Pháp luật về chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu ở Việt Nam: Một số bất cập và đề xuất hoàn thiện

Nghiên cứu - Trao đổi 09:40 | 30/09/2026
Pháp luật về chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu bảo đảm quyền lợi các bên, minh bạch giao dịch và khai thác hiệu quả giá trị thương mại của nhãn hiệu.

Vũ Thu Trà

Công ty Luật TNHH Pasa Partners

Email: [email protected]

Tóm tắt

Chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu là một trong những hình thức thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ phổ biến, góp phần chuyển hóa tài sản vô hình thành giá trị kinh tế và thúc đẩy lưu thông tài sản trí tuệ trên thị trường. Mặc dù pháp luật Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này tương đối đầy đủ thông qua Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành khác, song vẫn còn một số bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu, nghiên cứu chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành và đưa ra các đề xuất hoàn thiện.

Từ khóa: Chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu, thương mại hóa quyền đối với nhãn hiệu, pháp luật sở hữu trí tuệ

Abstract

Trademark assignment is one of the most common forms of intellectual property commercialization, contributing to the transformation of intangible assets into economic value and facilitating the circulation of intellectual property assets in the market. Although Viet Nam has established a relatively comprehensive legal framework governing this activity through the Law on Intellectual Property and other implementing legal documents, several shortcomings remain. Based on an analysis of the legal provisions and the practical implementation of the law on trademark assignment, this study identifies the shortcomings of the current legal framework and proposes recommendations for its improvement.

Keywords: Trademark assignment, Commercialization of trademark rights, Intellectual property law

GIỚI THIỆU

Trong nền kinh tế tri thức, quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trở thành nguồn lực quan trọng góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong các đối tượng của quyền SHTT, nhãn hiệu không chỉ có chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ, mà còn là tài sản vô hình có giá trị thương mại lớn, có thể được khai thác thông qua nhiều hình thức khác nhau, trong đó, chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu là phương thức phổ biến.

Pháp luật Việt Nam đã thiết lập tương đối đầy đủ các quy định về điều kiện, đối tượng, hợp đồng và thủ tục đăng ký chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện pháp luật cho thấy, vẫn còn nhiều bất cập liên quan đến sự thống nhất giữa các luật liên quan, thời gian xử lý hồ sơ, kiểm soát thẩm quyền của người đại diện và tư cách pháp lý của bên chuyển nhượng, kiểm soát chất lượng hàng hóa, dịch vụ sau chuyển nhượng và cơ chế định giá. Những bất cập này không chỉ làm gia tăng rủi ro pháp lý trong quá trình chuyển nhượng, mà còn làm giảm hiệu quả khai thác giá trị thương mại của nhãn hiệu. Trên cơ cở đó, bằng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua phân tích các quy định của Luật SHTT và các văn bản hướng dẫn thi hành, nghiên cứu tiếp cận chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu dưới góc độ thương mại hóa quyền SHTT, nhận diện những bất cập của pháp luật hiện hành và đưa ra đề xuất hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật và thúc đẩy thương mại hóa nhãn hiệu ở Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Khi nghiên cứu về chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu, không có bất kỳ văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm thuần túy về vấn đề này, tuy nhiên các văn bản pháp lý quốc tế như Hiệp định TRIPS (Điều 21) và Công ước Paris về Bảo hộ Sở hữu Công nghiệp (Điều 6quater) đều ghi nhận, chủ sở hữu được chuyển nhượng nhãn hiệu và cho phép các quốc gia thành viên quy định điều kiện đối với hoạt động này. Tại Việt Nam, văn bản pháp luật chính điều chỉnh việc chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu là Luật Sở hữu trí tuệ. Dựa vào Điều 138 Luật SHTT, có thể hiểu: “Chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu là việc chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác”.

