiệp chính thức (VCCI, 2026). Nhóm 5 (cải thiện PCI 2.0 và BPI) có ý nghĩa chiến lược dài hạn, là cơ sở định lượng để TP. Cần Thơ tự đánh giá và điều chỉnh liên tục trong điều kiện hành chính mới.

KẾT LUẬN

Bằng chứng từ Đề án sắp xếp đơn vị hành chính do HĐND TP. Cần Thơ thông qua (4/2025), số liệu thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2022-2026 và Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam/PCI 2025 của VCCI (công bố 15/5/2026) cho thấy, TP. Cần Thơ sau hợp nhất có quy mô kinh tế lớn hơn đáng kể (GRDP 281.675 tỷ đồng, dân số hơn 4,1 triệu người), khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột (74% GRDP, trên 80% thu ngân sách). Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng 7,87% (xếp 19/34 tỉnh, thành phố), số doanh nghiệp thành lập mới còn khiêm tốn và việc chưa lọt nhóm 5 địa phương có chất lượng điều hành xuất sắc trong kỳ PCI 2.0 đầu tiên trên bản đồ hành chính mới cho thấy quá trình thể chế hóa tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW tại cấp cơ sở vẫn còn khoảng cách so với kỳ vọng.

Nghiên cứu chỉ ra rằng, chìa khóa để rút ngắn khoảng cách này không chỉ nằm ở chính sách ưu đãi, mà ở năng lực thể chế hóa qua bộ máy chính quyền 2 cấp đang trong giai đoạn định hình - từ cán bộ cấp xã, phường đến Trung tâm phục vụ hành chính công. Năm nhóm giải pháp đề xuất, từ đồng bộ hóa thủ tục hành chính đến cải thiện PCI 2.0, hướng đến mục tiêu đưa TP. Cần Thơ vào nhóm địa phương có chất lượng điều hành tốt trước năm 2028, góp phần thực hiện khát vọng quốc gia 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Nhìn từ Lý thuyết thể chế của North (1990), sự hợp nhất hành chính không tự động tạo ra “thể chế dung hợp”, nó chỉ tạo ra không gian mới cho các thể chế đó vận hành. Thành công hay thất bại phụ thuộc vào tốc độ xây dựng và củng cố cả thể chế chính thức (thủ tục hành chính, luật lệ) lẫn thể chế phi chính thức (văn hóa phục vụ doanh nghiệp, tinh thần kiến tạo của cán bộ) trong không gian hành chính mới. Đây là bài toán cốt lõi của TP. Cần Thơ trong giai đoạn 2026-2030.

Nghiên cứu có một số giới hạn nhất định: PCI 2025 chưa công bố điểm chi tiết của từng địa phương trong điều kiện hành chính mới; số liệu chuỗi thời gian về kinh tế tư nhân của TP. Cần Thơ sau hợp nhất mới đang ở giai đoạn cập nhật ban đầu. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung phân tích định lượng tác động của chính quyền 2 cấp đến chi phí giao dịch của doanh nghiệp và so sánh quốc tế (mô hình hợp nhất hành chính của Đan Mạch, Nhật Bản) về thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sắp xếp đơn vị hành chính.

Tài liệu tham khảo:

1. Acemoglu, D. & Robinson, J.A. (2012). Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity, and Poverty. New York: Crown Publishers.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 60-NQ/TW Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về sắp xếp đơn vị hành chính các cấp.

3. Báo Cần Thơ Online (2026). TP. Cần Thơ phấn đấu đạt kết quả xếp hạng trong “Nhóm địa phương có chất lượng điều hành tốt”. https://baocantho.com.vn/tp-can-tho-phan-dau-dat-ket-qua-xep-hang-trong-nhom-dia-phuong-co-chat-luong-dieu-hanh-tot--a206789.html

4. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

5. Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

6. Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

7. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2025). Sắp xếp, hợp nhất 3 tỉnh, thành: TP. Cần Thơ mới có 31 phường, 72 xã.

8. Lê Sơn (2025). Cần Thơ cam kết đồng hành, giải quyết vướng mắc cùng doanh nghiệp. https://baochinhphu.vn/can-tho-cam-ket-dong-hanh-giai-quyet-vuong-mac-cung-doanh-nghiep-102250723173459886.htm

9. North, D.C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance. Cambridge: Cambridge University Press.

10. Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017.

11. Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024.

12. UBND TP. Cần Thơ (2025). Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã TP. Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang, tỉnh Sóc Trăng (Dự thảo, tháng 4/2025).

13. VCCI (2026). Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam và Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI 2025). Hà Nội, công bố ngày 15/5/2026.

14. VietnamNet (2026). Lần đầu xếp hạng PCI 34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập: Lộ diện 5 địa phương xuất sắc. https://vietnamnet.vn/lan-dau-xep-hang-nang-luc-canh-tranh-34-tinh-thanh-pho-sau-sap-nhap-2516045.html

Ngày nhận bài: 15/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/9/2026; Ngày duyệt đăng: 18/9/2026

Các tin khác

Quản lý rủi ro pháp lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Quản lý rủi ro pháp lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số tài chính diễn ra mạnh mẽ, tài sản mã hóa đã trở thành một cấu phần ngày càng quan trọng trong hành vi tài chính của người dân Việt Nam
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Bài viết xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, qua đó đóng góp cơ sở lý luận và định hướng cho các nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.
Từ thực hiện ESG đến tài sản bền vững: Tổng quan nghiên cứu và định hướng phát triển mô hình kế toán bền vững

Từ thực hiện ESG đến tài sản bền vững: Tổng quan nghiên cứu và định hướng phát triển mô hình kế toán bền vững

Tích hợp ESG vào hoạt động doanh nghiệp giúp chuyển hóa cam kết phát triển bền vững thành giá trị tài sản dài hạn, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nghiên cứu hành vi lựa chọn trường của sinh viên đại học: Ứng dụng phương pháp phân tích hồi quy bội

Nghiên cứu hành vi lựa chọn trường của sinh viên đại học: Ứng dụng phương pháp phân tích hồi quy bội

Trong bối cảnh giáo dục đại học ngày càng mở rộng, các trường đại học phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ trong việc thu hút và duy trì người học. Sự đa dạng về ngành đào tạo, phương thức tuyển sinh và chính sách hỗ trợ tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng khiến học sinh gặp khó khăn khi lựa chọn cơ sở đào tạo phù hợp
Tác động của eTax Mobile đến phương thức thực hiện nghĩa vụ thuế

Tác động của eTax Mobile đến phương thức thực hiện nghĩa vụ thuế

eTax Mobile thúc đẩy số hóa nghĩa vụ thuế, giúp người nộp thuế thực hiện thủ tục thuận tiện, nhanh chóng, minh bạch và giảm chi phí tuân thủ.
Pháp luật về chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu ở Việt Nam: 
Một số bất cập và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu ở Việt Nam: Một số bất cập và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu bảo đảm quyền lợi các bên, minh bạch giao dịch và khai thác hiệu quả giá trị thương mại của nhãn hiệu.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ ngân hàng số Vietcombank của sinh viên Trường Đại học Văn Lang

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ ngân hàng số Vietcombank của sinh viên Trường Đại học Văn Lang

Sự hài lòng về chất lượng dịch vụ ngân hàng số góp phần duy trì khách hàng, tăng mức độ sử dụng, củng cố niềm tin và thúc đẩy ngân hàng phát triển bền vững.
Giải pháp nâng cao hiệu quả công việc cho nhân viên Công ty TNHH Sản xuất Thương mại In Minh Mẫn

Giải pháp nâng cao hiệu quả công việc cho nhân viên Công ty TNHH Sản xuất Thương mại In Minh Mẫn

Hiệu quả công việc phản ánh năng suất, chất lượng và mức độ hoàn thành nhiệm vụ, góp phần nâng cao thu nhập, sự gắn kết và phát triển nghề nghiệp của nhân viên.
Tác động của trí tuệ văn hóa đến hiệu quả làm việc: Nghiên cứu tại các công ty luật đa quốc gia tại Việt Nam

Tác động của trí tuệ văn hóa đến hiệu quả làm việc: Nghiên cứu tại các công ty luật đa quốc gia tại Việt Nam

Trong các công ty luật đa quốc gia, sự tương tác trực tiếp giữa đội ngũ lãnh đạo phương Tây và nhân sự bản địa biến khác biệt văn hóa thành một yếu tố cấu trúc tác động trực tiếp đến chất lượng phối hợp và hiệu quả công việc.
Phân tích thực trạng động lực làm việc của người lao động tại Báo và Phát thanh, Truyền hình Vĩnh Long

Phân tích thực trạng động lực làm việc của người lao động tại Báo và Phát thanh, Truyền hình Vĩnh Long

Sự thay đổi hành vi công chúng báo chí sang xem theo nhu cầu, trên thiết bị di động buộc các tổ chức truyền thông phải tái cấu trúc mô hình hoạt động, đầu tư mạnh cho công nghệ số và đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.