Phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Nghiên cứu - Trao đổi 09:53 | 07/12/2025
Đối với Việt Nam, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, CMCN 4.0 mang lại cả cơ hội và thách thức lớn trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững.

TS. Phan Thị Huê

Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trên cơ sở phân tích một cách có hệ thống các tác động đa chiều của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến các trụ cột của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nghiên cứu đã chỉ ra và luận giải một cách thực chứng các cơ hội và thách thức cụ thể mà Việt Nam đang đối mặt trong việc phát triển thể chế; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm tận dụng tối đa cơ hội và vượt qua thách thức, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên số.

Từ khóa: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cơ hội, thách thức, thể chế kinh tế thị trường

Summary

The study analyzes the impact of the Fourth Industrial Revolution on the socialist-oriented market economy institutions in Viet Nam. Based on a systematic analysis of the multidimensional impacts of the Fourth Industrial Revolution on the pillars of the socialist-oriented market economy institutions, the study identifies and empirically explains the specific opportunities and challenges that Viet Nam faces in institutional development. Accordingly, it proposes solutions to maximize these opportunities and overcome the challenges, thereby contributing to the further improvement of the socialist-oriented market economy institutions in the digital era.

Keywords: Fourth Industrial Revolution, opportunities, challenges, market economy institutions

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, cùng với xu thế toàn cầu và hội nhập, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã và đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và công nghệ. Đối với Việt Nam, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, CMCN 4.0 mang lại cả cơ hội và thách thức lớn trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững. Việc nghiên cứu các tác động của CMCN 4.0 đến phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam để tìm ra cơ hội và thách thức phải đối mặt là hết sức cần thiết, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới.

CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG

CMCN 4.0 là một khái niệm chỉ quá trình chuyển đổi công nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ số, với sự kết nối mạnh mẽ giữa các hệ thống vật lý và mạng lưới internet. Đây là giai đoạn tiếp nối các cuộc CMCN trước đó, và tập trung vào việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến như: Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), chuỗi khối (blockchain) và robot tự động, tạo ra một môi trường sản xuất thông minh, linh hoạt và hiệu quả hơn. Theo Klaus Schwab, người sáng lập Diễn đàn Kinh tế Thế giới, CMCN 4.0 không chỉ thay đổi cách thức sản xuất mà còn tác động sâu rộng đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, và cuộc sống con người.

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu cho thấy, CMCN 4.0 tạo ra những tác động đa chiều, cụ thể như:

Thứ nhất, thúc đẩy cải cách hệ thống pháp lý và thể chế quản lý kinh tế: CMCN 4.0 đặt ra yêu cầu cấp thiết cho Việt Nam trong việc xây dựng hệ thống pháp lý và thể chế quản lý kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến dữ liệu, quyền riêng tư và bảo mật thông tin. Các công nghệ như blockchain và AI đặt ra thách thức mới trong quản lý dữ liệu và tài sản số, đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng cải cách các chính sách và luật pháp.

Thứ hai, tăng cường số hóa và quản lý thông tin công cộng: CMCN 4.0 giúp thúc đẩy số hóa thông tin công cộng và tăng cường tính minh bạch trong các hoạt động của Chính phủ. Quá trình này sẽ hỗ trợ việc quản lý kinh tế công bằng và hiệu quả hơn, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng các hệ thống cơ sở dữ liệu tích hợp và áp dụng các công nghệ mới trong hoạt động hành chính..

Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi mô hình kinh doanh và cải cách doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước: không chỉ tác động đến khu vực tư nhân, CMCN 4.0 còn tạo áp lực cải cách đối với các doanh nghiệp nhà nước. Việc áp dụng công nghệ số và Big data sẽ hỗ trợ cải thiện hiệu quả hoạt động và tính cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước, tuy nhiên đòi hỏi phải có chính sách quản trị minh bạch và linh hoạt.

Thứ tư, tạo điều kiện phát triển kinh tế số và khởi nghiệp sáng tạo: Công nghiệp 4.0 mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam phát triển kinh tế số và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, tuy nhiên cũng đòi hỏi cải cách thể chế để hỗ trợ môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Việc đầu tư vào công nghệ như AI và IoT sẽ giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh, nhưng điều này đòi hỏi phải có chính sách khuyến khích và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật số và kỹ năng công nghệ: CMCN 4.0 đòi hỏi sự chuyển đổi mạnh mẽ trong việc phát triển nguồn nhân lực với kỹ năng số cao, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ tiên tiến như AI, blockchain, và phân tích dữ liệu lớn.