Pháp luật về chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc khai thác và chuyển hóa quyền đối với nhãn hiệu thành các giá trị kinh tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu và các chủ thể có liên quan trong quá trình chuyển nhượng. Một số đặc điểm pháp lý riêng biệt của pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này bao gồm: (1) Đối tượng chuyển nhượng là quyền đối với nhãn hiệu; (2) Làm chấm dứt quyền sở hữu của bên chuyển nhượng và xác lập quyền sở hữu cho bên nhận chuyển nhượng; (3) Vừa bảo đảm sự độc quyền của chủ sở hữu, vừa tạo điều kiện cho các chủ thể khác được khai thác hợp pháp quyền đối với nhãn hiệu, vừa bảo đảm lợi ích cho cộng đồng.

Tổng quan nghiên cứu

Nhiều công trình khoa học tiếp cận nội dung pháp luật về chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu từ các góc độ khác nhau. Calboli (2005) nhận định, yêu cầu nhãn hiệu chỉ được chuyển nhượng cùng với uy tín thương mại (goodwill) là thiếu tính khả thi trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng cho phép chuyển nhượng nhãn hiệu một cách độc lập để tăng cường cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng. Tại Việt Nam, Hoàng Lan Phương (2011) đã nghiên cứu toàn diện về thương mại hóa quyền SHTT, bao gồm cả chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp. Tác giả chỉ ra việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam đang phát triển dựa trên sự gia tăng của số lượng hợp đồng đăng ký chuyển nhượng, tuy nhiên, các quy định pháp luật còn rải rác ở nhiều văn bản, chưa có sự thống nhất, dẫn đến việc áp dụng chưa hiệu quả. Bên cạnh đó, Mai Thị Vân Hà (2020) đặt vấn đề về việc tại sao ở Việt Nam đã hình thành thị trường khoa học và công nghệ, đã có các doanh nghiệp khao khát đổi mới, có những nhãn hiệu mang tiềm năng rất lớn nhưng vẫn không thể thương mại hóa hoặc gặp khó khăn trong quá trình thương mại hóa. Nguyên nhân chính là do các quy định pháp luật chưa phù hợp, chưa tạo điều kiện thúc đẩy thương mại hóa phát triển.

Tổng quan nghiên cứu cho thấy, mặc dù chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu không phải là chủ đề hoàn toàn mới, nhưng các nghiên cứu hiện có chủ yếu là nghiên cứu chung về thương mại hóa quyền SHTT hoặc các hình thức khác như chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, nhượng quyền thương mại, thế chấp bằng quyền đối với nhãn hiệu. Các nghiên cứu riêng biệt về chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu được công bố vẫn còn khá hạn chế. Bên cạnh đó, các công trình trước đây chủ yếu dựa trên cơ sở Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022) nên một số định hướng không còn phù hợp. Đặc biệt, các nghiên cứu này đều thực hiện trước khi ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 và Kế hoạch số 01 về hành động chiến lược ngày 02/06/2025. Trong bối cảnh mới, vai trò của SHTT được nhấn mạnh hơn bao giờ hết, đòi hỏi phải có những nghiên cứu kịp thời để đánh giá và hoàn thiện pháp luật hiện hành.

THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU

Thành tựu

Hoạt động chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu ở Việt Nam có xu hướng phát triển. Theo Báo cáo thường niên của Cục SHTT, trong vòng 10 năm, từ năm 2010 đến năm 2024, số lượng đơn đăng ký hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu tăng khoảng 91,3% (Cục Sở hữu trí tuệ, 2024). Điều này cho thấy, các chủ thể cũng rất quan tâm đến việc khai thác thương mại thông qua chuyển nhượng nhãn hiệu. Nhiều trường hợp, sau khi đăng ký, nếu không có nhu cầu khai thác hoặc không đủ năng lực tài chính để tiếp tục kinh doanh, thì chủ sở hữu có thể chuyển nhượng nhãn hiệu cho các chủ thể khác có nhu cầu. Trong một giao dịch có nhiều nhãn hiệu được chuyển nhượng, việc này không chỉ thể hiện quy mô lớn của các giao dịch mà còn cho thấy các chủ thể đang thực hiện đúng quy định pháp luật, không phạm vào các trường hợp bị hạn chế chuyển nhượng. Trên thực tế đã có rất nhiều giao dịch chuyển nhượng nhãn hiệu với quy mô lớn, điển hình là thương vụ Unicharm mua cổ phần của Diana.

