Phát huy vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam
TS. Lê Duy Dũng
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: [email protected]
Tóm tắt
Bài viết phân tích vai trò của khoa học và công nghệ đối với phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; đồng thời đánh giá thực trạng phát huy vai trò của khoa học và công nghệ giai đoạn 2015-2025, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế chủ yếu. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam đến năm 2035, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Từ khóa: Khoa học và công nghệ, lực lượng sản xuất, kinh tế chính trị, đổi mới sáng tạo
Abstract
This paper analyzes the role of science and technology in the development of productive forces in Viet Nam in the current period, and assesses the current situation of promoting the role of science and technology during the period 2015 - 2025, identifying major achievements, limitations. On that basis, the paper proposes several solutions to further promote the role of science and technology in developing productive forces in Viet Nam towards 2035, thereby contributing to rapid and sustainable economic growth and enhancing national competitiveness.
Keywords: Science and technology, productive forces, political economy, innovation
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền kinh tế hiện đại, khoa học và công nghệ ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Theo quan điểm của kinh tế chính trị Mác - Lênin, khoa học khi được ứng dụng vào sản xuất sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, góp phần nâng cao năng suất lao động, cải tiến tư liệu sản xuất và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vai trò này càng trở nên rõ nét khi tri thức, dữ liệu, công nghệ số và đổi mới sáng tạo trở thành những nguồn lực then chốt của phát triển.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn xác định phát triển khoa học công nghệ là động lực quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, ứng dụng khoa học và công nghệ đã góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, từng bước hình thành các ngành kinh tế dựa trên tri thức. Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của khoa học và công nghệ đối với phát triển lực lượng sản xuất vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục.
Từ thực tiễn đó, bài viết phân tích thực trạng, chỉ ra một số hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của khoa học và công nghệ đối với phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay.
THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM
Những kết quả đạt được
Trong những năm gần đây, khoa học và công nghệ đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam. Việc nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ đã góp phần nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tạo nền tảng cho sự hình thành các mô hình sản xuất, kinh doanh mới.
Trước hết, khoa học và công nghệ góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội. Theo Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính), năng suất lao động của Việt Nam theo giá hiện hành năm 2023 đạt khoảng 199,3 triệu đồng/lao động, tăng khoảng 4,8% so với năm 2022 và tăng bình quân khoảng 5,3%/năm trong giai đoạn 2016-2023. Kết quả này phản ánh tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó có việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ số và logistics.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, việc ứng dụng khoa học và công nghệ đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm. Các công nghệ về giống cây trồng, công nghệ sinh học, hệ thống tưới tiêu tự động và nông nghiệp thông minh đã được triển khai ở nhiều địa phương. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đến năm 2023, Việt Nam có hơn 70 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hàng nghìn mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, góp phần nâng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân khoảng 2,8 - 3%/năm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2023). Điều này cho thấy khoa học và công nghệ đang từng bước làm thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống, thúc đẩy quá trình chuyển từ sản xuất dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sang sản xuất dựa trên tri thức, dữ liệu và công nghệ.
Trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học và công nghệ góp phần hiện đại hóa tư liệu lao động, nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Việc ứng dụng tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, robot công nghiệp và các hệ thống quản trị sản xuất hiện đại đã giúp nhiều doanh nghiệp nâng cao năng suất, giảm chi phí, cải thiện chất lượng sản phẩm và tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO, 2023), Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2023 xếp thứ 46/132 quốc gia, tăng đáng kể so với vị trí thứ 76 năm 2012. Kết quả này cho thấy năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã có sự cải thiện rõ rệt trong hơn một thập kỷ qua.
Bên cạnh đó, khoa học và công nghệ cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của kinh tế số. Theo báo cáo của Google, Temasek và Bain và Company (2023), quy mô kinh tế số của Việt Nam năm 2023 đạt khoảng 30 tỷ USD, tăng khoảng 19% so với năm 2022 và được dự báo có thể đạt 45 tỷ USD vào năm 2025. Sự phát triển của thương mại điện tử, công nghệ tài chính, nền tảng số và dịch vụ công nghệ thông tin đã tạo ra những ngành nghề mới, góp phần thúc đẩy sự hình thành các lực lượng sản xuất mới dựa trên tri thức và công nghệ.
Ngoài ra, hệ thống thể chế và chính sách về khoa học và công nghệ ngày càng được hoàn thiện. Nhà nước đã ban hành nhiều chương trình và chiến lược nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đến năm 2024, Việt Nam có hơn 4.000 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, cùng với nhiều trung tâm đổi mới sáng tạo và khu công nghệ cao đang hoạt động hiệu quả (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024).
Có thể thấy, khoa học và công nghệ đã và đang trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam. Vai trò đó thể hiện không chỉ ở việc nâng cao năng suất lao động, mà còn ở khả năng đổi mới công cụ lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hình thành ngành nghề mới và thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Những hạn chế chủ yếu
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy vai trò của khoa học và công nghệ đối với phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế.
Trình độ công nghệ của nhiều doanh nghiệp vẫn còn ở mức trung bình hoặc thấp. Theo khảo sát của Bộ Khoa học và Công nghệ (2024), khoảng 70-75% doanh nghiệp Việt Nam đang sử dụng công nghệ ở mức trung bình, trong khi chỉ khoảng 10-15% doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến. Phần lớn doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu từ nước ngoài, khả năng tự nghiên cứu và phát triển công nghệ còn hạn chế.
Mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) còn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Theo số liệu của World Bank (2023), tỷ lệ chi cho R&D của Việt Nam chỉ khoảng 0,5-0,6% GDP, trong khi con số này ở Hàn Quốc là trên 4% GDP và ở Singapore khoảng 2% GDP. Điều này cho thấy nguồn lực dành cho khoa học và công nghệ ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng đổi mới công nghệ và phát triển lực lượng sản xuất.
Chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ của Việt Nam năm 2023 đạt khoảng 27%, trong khi nhu cầu về lao động có kỹ năng, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, ngày càng gia tăng (Tổng cục Thống kê, 2024). Sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở thành rào cản đối với quá trình phát triển lực lượng sản xuất hiện đại.
Mối liên kết giữa các chủ thể trong hệ thống khoa học và công nghệ chưa thực sự hiệu quả. Tỷ lệ thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học còn thấp, nhiều đề tài nghiên cứu chưa gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường. Theo một số báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, tỷ lệ kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất vẫn còn hạn chế.
GIẢI PHÁP
Để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất trong giai đoạn tới, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính chiến lược, tập trung vào hoàn thiện thể chế, đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường liên kết và đẩy mạnh chuyển đổi số.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển khoa học và công nghệ
Nhà nước cần xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ nhằm khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, cần cải cách cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng minh bạch, hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động đổi mới sáng tạo. Việc phát triển thị trường khoa học và công nghệ cũng cần được chú trọng nhằm thúc đẩy quá trình thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và tạo động lực cho hoạt động sáng tạo.
Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ
Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận các công nghệ tiên tiến và nâng cao năng lực công nghệ. Các chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ, quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp cần được triển khai hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy sự phát triển của các khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo và các vườn ươm công nghệ nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ mới.
Chú trọng phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế tri thức. Do đó, hệ thống giáo dục và đào tạo cần được đổi mới theo hướng gắn với nhu cầu của thị trường lao động và xu hướng phát triển của khoa học công nghệ hiện đại. Cần tăng cường đào tạo các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo nghề để đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Bên cạnh đó, cần xây dựng các chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, tạo điều kiện để đội ngũ trí thức và nhà khoa học phát huy năng lực sáng tạo.
Tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong hệ thống đổi mới sáng tạo
Việc xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học sẽ giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Mô hình liên kết “viện - trường - doanh nghiệp” cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn. Đồng thời, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
Thông qua hợp tác quốc tế, Việt Nam có thể tiếp cận công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu của đội ngũ khoa học trong nước. Việc tham gia các mạng lưới nghiên cứu quốc tế, chương trình hợp tác song phương và đa phương, dự án chuyển giao công nghệ và chuỗi đổi mới sáng tạo toàn cầu sẽ góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia. Tuy nhiên, hợp tác quốc tế cần gắn với mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, tránh phụ thuộc thụ động vào công nghệ nhập khẩu.
Thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số trong toàn bộ nền kinh tế
Chuyển đổi số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực mà còn tạo ra những mô hình sản xuất và kinh doanh mới dựa trên nền tảng công nghệ. Việc xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số sẽ tạo điều kiện thuận lợi để khoa học và công nghệ phát huy vai trò trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Đồng thời, cần hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong việc ứng dụng các công nghệ số nhằm nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
KẾT LUẬN
Khoa học và công nghệ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhất là trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khi tri thức, dữ liệu và công nghệ trở thành nguồn lực then chốt của nền kinh tế. Ở Việt Nam, khoa học và công nghệ đã góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới công nghệ và hình thành các mô hình kinh tế mới. Tuy nhiên, quá trình phát huy vai trò này vẫn còn hạn chế về trình độ công nghệ, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng nguồn nhân lực và liên kết giữa các chủ thể trong hệ thống khoa học - công nghệ.
Trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường liên kết và mở rộng hợp tác quốc tế. Đây là cơ sở quan trọng để khoa học và công nghệ trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024). Báo cáo khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2023). Báo cáo phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam.
3. Google, Temasek, & Bain & Company (2023). e-Conomy SEA Report 2023.
4. Tổng cục Thống kê (2024). Niên giám thống kê Việt Nam 2023. Nxb Thống kê.
5. World Bank (2023). Research and Development Expenditure (% of GDP).
6. WIPO (2023). Global Innovation Index 2023.
|
Ngày nhận bài: 12/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/5/2026; Ngày duyệt đăng: 14/5/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam
Năng lực hạ tầng logistics nông nghiệp tại TP. Huế: Thực trạng và cơ hội trong bối cảnh mới
Chuyển đổi số và việc làm phi chính thức ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024
Vai trò của IMF và World Bank đối với các quốc gia đang phát triển: Bài học từ quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024
Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh