Giải pháp phát triển sản phẩm OCOP 3 sao tại tỉnh An Giang
Ngô Ngọc Chuẩn
Học viên cao học, Trường Đại học Cửu Long
TS. Phan Văn Phùng (Tác giả liên hệ)
Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cửu Long
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích thực trạng phát triển sản phẩm OCOP 3 sao tại tỉnh An Giang thông qua phương pháp phân tích định tính, kết hợp tổng hợp tài liệu thứ cấp từ các báo cáo của cơ quan quản lý nhà nước và khảo sát 100 chủ thể kinh tế trên địa bàn. Kết quả cho thấy, mặc dù Tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực về số lượng sản phẩm OCOP 3 sao và mức độ tham gia của các chủ thể kinh tế, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế về chất lượng, bao bì, thị trường tiêu thụ, liên kết chuỗi giá trị và năng lực quản trị của các chủ thể OCOP. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số nhóm giải pháp trọng tâm nhằm phát triển sản phẩm OCOP, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn bền vững trên địa bàn.
Từ khóa: OCOP, sản phẩm OCOP 3 sao, phát triển nông thôn, An Giang
Summary
This study analyzes the current status of 3-star OCOP product development in An Giang Province using a qualitative research approach, combined with a synthesis of secondary data from reports of state management agencies and a survey of 100 economic entities in the province. The results show that although the province has achieved positive outcomes in terms of the number of 3-star OCOP products and the level of participation by economic entities, there remain limitations in product quality, packaging, market access, value chain linkages, and the managerial capacity of OCOP stakeholders. On that basis, the study proposes several key groups of solutions to promote the development of OCOP products, thereby contributing to sustainable rural economic development in the province.
Keywords: OCOP, 3-star OCOP products, rural development, An Giang
GIỚI THIỆU
Trong tiến trình xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu ngành nông nghiệp, việc phát triển kinh tế nông thôn theo hướng khai thác lợi thế địa phương, gia tăng giá trị sản phẩm và nâng cao thu nhập cho người dân đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các địa phương trên cả nước. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) được được phê duyệt theo Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 7/5/2018 và Quyết định số 919/QĐ-TTg ngày 1/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ, là giải pháp chiến lược nhằm nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn dựa trên nội lực, nguồn tài nguyên bản địa và sự tham gia chủ động của người dân.
Tỉnh An Giang là địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi để triển khai Chương trình OCOP, với thế mạnh về nông nghiệp, thủy sản, làng nghề truyền thống và sự đa dạng văn hóa của các cộng đồng Kinh, Khmer, Chăm, Hoa... Trong những năm qua, Chương trình OCOP tại địa phương đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tính đến tháng 6/2025, toàn Tỉnh có 218 sản phẩm được công nhận từ 3 sao trở lên, trong đó 198 sản phẩm 3 sao. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nhiều sản phẩm OCOP 3 sao tại An Giang vẫn còn phát triển theo chiều rộng, chất lượng và giá trị gia tăng chưa cao, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, khả năng nâng hạng còn hạn chế. Điều này đặt ra yêu cầu cần có những nghiên cứu chuyên sâu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp để phát triển nhóm sản phẩm OCOP 3 sao theo hướng bền vững.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh phát triển kinh tế nông thôn, các nghiên cứu trong nước về OCOP đã hình thành một hệ thống lý luận khá phong phú, tập trung chủ yếu vào phát triển sản phẩm gắn với chuỗi giá trị, du lịch và văn hóa. Nguyễn Văn Tâm (2023) đề xuất giải pháp phát triển OCOP gắn du lịch sinh thái tại tỉnh Bến Tre, nhấn mạnh xây dựng thương hiệu và công nghệ số. Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà (2022) phân tích chuỗi giá trị nông sản tại tỉnh Hậu Giang, đề xuất cải tiến quy trình sản xuất và kết nối thương mại điện tử. Khía cạnh văn hóa cũng được chú trọng trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Phượng (2021) về bảo tồn văn hóa Khmer tại tỉnh Trà Vinh thông qua OCOP, hay hướng tiếp cận kinh tế xanh ở vùng Tứ giác Long Xuyên của Phạm Văn Hùng (2023). Bên cạnh đó, nghiên cứu ứng dụng công nghệ số vào phát triển sản phẩm OCOP tại TP. Cần Thơ của Lê Văn Bình (2021) và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm OCOP tại tỉnh Kiên Giang của Nguyễn Thanh Tùng (2022), đã cung cấp những góc nhìn đa chiều về phát triển sản phẩm OCOP tại khu vực Đông bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, phần lớn các công trình này chưa đi sâu phân tích đặc thù của nhóm sản phẩm OCOP 3 sao tại địa bàn tỉnh An Giang.