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG PHÁT TRIỂN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM THỜI ĐẠI CÔNG NGHIỆP 4.0

Những cơ hội

Một là, khoa học công nghệ giúp tối ưu hóa sản xuất, cải thiện năng suất lao động và hiệu quả đầu tư: Trong sản xuất, công nghiệp 4.0 cho phép tự động hóa các quy trình sản xuất nhờ ứng dụng robot, máy móc thông minh và các công nghệ kết nối IoT. Điều này giúp giảm thiểu sai sót, tối ưu hóa nguồn lực và tăng năng suất sản xuất. Trong quản lý sản xuất, giúp linh hoạt và tối ưu hóa chuỗi cung ứng: Công nghệ IoT và Big data giúp các doanh nghiệp có thể theo dõi và giám sát quá trình sản xuất theo thời gian thực, từ đó cải thiện quản lý kho hàng và chuỗi cung ứng. Điều này giúp giảm chi phí vận hành và giảm thiểu lãng phí.

Hai là, áp dụng khoa học công nghệ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ, phục vụ khách hàng tốt hơn: Công nghệ AI và Big data giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về nhu cầu và thói quen tiêu dùng của khách hàng. Điều này cho phép các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cá nhân hóa, giải quyết nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng và chính xác, từ đó nâng cao mức độ hài lòng và lòng trung thành của khách hàng. Cung ứng dịch vụ số hóa tạo ra nhiều tiện ích, tiết kiệm thời gian, công sức. Các dịch vụ tự động và ứng dụng kỹ thuật số giúp giảm thời gian chờ đợi và nâng cao trải nghiệm người dùng. Điều này đặc biệt hữu ích trong các lĩnh vực dịch vụ công cộng và y tế, nơi mà sự nhanh chóng và chính xác là yếu tố quan trọng.

Ba là, CMCN 4.0 xuất hiện nhiều lĩnh vực ngành nghề mới, tạo ra nhiều việc làm mới, chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ: CMCN 4.0 tạo ra nhu cầu lớn về các công việc kỹ thuật cao, chẳng hạn như kỹ sư AI, chuyên gia dữ liệu, kỹ sư tự động hóa và chuyên gia an ninh mạng. Những công việc này không chỉ mang lại thu nhập cao mà còn có tiềm năng phát triển nghề nghiệp lớn, giúp nâng cao mức sống của người lao động. Công nghiệp 4.0 còn thúc đẩy sự phát triển của các mô hình làm việc từ xa và linh hoạt, cho phép người lao động tiết kiệm thời gian đi lại và cân bằng giữa công việc và cuộc sống.

Bốn là, thúc đẩy khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ: CMCN 4.0 mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong các lĩnh vực mới. Các doanh nghiệp khởi nghiệp có thể tạo ra các sản phẩm và dịch vụ sáng tạo đáp ứng nhu cầu mới của thị trường. Các công nghệ trong Công nghiệp 4.0 không biên giới, cho phép các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận và hợp tác với các đối tác nước ngoài một cách dễ dàng. Điều này giúp các doanh nghiệp học hỏi kinh nghiệm, công nghệ và mở rộng thị trường ra quốc tế. CMCN 4.0 còn thúc đẩy hình thành các hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam, với sự hỗ trợ của các quỹ đầu tư, vườn ươm doanh nghiệp và các chương trình hỗ trợ của Chính phủ.

Năm là, ứng dụng công nghệ mới thúc đẩy sự phát triển bền vững, giảm thiểu lãng phí và bảo vệ môi trường: Với các công nghệ như sản xuất thông minh và IoT, các nhà máy có thể tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng và giảm thiểu lãng phí trong quá trình sản xuất. Điều này giúp giảm thiểu tác động đến môi trường và hỗ trợ cho các mục tiêu phát triển bền vững; các hệ thống quản lý thông minh giúp theo dõi và kiểm soát hiệu quả việc sử dụng tài nguyên trong sản xuất, từ đó giúp giảm thiểu sự lãng phí và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Tóm lại, CMCN 4.0 mang đến cho Việt Nam và các quốc gia khác nhiều cơ hội để nâng cao hiệu suất, tăng cường tính cạnh tranh và phát triển bền vững. Tuy nhiên còn nhiều thách thức mà Việt Nam phải đối mặt.

Một số thách thức

Thứ nhất, thách thức về hoàn thiện khung pháp lý cho nền kinh tế số: Khung pháp lý cho nền kinh tế số còn thiếu và chậm đổi mới, dẫn đến các lỗ hổng về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu. Sự xuất hiện của các công nghệ mới như AI, IoT, Blockchain và Big data đang làm thay đổi toàn bộ cách thức kinh doanh và sản xuất. Các quy định pháp lý về quản lý, ứng dụng và khai thác các công nghệ này tại Việt Nam còn chưa đầy đủ và chưa rõ ràng. Điều này dẫn đến các đối tượng đã lợi dụng kẽ hở của pháp luật đánh cắp thông tin khách hàng, thâm nhập vào dữ liệu hệ thống của doanh nghiệp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản…, Cụ thể riêng năm 2023 có đến 13.900 vụ tấn công an ninh mạng nhắm vào các hệ thống tại Việt Nam (PV, 2023), trung bình mỗi tháng xảy ra 1.160 vụ, tăng 9,5% so với năm 2022. Các mục tiêu chịu nhiều cuộc tấn công nhất là các cơ quan chính phủ, hệ thống ngân hàng, tổ chức tài chính, hệ thống công nghiệp và các hệ thống trọng yếu khác...

Thứ hai, thách thức trong phát triển hạ tầng công nghệ và kỹ thuật số: Dù Việt Nam đã có những tiến bộ trong phát triển hạ tầng kỹ thuật số, song vẫn còn thiếu cơ sở hạ tầng cho mạng 5G và các trung tâm dữ liệu lớn phục vụ cho các công nghệ mới. Mạng lưới băng thông rộng và truy cập internet còn thiếu tính toàn diện ở các vùng nông thôn, gây khó khăn cho quá trình số hóa trên diện rộng. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, vào cuối năm 2022, chỉ 60% các vùng nông thôn có truy cập internet ổn định, các thành phố lớn đạt tỷ lệ 95%.

Thứ ba, thách thức về chất lượng nguồn nhân lực: Chất lượng nguồn nhân lực số thấp, thiếu hụt cả về số lượng, kinh nghiệm thực tế và kỹ năng mềm, đặc biệt là ngoại ngữ). Theo “Báo cáo về thị trường công nghệ thông tin Việt Nam 2023” (TopDev, 2023), đến năm 2025 Việt Nam sẽ còn cần đến 700.000 nhân lực trong ngành công nghệ thông tin (IT). Trong khi đó, số lượng lập trình viên hiện tại của Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 530.000 người. Trong số hơn 57.000 sinh viên IT tốt nghiệp mỗi năm chỉ có khoảng 30% lực lượng nhân sự đáp ứng được những kỹ năng và chuyên môn yêu cầu thực tế mà doanh nghiệp đặt ra, 70% còn lại cần được bố trí đào tạo thêm tại doanh nghiệp trong 3-6 tháng để đạt hiệu quả công việc tương ứng. Chất lượng nhân lực số còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường được thể hiện qua một số mặt như sau:

- Thiếu kinh nghiệm thực tiễn: Để làm việc trong các lĩnh vực IT, cần phải có những người có chuyên môn và kỹ năng tốt, phải trải qua quá trình đào tạo và làm việc tích lũy lâu dài. Do vậy, có rất nhiều lao động mặc dù sở hữu kiến thức chuyên môn tốt nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực tế. Việt Nam hiện nay có hơn 45% lập trình viên là từ Fresher đến Junior (lao động có kinh nghiệm làm việc dưới 3 năm), 28% lập trình viên ở cấp Middle (có kinh nghiệm làm việc từ 3-4 năm). Các lập trình viên Senior (kinh nghiệm làm việc từ 5-7 năm) chỉ chiếm gần 20% tổng số nhân sự công nghệ thông tin trong khi đó, cấp Leader (có kinh nghiệm trên 7 năm) trở lên chỉ 7% (TopDev, 2023).

- Thiếu kỹ năng mềm: Bên cạnh kỹ năng chuyên môn vững vàng, kinh nghiệm thực tiễn, những kỹ năng mềm, như: trình độ ngoại ngữ, khả năng tư duy logic, tự học hỏi, kỹ giải quyết vấn đề, làm việc nhóm và chịu áp lực cao… là những kỹ cần thiết đối với lao động số. Ngoại ngữ tốt sẽ mở ra cơ hội việc làm rộng lớn cho người lao động, cơ hội để tham gia vào thị trường lao động quốc tế, kỹ năng ngoại ngữ còn có ảnh hưởng lớn đến thu nhập của lao động công nghệ thông tin. Tiếng Anh là rất cần thiết và gần như bắt buộc đối với lao động trong ngành công nghệ thông tin bởi lẽ hầu hết các ngôn ngữ lập trình, các công nghệ, thuật toán mới hoàn toàn bằng tiếng Anh. Ngoài ra, sự biến động và thay đổi nhanh của công nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật cũng như sự đổi mới liên tục của công nghệ đòi hỏi ở các lập trình viên phải có khả năng thích ứng nhanh và nhạy bén với mọi sự biến đổi.

Thứ tư, thách thức trong quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Thiếu vốn đầu tư: Chuyển đổi số đòi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư vào hạ tầng công nghệ, đào tạo nhân sự và thay đổi quy trình sản xuất. Phần lớn các doanh nghiệp tại Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi các dự án chuyển đổi số có thể tốn nhiều chi phí đầu tư. Kết quả khảo sát của “Báo cáo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp 2021: Rào cản và nhu cầu chuyển đổi số” cho thấy, có đến 60,1% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết rào cản mà họ gặp phải khi áp dụng công nghệ số là bởi chi phí đầu tư, ứng dụng công nghệ còn cao (Cục Phát triển doanh nghiệp, 2021).

- Chậm thích nghi với công nghệ mới: Báo cáo của Cục Phát triển doanh nghiệp (2021) cũng nêu rõ 9 rào cản mà các doanh nghiệp gặp phải khi chuyển đổi số là: (1) Rào cản về chi phí đầu tư, ứng dụng công nghệ; (2) Khó khăn trong thay đổi thói quen, tập quán kinh doanh; (3) Thiếu nhân lực nội bộ để ứng dụng công nghệ số; (4) Thiếu cơ sở hạ tầng công nghệ số; (5) Thiếu thông tin về công nghệ số; (6) Khó khăn trong tích hợp các giải pháp công nghệ số; (7) Thiếu cam kết, hiểu biết của Ban lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp; (8) Thiếu cam kết, hiểu biết của người lao động; (9) Sợ rò rỉ dữ liệu cá nhân/ doanh nghiệp.

- Thách thức trong thay đổi văn hóa tổ chức của doanh nghiệp: Các dự án chuyển đổi số có thể tác động đến mô hình hoạt động của doanh nghiệp, các quy trình, hoạt động cụ thể và có thể tác động đến cơ cấu tổ chức, nhân sự và văn hóa của doanh nghiệp, thói quen cũng như cách làm việc. Với rất nhiều doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm về ứng dụng, khai thác công nghệ thì việc quyết định thực hiện chuyển đổi số như thế nào, lựa chọn các giải pháp nào là một rào cản rất lớn.

Thứ năm, chênh lệch phát triển giữa các vùng miền về hạ tầng kỹ thuật số: Các khu vực đô thị lớn có điều kiện phát triển công nghệ và tiếp cận các dịch vụ kỹ thuật số tốt hơn so với các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Sự chênh lệch này gây ra tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận và hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi số, làm tăng thêm khoảng cách phát triển giữa các vùng. Người dân ở các khu vực nông thôn, miền núi vẫn gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận Internet, kiến thức và kỹ năng sử dụng công nghệ.

Thứ sáu, các chính sách hỗ trợ và khuyến khích đầu tư công nghệ chưa đủ hấp dẫn: Các chính sách thuế và ưu đãi hiện tại chưa đủ hấp dẫn để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mạnh vào công nghệ tiên tiến như AI, IoT và blockchain. Việc thiếu các chính sách hỗ trợ cụ thể làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi số. Chính sách về bảo mật và bảo vệ dữ liệu còn hạn chế, chưa đồng bộ, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc đảm bảo an toàn cho thông tin của khách hàng.

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

Để tận dụng được thời cơ và vượt qua những thách thức trong xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh CMCN 4.0, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực quản trị Nhà nước: Công tác cải cách hành chính ở nước ta những năm qua đã đạt được kết quả khá toàn diện, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội, song vẫn cần tiếp tục đẩy mạnh, nhằm xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Cụ thể, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách hành chính. Tăng cường lãnh đạo, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, uốn nắn kịp thời việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác cải cách hành chính; Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động cung ứng dịch vụ công. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý kinh tế, cắt bỏ thủ tục không cần thiết, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp; Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về một nền công vụ minh bạch, trách nhiệm, công bằng và liêm chính. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ và có đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Xây dựng chính phủ số, sử dụng Big Data và AI để hoạch định chính sách kinh tế hiệu quả hơn.

Hai là, hoàn thiện khung pháp lý cho kinh tế số và đổi mới sáng tạo: Ban hành các chính sách và luật pháp hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế số. Xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Xây dựng cơ chế quản lý linh hoạt đối với các mô hình kinh doanh mới như tài chính số, thương mại điện tử, blockchain...

Ba là, tăng cường vai trò của Nhà nước trong điều tiết thị trường và đảm bảo an sinh xã hội: Tạo cơ hội để mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập. Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động. Huy động tốt nhất nguồn nhân lực lao động để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về tiền lương, tiền công. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư. Xây dựng các chính sách bảo vệ lao động trước nguy cơ mất việc do tự động hóa, hỗ trợ đào tạo lại và chuyển đổi nghề nghiệp. Thực hiện chính sách thuế công bằng, kiểm soát các tập đoàn công nghệ lớn để tránh tình trạng độc quyền và bất bình đẳng kinh tế.

Bốn là, phát triển hạ tầng số và nguồn nhân lực số. Trong đó, việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật số là yếu tố thiết yếu để thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong cuộc CMCN 4.0. Đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật số giúp tạo ra một hệ sinh thái thuận lợi để doanh nghiệp có thể áp dụng công nghệ, nâng cao năng suất và tối ưu hóa hoạt động kinh doanh.

Đối với nhân lực số, cần đổi mới giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức và kinh tế thị trường hiện đại. Chính phủ cần rà soát và hoàn thiện các chiến lược về giáo dục, đào tạo, phát triển nhân lực quốc gia phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số. Các doanh nghiệp cần có kế hoạch cụ thể và dài hạn về đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực nội bộ - yếu tố cốt lõi góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Năm là, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý nhà nước: Phòng, chống tham nhũng và lợi ích nhóm để tạo niềm tin cho doanh nghiệp và người dân. Việc xây dựng hệ thống quản lý nhà nước hiện đại, minh bạch và thân thiện với doanh nghiệp không chỉ giúp giảm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp, mà còn nâng cao niềm tin và thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Cụ thể, cần ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước; Xây dựng Chính phủ điện tử giúp số hóa và tự động hóa các quy trình hành chính, từ đó nâng cao hiệu quả và giảm thiểu sự chậm trễ, sai sót trong xử lý công việc; Phát triển các cơ sở dữ liệu quốc gia và liên thông dữ liệu để cho phép các cơ quan quản lý nhà nước dễ dàng truy cập, chia sẻ thông tin, giúp đồng bộ hóa dữ liệu và giảm thiểu các quy trình lặp lại, phục vụ người dân, doanh nghiệp được tốt hơn.

Sáu là, thúc đẩy đổi mới sáng tạp của người dân và doanh nghiệp: Tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu khoa học công nghệ, khởi nghiệp và ứng dụng công nghệ vào sản xuất kinh doanh; Thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp và người dân vào quá trình quản lý; Xây dựng môi trường hợp tác công - tư (PPP) để tận dụng hiệu quả nguồn lực và kinh nghiệm từ khu vực tư nhân, giúp Chính phủ tiếp cận nguồn lực và các giải pháp sáng tạo trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế.

Bảy là, thúc đẩy hợp tác quốc tế, đặc biệt là hợp tác về khoa học công nghệ: Tận dụng các mối quan hệ quốc tế để học hỏi và ứng dụng các công nghệ mới vào thị trường Việt Nam. Cụ thể, cần tham gia các tổ chức và diễn đàn quốc tế về công nghệ; Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các ngành công nghệ cao; Thúc đẩy hợp tác nghiên cứu và phát triển (R&D) với các quốc gia tiên tiến; Phát triển chương trình đào tạo và trao đổi nhân lực quốc tế; Thúc đẩy các diễn đàn hợp tác và hội chợ công nghệ quốc tế tại Việt Nam.

(*) Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, trong đề tài mã số UTEHY.L.2025.73

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Phát triển doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021). Báo cáo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp (2021).

2. PV (2023). 13.900 vụ tấn công an ninh mạng nhắm vào các hệ thống tại Việt Nam trong năm 2023. https://vtv.vn/cong-nghe/13900-vu-tan-cong-an-ninh-mang-nham-vao-cac-he-thong-tai-viet-nam-trong-nam-2023-2023121218065446.htm

3. TopDev (2023). Báo cáo thị trường công nghệ thông tin Việt Nam.

Ngày nhận bài: 23/10/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 4/12/2025; Ngày duyệt đăng: 5/12/2025

Các tin khác

Công nghệ thông tin y tế và minh bạch viện phí: Khoảng cách giữa nhân viên và người bệnh

Công nghệ thông tin y tế và minh bạch viện phí: Khoảng cách giữa nhân viên và người bệnh

Từ khi Nghị định số 60/2021/NĐ-CP có hiệu lực, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập chuyển mạnh sang cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên. Nguồn thu từ dịch vụ khám chữa bệnh, gồm viện phí do người bệnh chi trả và phần do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán, trở thành nguồn tài chính chủ yếu bảo đảm hoạt động của bệnh viện.
Chuyển hóa FDI thành động lực phát triển kinh tế: Vai trò của năng lực hấp thụ công nghệ

Chuyển hóa FDI thành động lực phát triển kinh tế: Vai trò của năng lực hấp thụ công nghệ

Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, FDI tiếp tục là nguồn lực quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển. Bên cạnh bổ sung vốn, FDI mang lại công nghệ, kỹ năng quản trị và cơ hội tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị liên quan đến lựa chọn dịch vụ lưu trú cao cấp tại Hà Nội

Các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị liên quan đến lựa chọn dịch vụ lưu trú cao cấp tại Hà Nội

Trải nghiệm đã trở thành một hướng nghiên cứu quan trọng trong du lịch và khách sạn, phản ánh sự chuyển dịch từ việc chỉ xem xét sản phẩm hoặc chất lượng dịch vụ sang cách tiếp cận rộng hơn về những gì du khách cảm nhận, suy nghĩ và thực hiện trong quá trình tương tác với điểm đến.
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại  Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Biên Hòa

Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Biên Hòa

Trong bối cảnh kinh tế số và thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, thẻ tín dụng ngày càng trở thành sản phẩm quan trọng của ngân hàng bán lẻ nhờ khả năng hỗ trợ thanh toán, chi tiêu ngắn hạn, miễn lãi, trả góp, hoàn tiền và tích điểm.
Tác động của nội dung tiếp thị do AI tạo ra trên mạng xã hội đến ý định mua thực phẩm thương hiệu Bibigo của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của nội dung tiếp thị do AI tạo ra trên mạng xã hội đến ý định mua thực phẩm thương hiệu Bibigo của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (GenAI) đang làm thay đổi hoạt động marketing, đặc biệt thông qua nội dung tiếp thị do AI tạo ra giúp doanh nghiệp sáng tạo nội dung nhanh hơn, tiết kiệm chi phí và nâng cao mức độ cá nhân hóa
Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam

Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam

Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) được Nhà nước giao phó trọng trách quản lý một quỹ đất có quy mô khổng lồ, trải dài qua hàng chục tỉnh, thành phố và gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển hàng thế kỷ của ngành đường sắt.
​​​​​​​Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An

​​​​​​​Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An

Các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo đã chuyển dần từ cách tiếp cận coi đổi mới là kết quả của hoạt động nghiên cứu và phát triển bên trong doanh nghiệp sang quan điểm hệ thống, trong đó đổi mới được hình thành thông qua tương tác giữa doanh nghiệp với môi trường thể chế, các tổ chức tri thức và các mạng lưới kinh tế.
Giải thích ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z tại thị trường Nha Trang

Giải thích ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z tại thị trường Nha Trang

Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z không chỉ giải mã tâm lý sử dụng của nhóm đối tượng này, mà còn góp phần hỗ trợ cơ quan và doanh nghiệp địa phương triển khai các giải pháp, chính sách khắc phục ô nhiễm môi trường.
Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Ngày 19/5/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm cho giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh đó, vai trò dẫn dắt của đầu tư công đối với khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng.
Đổi mới cơ chế đầu tư giao thông đô thị ở Việt Nam: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý chính sách

Đổi mới cơ chế đầu tư giao thông đô thị ở Việt Nam: Kinh nghiệm Trung Quốc và hàm ý chính sách

Đô thị hóa nhanh làm gia tăng nhu cầu đi lại, ùn tắc, ô nhiễm và yêu cầu tái cấu trúc không gian. Trong bối cảnh đó, giao thông đô thị không còn chỉ là một nhóm công trình kỹ thuật, mà là hạ tầng nền tảng quyết định năng suất, khả năng tiếp cận việc làm, hiệu quả sử dụng đất và chất lượng sống.