Hạn chế

Một là, mặc dù số lượng đơn đăng ký hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu vẫn có xu hướng tăng nhưng so với hàng chục nghìn đơn đăng ký nộp vào mỗi năm thì vẫn không đáng kể. Thị trường mua bán nhãn hiệu chưa thật sự tương xứng so với số lượng tài sản trí tuệ đang tồn tại.

Hai là, được đề cập nhiều trong các nghiên cứu liên quan đến quyền SHTT đó là vấn đề định giá. Hiện nay cũng chưa có nhiều tổ chức định giá chuyên sâu về TSTT, các bên thường tự thỏa thuận giá chuyển nhượng dựa trên việc đánh giá uy tín thương hiệu, doanh thu tạo ra từ thương hiệu, khả năng khai thác trong tương lai… nhưng các căn cứ này đều rất định tính nên trong nhiều trường hợp nhãn hiệu bị định giá thấp hơn giá trị thực.

Ba là, theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Luật SHTT, hợp đồng chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu chỉ chính thức có hiệu lực khi đã được đăng ký tại Cục SHTT. Tuy nhiên, trong thực tiễn xử lý hồ sơ, tác giả nhận thấy thời gian đăng ký chuyển nhượng nhãn hiệu có thể kéo dài từ 10-12 tháng hoặc lâu hơn. Trong khi đó, bên nhận chuyển nhượng thường đã thanh toán toàn bộ chi phí ngay khi ký kết hợp đồng. Việc chậm trễ trong việc ghi nhận quyền sở hữu gây rủi ro lớn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bên nhận.

Bốn là, chưa có cơ chế kiểm soát chất lượng hàng hóa, dịch vụ của bên nhận sau khi chuyển nhượng nhãn hiệu. Đây là một nội dung quan trọng nhưng pháp luật Việt Nam hiện chưa có quy định cụ thể, trong khi pháp luật của một số quốc gia như Trung Quốc đã đề cập trực tiếp tại Điều 42 Luật nhãn hiệu của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sửa đổi năm 2019), yêu cầu bên nhận chuyển nhượng phải bảo đảm chất lượng của hàng hóa mà nhãn hiệu được sử dụng cho.

Năm là, phát sinh những vụ việc tranh chấp nhãn hiệu trong quá trình chuyển nhượng, có thể kể đến vụ việc Bản án số: 08 ngày 16/09/2025 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội (Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu).

Trong vụ việc, CTCP đầu tư thương mại quốc tế M – chủ sở hữu nhãn hiệu “O” yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu ký ngày 30/8/2021 vô hiệu với lý do người đại diện xác lập giao dịch vượt quá thẩm quyền và bên nhận chuyển nhượng chưa thanh toán. Tòa án xác định người ký hợp đồng là người đại diện theo pháp luật của Công ty M, có thẩm quyền giao dịch với bên thứ ba; các hạn chế theo Điều lệ công ty chỉ có giá trị nội bộ và không ảnh hưởng đến hiệu lực hợp đồng khi bên nhận chuyển nhượng không biết về các hạn chế này. Đồng thời, Tòa án xác định nghĩa vụ thanh toán đã được các bên thực hiện thông qua cấn trừ công nợ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện và cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng.

Vụ việc cho thấy khoảng trống trong cơ chế kiểm soát thẩm quyền định đoạt nhãn hiệu của doanh nghiệp khi đăng ký hợp đồng chuyển nhượng. Hồ sơ hiện hành không yêu cầu cung cấp tài liệu thể hiện sự chấp thuận nội bộ hoặc giấy tờ pháp lý của bên chuyển nhượng để xác minh thẩm quyền của người ký. Điều này có thể làm phát sinh tranh chấp khi người đại diện xác lập giao dịch trái với ý chí của các thành viên, cổ đông hoặc sau khi doanh nghiệp đã thay đổi người đại diện.

Thực tiễn việc thẩm định viên có chủ động kiểm tra thông tin của doanh nghiệp trên trang đăng ký kinh doanh để biết thông tin kê khai có đúng hay không trước khi xử lý là không bắt buộc, hệ thống thông tin của Cục sở hữu trí tuệ và Sở tài chính cũng không có sự liên kết với nhau. Thẩm định viên thường chỉ xem xét và kết luận dựa trên bộ hồ sơ chủ đơn cung cấp. Vậy nên việc bên chuyển nhượng có thay đổi người đại diện theo pháp luật hay bất kỳ thông tin khác như tên, địa chỉ hay không thẩm định viên cũng không bắt buộc phải biết.

ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thực hiện và chỉ ra được những thành tựu, hạn chế nhất định của hoạt động chuyển nhượng nhãn hiệu tại Việt Nam trên đây, tác giả nhận diện 6 bất cập chủ yếu và đề xuất các kiến nghị sửa đổi, bổ sung như sau:

Thứ nhất, quy định về các nội dung phải có trong hợp đồng chuyển nhượng phù hợp với nguyên tắc tự do thỏa thuận trong Luật Dân sự.

Điều 140 Luật SHTT quy định rõ các nội dung phải có trong hợp đồng chuyển nhượng. Về bản chất, hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu cũng là hợp đồng dân sự, tại Điều 398 Bộ luật dân sự quy định: “Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng” nên cụm từ “phải có các nội dung” tại Điều 140 đi ngược lại với nguyên tắc tự do thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các bên, và nếu thiếu đi một trong các nội dung này thì hợp đồng sẽ bị xem là vô hiệu. Do đó, nên chỉnh sửa thành “có thể bao gồm các nội dung” để thống nhất Luật SHTT với nguyên tắc chung về quyền tự do thỏa thuận trong Luật Dân sự và phù hợp hơn với thực tiễn.

Thứ hai, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ đăng ký chuyển nhượng nhãn hiệu

Cần cải cách thủ tục hành chính theo hướng đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ, đẩy mạnh số hóa quy trình thẩm định và công khai đầy đủ tiến độ xử lý hồ sơ trên hệ thống của Cục SHTT.

Thứ ba, bổ sung cơ chế kiểm soát thẩm quyền định đoạt nhãn hiệu của người đại diện theo pháp luật của bên chuyển nhượng

Hiện nay, hồ sơ đăng ký chuyển nhượng đối với bên chuyển nhượng là pháp nhân không yêu cầu cung cấp các văn bản thể hiện sự chấp thuận nội bộ. Người đại diện theo pháp luật sẽ là người trực tiếp ký hợp đồng. Điều này có thể tiềm ẩn nguy cơ mâu thuẫn nội bộ hoặc người đại diện tự ý chuyển nhượng nhãn hiệu, trong khi nhãn hiệu vốn là tài sản chung của doanh nghiệp. Thực tiễn đã phát sinh nhiều tranh chấp phức tạp, điển hình như vụ việc nêu trên tại Bản án số 08 ngày 16/09/2025 của Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu do mâu thuẫn về thẩm quyền ký hợp đồng chuyển nhượng của người đại diện theo pháp luật của bên chuyển nhượng (Tòa án nhân dân Tối cao tại Hà Nội, 2025). Do đó, đối với trường hợp bên chuyển nhượng là pháp nhân, cần bổ sung quy định bắt buộc bên chuyển nhượng phải nộp kèm tài liệu chứng minh việc chuyển nhượng đã được nội bộ doanh nghiệp thông qua hợp lệ trước khi ghi nhận hợp đồng chuyển nhượng, nhằm bảo đảm không có tranh chấp về quyền. Các tài liệu này có thể bao gồm Nghị quyết của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Quyết định hoặc Văn bản ủy quyền.

Thứ tư, bổ sung quy định về thành phần hồ sơ và quy trình thẩm định để bảo đảm việc kiểm soát tư cách pháp lý của bên chuyển nhượng.

Hồ sơ hiện hành không bắt buộc nộp bản sao công chứng Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của bên chuyển nhượng, đồng thời cũng chưa quy định trách nhiệm kiểm tra thông tin này đối với thẩm định viên. Nếu bên chuyển nhượng thay đổi người đại diện hoặc thông tin pháp lý (tên, địa chỉ) nhưng người đại diện cũ vẫn ký hợp đồng, rủi ro giao dịch bị vô hiệu và phát sinh tranh chấp là rất cao. Do đó, cần bổ sung quy định bắt buộc bên chuyển nhượng nộp bản sao công chứng Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ pháp lý tương đương còn hiệu lực. Đồng thời, quy định rõ nghĩa vụ của thẩm định viên trong việc tra cứu, kiểm tra tư cách pháp lý của bên chuyển nhượng trong quá trình xử lý hồ sơ.

Thứ năm, bổ sung cơ chế kiểm soát chất lượng hàng hóa, dịch vụ của bên nhận sau khi chuyển nhượng nhãn hiệu.

Mặc dù sau khi chuyển nhượng, chủ sở hữu mới của nhãn hiệu là bên nhận chuyển nhượng nhưng nếu bên nhận chuyển nhượng không duy trì được chất lượng tương ứng hoặc có thay đổi đáng kể thì uy tín, danh tiếng gắn liền với nhãn hiệu sẽ bị suy giảm, ảnh hưởng tới danh tiếng của chủ sở hữu ban đầu; đồng thời, người tiêu dùng có thể bị nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại và chất lượng của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đó. Do đó, pháp luật cần bổ sung quy định về trách nhiệm của bên nhận chuyển nhượng trong việc duy trì chất lượng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu trong một thời gian hợp lý sau khi hoàn tất việc chuyển nhượng.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế định giá nhãn hiệu trong hoạt động chuyển nhượng.

Do đặc trưng là tài sản vô hình, nên việc định giá nhãn hiệu khá khó khăn, cần hoàn thiện khung pháp lý về định giá nhãn hiệu theo hướng xây dựng các nguyên tắc và tiêu chí định giá phù hợp với đặc điểm của tài sản trí tuệ. Khuyến khích phát triển các tổ chức định giá chuyên sâu về quyền SHTT.

KẾT LUẬN

Thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật, nghiên cứu làm rõ 6 bất cập chủ yếu còn tồn tại trong pháp luật Việt Nam về chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu, bao gồm: sự thiếu thống nhất giữa các quy định pháp luật có liên quan, thời gian xử lý, thành phần hồ sơ, cơ chế kiểm soát thẩm quyền của người đại diện và tư cách pháp lý của bên chuyển nhượng, kiểm soát chất lượng hàng hóa, dịch vụ sau chuyển nhượng, cơ chế định giá nhãn hiệu. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra các đề xuất hoàn thiện pháp luật tương ứng nhằm góp phần nâng cao tính an toàn pháp lý, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể và thúc đẩy thương mại hóa nhãn hiệu ở Việt Nam.

Nghiên cứu tập trung vào phân tích và chỉ ra những bất cập về quy định pháp luật, chưa tiến hành điều tra khảo sát định lượng số liệu thực tế, chưa phân tích chuyên sâu về định giá nhãn hiệu và so sánh đối chiếu sâu với pháp luật quốc tế. Đây cũng là những nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo:

1. Calboli, I. (2005). Trademark Assignment with Goodwill: A Concept Whose Time Has Gone, Florida Law Review, 57(4), 771-842.

2. Chính phủ (2023). Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23/8/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.

3. Chính phủ (2026). Nghị định số 100/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23/8/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.

4. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (2019). Luật Nhãn hiệu của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (sửa đổi năm 2019).

5. Hoàng Lan Phương (2011). Pháp luật về thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Mai Thị Vân Hà (2020). Thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

7. Quốc hội (2025). Luật số 131/2025/QH15 ngày 10/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

8. World Trade Organization (1994). Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights, Annex 1C to the Marrakesh Agreement Establishing the World Trade Organization.

9. World Intellectual Property Organization (1979). Paris Convention for the Protection of Industrial Property of March 20, 1883, as revised at Stockholm on July 14, 1967, and as amended on September 28, 1979.

Ngày nhận bài: 3/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/9/2026; Ngày duyệt đăng: 15/9/2026

Các tin khác

Quản lý rủi ro pháp lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Quản lý rủi ro pháp lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số tài chính diễn ra mạnh mẽ, tài sản mã hóa đã trở thành một cấu phần ngày càng quan trọng trong hành vi tài chính của người dân Việt Nam
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Bài viết xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, qua đó đóng góp cơ sở lý luận và định hướng cho các nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.
Thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sắp xếp đơn vị hành chính: Thực tiễn tại TP. Cần Thơ

Thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sắp xếp đơn vị hành chính: Thực tiễn tại TP. Cần Thơ

Phát triển kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, huy động nguồn lực xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Từ thực hiện ESG đến tài sản bền vững: Tổng quan nghiên cứu và định hướng phát triển mô hình kế toán bền vững

Từ thực hiện ESG đến tài sản bền vững: Tổng quan nghiên cứu và định hướng phát triển mô hình kế toán bền vững

Tích hợp ESG vào hoạt động doanh nghiệp giúp chuyển hóa cam kết phát triển bền vững thành giá trị tài sản dài hạn, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nghiên cứu hành vi lựa chọn trường của sinh viên đại học: Ứng dụng phương pháp phân tích hồi quy bội

Nghiên cứu hành vi lựa chọn trường của sinh viên đại học: Ứng dụng phương pháp phân tích hồi quy bội

Trong bối cảnh giáo dục đại học ngày càng mở rộng, các trường đại học phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ trong việc thu hút và duy trì người học. Sự đa dạng về ngành đào tạo, phương thức tuyển sinh và chính sách hỗ trợ tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng khiến học sinh gặp khó khăn khi lựa chọn cơ sở đào tạo phù hợp
Tác động của eTax Mobile đến phương thức thực hiện nghĩa vụ thuế

Tác động của eTax Mobile đến phương thức thực hiện nghĩa vụ thuế

eTax Mobile thúc đẩy số hóa nghĩa vụ thuế, giúp người nộp thuế thực hiện thủ tục thuận tiện, nhanh chóng, minh bạch và giảm chi phí tuân thủ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ ngân hàng số Vietcombank của sinh viên Trường Đại học Văn Lang

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ ngân hàng số Vietcombank của sinh viên Trường Đại học Văn Lang

Sự hài lòng về chất lượng dịch vụ ngân hàng số góp phần duy trì khách hàng, tăng mức độ sử dụng, củng cố niềm tin và thúc đẩy ngân hàng phát triển bền vững.
Giải pháp nâng cao hiệu quả công việc cho nhân viên Công ty TNHH Sản xuất Thương mại In Minh Mẫn

Giải pháp nâng cao hiệu quả công việc cho nhân viên Công ty TNHH Sản xuất Thương mại In Minh Mẫn

Hiệu quả công việc phản ánh năng suất, chất lượng và mức độ hoàn thành nhiệm vụ, góp phần nâng cao thu nhập, sự gắn kết và phát triển nghề nghiệp của nhân viên.
Tác động của trí tuệ văn hóa đến hiệu quả làm việc: Nghiên cứu tại các công ty luật đa quốc gia tại Việt Nam

Tác động của trí tuệ văn hóa đến hiệu quả làm việc: Nghiên cứu tại các công ty luật đa quốc gia tại Việt Nam

Trong các công ty luật đa quốc gia, sự tương tác trực tiếp giữa đội ngũ lãnh đạo phương Tây và nhân sự bản địa biến khác biệt văn hóa thành một yếu tố cấu trúc tác động trực tiếp đến chất lượng phối hợp và hiệu quả công việc.
Phân tích thực trạng động lực làm việc của người lao động tại Báo và Phát thanh, Truyền hình Vĩnh Long

Phân tích thực trạng động lực làm việc của người lao động tại Báo và Phát thanh, Truyền hình Vĩnh Long

Sự thay đổi hành vi công chúng báo chí sang xem theo nhu cầu, trên thiết bị di động buộc các tổ chức truyền thông phải tái cấu trúc mô hình hoạt động, đầu tư mạnh cho công nghệ số và đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.