Song song với dòng chảy nghiên cứu trong nước, các mô hình quốc tế cũng mang lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho địa phương. Mô hình OVOP (Mỗi làng một sản phẩm) tại Nhật Bản qua nghiên cứu của Kurokawa và cộng sự (2010) đã khẳng định vai trò then chốt của liên kết cộng đồng và hệ thống chính sách hỗ trợ. Tại Thái Lan, Natenapha Wailerdsak (2009) nhấn mạnh hiệu quả của công tác đào tạo và xúc tiến thương mại trong mô hình OTOP, trong khi Kim và Lee (2015) chỉ ra sự thành công của Hàn Quốc khi kết hợp chặt chẽ giữa sản phẩm địa phương với du lịch và công nghệ cao.
Mặc dù các nghiên cứu trên đã đề cập đến những giải pháp phát triển sản phẩm OCOP tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng chưa có nghiên cứu nào tập trung chuyên sâu vào sản phẩm OCOP 3 sao tại tỉnh An Giang. Các tài liệu cũng chưa đề cập đầy đủ đến việc tích hợp công nghệ số sáng tạo như: trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo, hoặc liên kết văn hóa Khmer, Chăm vào chiến lược nâng cấp sản phẩm OCOP 3 sao. Ngoài ra, việc xây dựng chuỗi giá trị xanh gắn với du lịch bền vững tại An Giang vẫn còn thiếu các nghiên cứu cụ thể.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp định tính với 3 nội dung chính nhằm đảm bảo tính toàn diện và thực tiễn. Trước hết, nhóm tác giả phân tích nội dung và phân tích chủ đề từ phiếu khảo sát 100 chủ thể OCOP trên địa bàn tỉnh An Giang (gồm: hộ kinh doanh, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp lớn) để xác định thực trạng và giải pháp khả thi. Tiếp đến, nghiên cứu tiến hành tổng hợp số liệu từ báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới tỉnh An Giang, bao gồm: số lượng sản phẩm OCOP 3 sao, doanh thu, thị trường tiêu thụ từ năm 2018 đến tháng 6/2025. Các số liệu này giúp đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm OCOP 3 sao và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị sản phẩm. Cuối cùng, thông qua việc so sánh hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh của sản phẩm OCOP An Giang với các tỉnh lân cận, nghiên cứu rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, làm cơ sở để đề xuất lộ trình nâng cấp sản phẩm phù hợp với đặc thù địa phương. Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM OCOP 3 SAO TẠI TỈNH AN GIANG
Để có đánh giá thực trạng về Chương trình OCOP tại tỉnh An Giang, nhóm tác giả tiến hành khảo sát 100 chủ thể kinh tế có sản phẩm OCOP 3 sao về các tiêu chí: Chất lượng sản phẩm, Xây dưng thương hiệu và marketing, Chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ, Hỗ trợ và năng lực của chủ thể sản xuất.
Về chất lượng sản phẩm OCOP 3 sao
Bảng 1: Chất lượng sản phẩm OCOP 3 sao
|
Ký hiệu biến |
Nội dung khảo sát |
GTNN |
GTLN |
GTTB |
Độ lệch chuẩn |
Ý nghĩa |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
TCAT |
Sản phẩm OCOP 3 sao đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm (VietGAP, HACCP). |
3 |
5 |
4.07 |
0.671 |
Đồng ý |
|
NGSP |
Nguyên liệu sản xuất sản phẩm OCOP 3 sao có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo chất lượng cao. |
2 |
5 |
4.35 |
0.770 |
Đồng ý |
|
QTSX |
Quy trình sản xuất sản phẩm OCOP 3 sao được chuẩn hóa và giữ được tính đặc trưng văn hóa. |
3 |
5 |
4.31 |
0.692 |
Đồng ý |
|
BBHD |
Bao bì sản phẩm OCOP 3 sao hấp dẫn, thân thiện với môi trường và phù hợp với thị trường hiện đại. |
2 |
5 |
3.89 |
0.665 |
Đồng ý |
|
KNTH |
Sản phẩm OCOP 3 sao có khả năng nâng cấp lên hạng 4 sao hoặc 5 sao. |
3 |
5 |
3.92 |
0.614 |
Đồng ý |
* Ghi chú: GTLN (Giá trị lớn nhất), GTNN (Giá trị nhỏ nhất). GTTB (Giá trị trung bình)
Nguồn: Kết quả khảo sát, 2025
Kết quả Bảng 1 cho thấy, các sản phẩm OCOP 3 sao tại tỉnh An Giang được đánh giá khá tốt về chất lượng nguyên liệu (GTTB = 4.35), quy trình sản xuất và an toàn thực phẩm (GTTB = 4.31), đây là những yếu tố cốt lõi quyết định giá trị sản phẩm. Bao bì và hình thức sản phẩm tuy đã được cải thiện (GTTB = 3.89) nhưng vẫn là yếu tố hạn chế tương đối, cần tiếp tục đầu tư để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường hiện đại. Khả năng nâng cấp sản phẩm OCOP 3 sao được đánh giá tích cực, song chưa thực sự vượt trội, cho thấy cần có các giải pháp hỗ trợ đồng bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng đến nâng hạng sản phẩm trong thời gian tới.
Về xây dựng thương hiệu và marketing
Bảng 2: Xây dựng thương hiệu và marketing
|
Ký hiệu biến |
Nội dung khảo sát |
GTNN |
GTLN |
GTTB |
Độ lệch chuẩn |
Ý nghĩa |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
VHTT |
Sản phẩm OCOP 3 sao được xây dựng thương hiệu gắn với văn hóa địa phương (Kinh, Khmer, Chăm, Hoa). |
3 |
5 |
4.10 |
0.704 |
Đồng ý |
|
HĐMK |
Các hoạt động marketing (quảng bá, hội chợ) cho sản phẩm OCOP 3 sao được triển khai hiệu quả. |
3 |
5 |
4.18 |
0.672 |
Đồng ý |
|
BHON |
Sản phẩm OCOP 3 sao được quảng bá rộng rãi trên các nền tảng thương mại điện tử (Postmart.vn, Shopee, TikTok…). |
2 |
5 |
3.73 |
0.763 |
Đồng ý |
|
CCSP |
Câu chuyện sản phẩm OCOP 3 sao được truyền tải rõ ràng đến người tiêu dùng. |
3 |
5 |
4.07 |
0.685 |
Đồng ý |
|
NDTH |
Thương hiệu sản phẩm OCOP 3 sao được người tiêu dùng trong tỉnh nhận diện tốt. |
3 |
5 |
3.95 |
0.716 |
Đồng ý |
Nguồn: Kết quả khảo sát, 2025
Kết quả Bảng 2 cho thấy, hoạt động xây dựng thương hiệu gắn với văn hóa địa phương (GTTB = 4.10) và tổ chức marketing truyền thống cho sản phẩm OCOP 3 sao (GTTB = 4.18) tại An Giang được đánh giá khá tốt và có hiệu quả bước đầu. Thương mại điện tử và quảng bá số vẫn là điểm còn hạn chế, chưa được khai thác đồng đều giữa các chủ thể OCOP (GTTB = 3.73). Việc truyền tải câu chuyện sản phẩm đã được chú trọng (GTTB = 4.07), góp phần nâng cao giá trị thương hiệu, tuy nhiên, mức độ nhận diện chung của người tiêu dùng trong Tỉnh vẫn cần tiếp tục được củng cố.
Về chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ
Bảng 3: Chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ
|
Ký hiệu biến |
Nội dung khảo sát |
GTNN |
GTLN |
GTTB |
Độ lệch chuẩn |
Ý nghĩa |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
LKSX |
Sản phẩm OCOP 3 sao được liên kết chặt chẽ từ sản xuất, chế biến đến phân phối. |
3 |
5 |
4.10 |
0.659 |
Đồng ý |
|
PPHQ |
Sản phẩm OCOP 3 sao được phân phối hiệu quả qua các kênh siêu thị, cửa hàng tiện lợi. |
2 |
5 |
3.46 |
0.744 |
Trung hòa |
|
TCTT |
Sản phẩm OCOP 3 sao có khả năng tiếp cận thị trường lớn ngoài tỉnh (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh…). |
2 |
5 |
3.67 |
0.779 |
Đồng ý |
|
DLNN |
Sản phẩm OCOP 3 sao được gắn với các hoạt động du lịch nông thôn để tăng giá trị. |
2 |
5 |
3.85 |
0.730 |
Đồng ý |
|
TCXK |
Sản phẩm OCOP 3 sao đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu ra thị trường quốc tế. |
1 |
5 |
2.81 |
0.873 |
Trung hòa |
Nguồn: Kết quả khảo sát, 2025
Từ các kết quả phân tích ở Bảng 3, có thể rút ra một số nhận xét chính sau: Sản phẩm OCOP 3 sao tại An Giang đã bước đầu hình thành liên kết chuỗi giá trị (GTTB = 4.10) và có khả năng mở rộng thị trường ngoài tỉnh (GTTB = 3.67). Tuy nhiên, hiệu quả phân phối qua kênh hiện đại và khả năng xuất khẩu vẫn còn nhiều hạn chế (GTTB = 2.81), thấp nhất toàn bộ khảo sát, cho thấy chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển ở quy mô lớn. Việc gắn sản phẩm OCOP với du lịch nông thôn được đánh giá khá tích cực (GTTB = 3.85) và là hướng đi tiềm năng nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm.
Về hỗ trợ và năng lực của chủ thể sản xuất
Bảng 4: Hỗ trợ và năng lực của chủ thể sản xuất
|
Ký hiệu biến |
Nội dung khảo sát |
GTNN |
GTLN |
GTTB |
Độ lệch chuẩn |
Ý nghĩa |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
ĐTKN |
Các chủ thể sản xuất OCOP 3 sao được đào tạo đầy đủ về kỹ năng quản lý và tiếp thị. |
2 |
5 |
4.15 |
0.672 |
Đồng ý |
|
VVCN |
Chủ thể sản xuất OCOP 3 sao được hỗ trợ vốn và công nghệ từ chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước. |
3 |
5 |
4.31 |
0.563 |
Đồng ý |
|
ƯDSH |
Chủ thể sản xuất OCOP 3 sao có khả năng ứng dụng công nghệ số trong sản xuất và bán hàng. |
3 |
5 |
4.14 |
0.711 |
Đồng ý |
|
CSHT |
Các chính sách hỗ trợ chương trình OCOP của tỉnh An Giang được triển khai hiệu quả. |
3 |
5 |
4.43 |
0.573 |
Đồng ý |
|
NCSP |
Chủ thể sản xuất OCOP 3 sao có kế hoạch nâng cấp sản phẩm lên hạng cao hơn. |
3 |
5 |
4.15 |
0.657 |
Đồng ý |
Nguồn: Kết quả khảo sát, 2025
Bảng 4 cho thấy, năng lực của các chủ thể OCOP 3 sao tại An Giang được đánh giá khá tốt, đặc biệt về kỹ năng quản lý, tiếp thị và khả năng ứng dụng công nghệ số với GTTB từ 4.14-4.15. Vai trò hỗ trợ của chính quyền địa phương được đánh giá rất cao, thể hiện qua hiệu quả triển khai chính sách, hỗ trợ vốn và chuyển giao công nghệ (GTTB từ 4.31- 4.43). Các chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương được đánh giá rất cao, thể hiện qua hiệu quả triển khai chính sách, hỗ trợ vốn và chuyển giao công nghệc (GTTB = 4.15).
ĐÁNH GIÁ CHUNG
Kết quả đạt được
Tính đến tháng 6/2025, toàn tỉnh An Giang đã thực hiện công tác đánh giá, phân hạng 218 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó có 198 sản phẩm 3 sao, 14 sản phẩm 4 sao, 5 sản phẩm 5 sao và 1 sản phẩm tiềm năng 5 sao. Các sản phẩm OCOP 3 sao chủ yếu thuộc nhóm thực phẩm và nông sản chế biến như: mắm, đồ khô, gạo, đường thốt nốt, cùng một số sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống.
Việc tham gia Chương trình OCOP đã góp phần nâng cao nhận thức của các chủ thể sản xuất về tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm và xây dựng thương hiệu. Nhiều sản phẩm đã từng bước được chuẩn hóa về quy trình sản xuất, hoàn thiện hồ sơ pháp lý và cải tiến bao bì so với giai đoạn trước khi tham gia OCOP.
Chương trình OCOP tạo động lực thúc đẩy hình thành và phát triển các mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ ở khu vực nông thôn, góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Một số tồn tại, hạn chế
Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, song việc phát triển sản phẩm OCOP 3 sao tại An Giang vẫn còn nhiều hạn chế.
Trước hết, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, phần lớn mới đáp ứng tiêu chuẩn tiêu thụ trong phạm vi địa phương, khả năng cạnh tranh trên thị trường rộng lớn còn hạn chế.
Bao bì, nhãn mác và thiết kế sản phẩm còn đơn giản, thiếu tính chuyên nghiệp và chưa thể hiện rõ bản sắc địa phương. Đầu ra sản phẩm chủ yếu thông qua kênh truyền thống; liên kết với hệ thống phân phối hiện đại, du lịch và xuất khẩu còn yếu.
Liên kết chuỗi giá trị chưa bền vững; năng lực quản trị, marketing và ứng dụng công nghệ số của nhiều chủ thể OCOP còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển sản phẩm.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM OCOP 3 SAO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
Để phát triển sản phẩm OCOP 3 sao theo hướng bền vững, trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách chuẩn hoá quy trình sản xuất theo các tiêu chuẩn tiên tiến như: VietGAP, GlobalGAP, ISO, HACCP. Việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng này là giải pháp nền tảng nhằm nâng cao chất lượng và bảo đảm an toàn thực phẩm cho sản phẩm OCOP 3 sao của tỉnh An Giang.
Hai là, thiết kế bao bì chuyên nghiệp, hấp dẫn và thân thiện môi trường. Bao bì và nhãn mác đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao giá trị thương mại của sản phẩm OCOP 3 sao. Việc thiết kế bao bì cần hướng đến tính chuyên nghiệp, hiện đại, thân thiện với môi trường và phù hợp với xu hướng tiêu dùng xanh.
Ba là, đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử và công nghệ số. Đây là giải pháp quan trọng để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm OCOP 3 sao. Các chủ thể OCOP cần được hỗ trợ để làm chủ công nghệ, tham gia mạnh mẽ vào các sàn thương mại điện tử và khai thác hiệu quả sức mạnh của mạng xã hội để mở rộng kênh phân phối, giảm bớt sự phụ thuộc vào kênh phân phối truyền thống.
Bốn là, xây dựng thương hiệu gắn với câu chuyện văn hóa địa phương. Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm OCOP 3 sao cần gắn với câu chuyện văn hóa, lịch sử và giá trị bản địa của tỉnh An Giang. Việc kể câu chuyện sản phẩm giúp gia tăng giá trị cảm xúc và tạo sự khác biệt so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường.
Năm là, đào tạo kỹ năng quản lý và marketing cho chủ thể OCOP. Đây là giải pháp mang tính lâu dài và bền vững, giúp các chủ thể OCOP chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP 3 sao.
Sáu là, tăng cường liên kết chuỗi giá trị sản phẩm OCOP. Liên kết chuỗi giá trị là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sản phẩm OCOP 3 sao tại An Giang. Việc liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và hệ thống phân phối giúp ổn định vùng nguyên liệu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Bảy là, gắn phát triển sản phẩm OCOP với du lịch nông thôn. Thông qua việc đưa sản phẩm OCOP vào các điểm du lịch, làng nghề, trải nghiệm văn hóa, sản phẩm không chỉ được tiêu thụ tại chỗ mà còn góp phần quảng bá hình ảnh địa phương.
Tám là, tăng cường vai trò hỗ trợ của Nhà nước và chính quyền địa phương. Vai trò kiến tạo của Nhà nước và chính quyền địa phương có ý nghĩa quyết định trong phát triển sản phẩm OCOP 3 sao. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ về vốn, khoa học - công nghệ, xúc tiến thương mại và đào tạo nguồn nhân lực.
Tài liệu tham khảo:
1. Kim, Y., & Lee, J. (2015). Rural Revitalization through the One Village One Product Approach: Lessons from South Korea.
2. Kurokawa, K., Tembo, F., & Velde, D. W. (2010). The One Village One Product (OVOP) Movement: A Model for Rural Development in Japan.
3. Lê Văn Bình (2021). Ứng dụng công nghệ số trong xúc tiến thương mại sản phẩm OCOP tại TP. Cần Thơ, Tạp chí Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Đại học Thái Nguyên, số 17.
4. Natenapha Wailerdsak (2009). OTOP Program and Its Impact on Rural Economic Development in Thailand.
5. Nguyễn Thị Hồng Phượng (2021). Phát triển sản phẩm OCOP gắn với bảo tồn văn hóa Khmer tại tỉnh Trà Vinh, Tạp chí Công Thương, số 25.
6. Nguyễn Văn Tâm (2023). Giải pháp phát triển sản phẩm OCOP gắn với du lịch sinh thái tại tỉnh Bến Tre, Tạp chí Khoa học và Phát triển Nông thôn Việt Nam, số 9.
7. Nguyễn Thanh Tùng (2022). Nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm OCOP tại tỉnh Kiên Giang, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp, số 4.
8. Phạm Văn Hùng (2023). Phát triển sản phẩm OCOP gắn với kinh tế xanh tại vùng Tứ giác Long Xuyên, Tạp chí Môi trường, số 10.
9. Thủ tướng Chính phủ (2018). Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 7/5/2018 phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020.
10. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 919/QĐ-TTg ngày 1/8/2022 phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2021-2025.
11. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 24/2/2023 ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình mỗi xã một sản phẩm.
12. Trần Thị Thu Hà (2022). Phát triển sản phẩm OCOP thông qua chuỗi giá trị nông sản tại tỉnh Hậu Giang, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 58.
| Ngày nhận bài: 27/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/1/2026; Ngày duyệt đăng: 26/1/2026 |
Các tin khác
Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi
Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư
Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam
Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro
Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam
Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang
Tác động của quản trị nguồn nhân lực xanh đến hành vi xanh tự nguyện của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam