Chi tiêu công hướng tới phát triển nông thôn bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu
Hà Thị Đoan Trang
Khoa Tài chính công, Học viện Tài chính
Email: [email protected]
Tóm tắt
Bài viết phân tích vai trò của chi tiêu công đối với phát triển nông thôn bền vững và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam giai đoạn 2016-2024. Trên cơ sở các chiến lược quốc gia về nông nghiệp, tăng trưởng xanh và biến đổi khí hậu, nghiên cứu đánh giá quy mô, cơ cấu và hiệu quả chi tiêu thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia và đầu tư hạ tầng nông thôn. Kết quả cho thấy chi tiêu công đã góp phần cải thiện hạ tầng, sinh kế và dịch vụ công; tuy nhiên, vẫn còn hạn chế cần khắc phục. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng tái cơ cấu chi tiêu theo hướng ưu tiên thích ứng khí hậu, nâng cao hiệu quả đầu tư, thúc đẩy số hóa và huy động nguồn lực xã hội nhằm bảo đảm phát triển nông thôn bền vững trong giai đoạn tới.
Từ khóa:Chi tiêu công, phát triển nông thôn, biến đổi khí hậu
Summary
This paper examines the role of public expenditure in promoting sustainable rural development and climate change adaptation in Viet Nam during the period 2016-2024. Based on national strategies for agriculture, green growth, and climate change, the study assesses the scale, structure, and effectiveness of public spending through national target programs and rural infrastructure investments. The results indicate that public expenditure has contributed to improvements in infrastructure, livelihoods, and public service provision; however, several limitations remain. On this basis, the paper proposes orientations for restructuring public spending to prioritize climate adaptation, enhance investment efficiency, promote digitalization, and mobilize social resources, thereby ensuring sustainable rural development in the coming period.
Keywords: Public expenditure, rural development, climate change
ĐẶT VẤN ĐỀ
Biến đổi khí hậu đang trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với phát triển bền vững ở khu vực nông thôn Việt Nam. Các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất và cường độ gia tăng, bao gồm hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn, lũ quét và sạt lở đất. Những tác động này gây thiệt hại kinh tế lớn, ước tính vượt quá 1,2% GDP mỗi năm, đồng thời làm suy giảm năng suất lao động, tổn thương hệ sinh thái nông nghiệp và đe dọa sinh kế của phần lớn dân cư nông thôn vốn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên và hạ tầng thiết yếu.
Trong bối cảnh đó, chi tiêu công, đặc biệt là chi đầu tư công và chi thường xuyên cho nông nghiệp và phát triển nông thôn, giữ vai trò nền tảng trong việc bảo đảm hạ tầng cơ bản, duy trì các dịch vụ công và củng cố hệ thống an sinh xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cơ cấu chi hiện nay còn dàn trải, thiếu trọng tâm và chưa phản ánh đúng mức độ rủi ro khí hậu; Tỷ trọng chi dành cho thích ứng khí hậu vẫn ở mức thấp, khiến khả năng chống chịu của khu vực nông thôn chưa được cải thiện tương xứng.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, bài viết hướng tới 3 mục tiêu: Phân tích thực trạng chi tiêu công cho phát triển nông thôn Việt Nam giai đoạn 2016–2024 nhằm nhận diện xu hướng và những bất cập chủ yếu; Đánh giá mức độ đáp ứng của chi tiêu công trước các rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng; Đề xuất định hướng tái cấu trúc chi tiêu công cho giai đoạn 2025-2035 nhằm nâng cao hiệu quả, bảo đảm tính bền vững và tăng cường khả năng chống chịu của khu vực nông thôn trước biến đổi khí hậu.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Theo Musgrave và Musgrave (1989), chi tiêu công thực hiện 3 chức năng nền tảng gồm phân bổ nguồn lực, tái phân phối thu nhập và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh gia tăng rủi ro khí hậu, các chức năng này được mở rộng theo hướng hỗ trợ giảm thiểu rủi ro hệ thống, bảo vệ sinh kế cộng đồng và bảo đảm cung ứng liên tục các dịch vụ công thiết yếu. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế - OECD (2021) nhấn mạnh rằng hệ thống chi tiêu công hiện đại cần tích hợp yếu tố “đáp ứng khí hậu” trong quá trình lập kế hoạch trung hạn và phân bổ ngân sách, nhằm tăng cường khả năng chống chịu và bền vững dài hạn.
Phát triển nông thôn bền vững được xem là tiến trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với nâng cao phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường và tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng nông thôn trước các cú sốc từ kinh tế, xã hội và khí hậu. Đây là mục tiêu quan trọng trong các chương trình phát triển nông thôn của nhiều quốc gia và đòi hỏi sự hỗ trợ đáng kể từ chi tiêu công.
Chi tiêu công cho phát triển nông thôn bền vững được xem là một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển lãnh thổ, nhằm bảo đảm cung cấp dịch vụ công, hỗ trợ sinh kế và củng cố năng lực chống chịu trước các cú sốc kinh tế - xã hội - môi trường. Theo Ngân hàng Thế giới - World Bank (2022), phát triển nông thôn bền vững bao gồm việc đầu tư vào hạ tầng thiết yếu, thúc đẩy sản xuất bền vững và cải thiện khả năng chống chịu của cộng đồng trước rủi ro khí hậu. OECD (2020) cũng cho rằng chi tiêu công ở nông thôn cần hướng tới hài hòa 3 mục tiêu: tăng trưởng kinh tế địa phương, cân bằng xã hội và bảo vệ môi trường, trong đó việc phân bổ ngân sách phải tính đến đặc thù không gian và mức độ tổn thương của từng vùng.
Liên Hợp Quốc thông qua chương trình Mục tiêu Phát triển Bền vững - SDGs nhấn mạnh vai trò của chi tiêu công trong việc mở rộng hạ tầng cơ bản, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội và hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng nông thôn (UN, 2015). FAO (2018) bổ sung rằng chi tiêu công tại nông thôn không chỉ bao gồm chi cho nông nghiệp, mà còn bao trùm giáo dục, y tế, nước sạch, quản lý tài nguyên và hệ thống an sinh xã hội.
Như vậy, chi tiêu công cho phát triển nông thôn bền vững là toàn bộ các khoản chi của Nhà nước được phân bổ cho khu vực nông thôn nhằm phát triển hạ tầng, cung cấp dịch vụ công, hỗ trợ sinh kế và bảo vệ môi trường, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội, giảm nghèo và tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trong dài hạn, đặc biệt dưới tác động của biến đổi khí hậu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Khung thể chế và chính sách
Khung thể chế chi phối chi tiêu công cho phát triển nông thôn bền vững ở Việt Nam được hình thành trên nền tảng các chiến lược cấp quốc gia về nông nghiệp, nông thôn, tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Về định hướng tổng thể, Nghị quyết số 19-NQ/TW (2022) xác lập yêu cầu phát triển nông thôn bền vững và nâng cao khả năng chống chịu khí hậu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của ngân sách nhà nước trong đầu tư hạ tầng và dịch vụ công nông thôn.
Khung pháp lý về quản lý nguồn lực công được điều chỉnh bởi Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công, tạo nền tảng cho việc lập, phân bổ và giám sát vốn ngân sách, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng, phòng chống thiên tai và thích ứng khí hậu tại địa bàn nông thôn. Song song với đó, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (Quyết định 1658/QĐ-TTg, 2021) và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh (Quyết định 882/QĐ-TTg, 2022) yêu cầu cơ cấu lại chi tiêu công theo hướng xanh và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Liên quan trực tiếp đến biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg, 2022) cùng hệ thống giám sát, đánh giá thích ứng (Quyết định số 148/QĐ-TTg, 2022) đặt ra yêu cầu lồng ghép rủi ro khí hậu vào kế hoạch tài chính - ngân sách. Ở cấp chương trình, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 (Quyết định số 263/QĐ-TTg, 2022) là công cụ quan trọng định hướng chi tiêu công cho hạ tầng, môi trường, sinh kế và an sinh xã hội nông thôn, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững và chống chịu khí hậu trong giai đoạn mới.
Nhìn chung, hệ thống thể chế và chính sách hiện hành đã tạo một khung pháp lý tương đối đầy đủ để định hướng chi tiêu công cho phát triển nông thôn bền vững, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa các mục tiêu này phụ thuộc lớn vào mức độ lồng ghép rủi ro khí hậu trong lập ngân sách và hiệu quả triển khai các chương trình mục tiêu tại địa phương.
Thực trạng chi tiêu công phát triển nông thôn bền vững giai đoạn 2016-2024
Quy mô chi tiêu công
Về quy mô nguồn lực, có thể coi các Chương trình mục tiêu quốc gia là đại diện quan trọng cho chi tiêu công hướng tới phát triển nông thôn. Giai đoạn 2016-2020, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được bố trí tối thiểu 193.155,6 nghìn tỷ đồng từ ngân sách nhà nước, trong đó ngân sách trung ương 63.155,6 nghìn tỷ và ngân sách địa phương 130.000 nghìn tỷ đồng. Bình quân mỗi năm, riêng chương trình này đã sử dụng khoảng 38-39 nghìn tỷ đồng từ ngân sách, cho thấy mức ưu tiên đáng kể của Nhà nước đối với khu vực nông thôn trong giai đoạn đầu hoàn thiện hạ tầng và thể chế cơ bản.
Hình 1: Quy mô chi tiêu công cho phát triển nông thôn (2016-2024)
|
|
| Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên các báo cáo của Bộ Tài chính và Cục Thống kê |
Bước sang giai đoạn 2021–2025, quy mô chi tiêu công cho nông thôn tiếp tục được củng cố. Chính phủ dự kiến bố trí tối thiểu 196.332 nghìn tỷ đồng từ ngân sách cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và 75.000 nghìn tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, phần lớn tập trung tại địa bàn nông thôn. Nếu phân bổ đều trong cả giai đoạn, chi ngân sách cho nông thôn mới vào khoảng 39 nghìn tỷ đồng/năm và cho giảm nghèo khoảng 15 nghìn tỷ đồng/năm, tức tổng cộng xấp xỉ 54 nghìn tỷ đồng/năm cho hai chương trình trụ cột.
Đặt trong tương quan với tổng chi cân đối ngân sách nhà nước năm 2024 khoảng 2.100-2.120 nghìn tỷ đồng, quy mô chi cho xây dựng nông thôn mới bình quân mỗi năm tương đương khoảng 1,8% tổng chi NSNN, trong khi chi cho giảm nghèo bền vững chiếm khoảng 0,7%. Tính gộp hai chương trình, tỷ trọng chi tiêu công trực tiếp hướng tới phát triển nông thôn vào khoảng 2,5-2,6% tổng chi NSNN. Đây là con số không nhỏ nếu xét về giá trị tuyệt đối nhưng xét đến việc khu vực nông thôn vẫn chiếm tỷ trọng lớn về dân số và chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, tỷ lệ này cho thấy dư địa để nâng cao mức độ ưu tiên chi ngân sách cho nông thôn vẫn còn đáng kể.
Cần nhấn mạnh rằng do Việt Nam chưa công bố một chỉ tiêu thống kê riêng về “chi tiêu công cho phát triển nông thôn”, các ước tính trên mới chỉ phản ánh phần tối thiểu của chi tiêu công cho nông thôn (thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia). Vẫn còn một bộ phận đáng kể chi ngân sách cho hạ tầng, giáo dục, y tế, môi trường… tại địa bàn nông thôn được bố trí trong dự toán và quyết toán của các ngành dọc và chưa được tách riêng trong số liệu công khai. Điều này vừa cho thấy quy mô chi thực tế có thể cao hơn các con số ước tính, vừa đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống thống kê chi tiêu công theo không gian lãnh thổ để phục vụ tốt hơn cho việc hoạch định chính sách phát triển nông thôn bền vững.
Cơ cấu chi tiêu công
Cơ cấu chi tiêu công cho nông nghiệp – nông thôn giai đoạn 2016–2024 cho thấy sự dịch chuyển chậm và chưa đủ mạnh theo hướng ưu tiên các nhiệm vụ thích ứng với biến đổi khí hậu. Các tỷ trọng chi chủ yếu vẫn phản ánh mô hình phân bổ truyền thống, trong đó chi đầu tư cơ bản và chi thường xuyên chiếm ưu thế tương đối.
Thứ nhất, trong giai đoạn 2016-2024, tỷ trọng chi đầu tư công trong tổng chi cho nông nghiệp – nông thôn được ước tính duy trì quanh mức khoảng 60-65%, trong khi chi thường xuyên ở mức khoảng 35-40% và có xu hướng nhích lên theo thời gian (Tác giả tính toán trên cơ sở tổng hợp một số báo cáo quyết toán NSNN của Bộ Tài chính và báo cáo ngành của Bộ NN&PTNT). Điều này phản ánh sự dịch chuyển tương đối của cơ cấu chi từ đầu tư phát triển sang duy trì bộ máy, cung ứng dịch vụ công và các khoản chi thường xuyên khác; áp lực chi thường xuyên gia tăng trong khi dư địa cho đầu tư phát triển ở khu vực nông nghiệp - nông thôn không được mở rộng tương xứng.
Thứ hai, chi tiêu ngân sách gắn với thích ứng biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn chỉ chiếm tỷ trọng ước khoảng 10 - 15% tổng chi của khu vực này và dao động nhẹ giữa các năm, chưa thể hiện xu hướng tăng bền vững. Kết quả này phù hợp với các đánh giá quốc tế cho thấy phần lớn ngân sách khí hậu của Việt Nam dành cho thích ứng, song quy mô tuyệt đối vẫn còn khiêm tốn so với mức độ rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng ở nông thôn.
Thứ ba, chi tiêu công cho nông nghiệp - nông thôn vẫn thiên về đáp ứng nhu cầu truyền thống (đầu tư cơ bản, chi thường xuyên) hơn là chuyển dịch mạnh sang “chi tiêu công chống chịu khí hậu”. Điều này củng cố lập luận rằng tái cấu trúc chi tiêu công là cần thiết, nhằm tăng tỷ trọng nguồn lực dành cho các hoạt động nâng cao khả năng chống chịu, thích ứng khí hậu và bảo vệ sinh kế nông thôn trong dài hạn.
Những biến động tỷ trọng còn hạn chế này chỉ ra rằng việc tái cấu trúc chi tiêu công là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường nguồn lực cho khả năng chống chịu khí hậu trong khu vực nông thôn. Định hướng này không chỉ phù hợp với bối cảnh rủi ro khí hậu gia tăng mà còn bảo đảm phát triển bền vững cho sinh kế nông thôn trong dài hạn.
Đánh giá hiệu quả và tính bền vững
Chi tiêu công giai đoạn 2016–2024 đã góp phần cải thiện đáng kể hạ tầng và sinh kế nông thôn. Một số nghiên cứu trường hợp cũng cho thấy hơn 45% hộ tham gia Chương trình Nông thôn mới tăng thu nhập và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội (Nguyen & Le, 2023).
Chi tiêu công đồng thời giữ vai trò chất xúc tác quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội: tổng vốn phát triển nông thôn đạt 2,8 triệu tỷ đồng, trong đó 72,9% là tín dụng, còn 9,4% đến từ doanh nghiệp và cộng đồng (MARD, 2024). Bối cảnh rủi ro khí hậu gia tăng cũng thúc đẩy ưu tiên ngân sách: năm 2023, Chính phủ bổ sung khoảng 4.000 tỷ đồng cho các dự án chống sạt lở tại Đồng bằng sông Cửu Long (VietnamNet, 2023).
Hệ thống an sinh xã hội được mở rộng, với 2,7 triệu người cao tuổi hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH, trong tổng 10,3 triệu người cao tuổi ở nông thôn (MOLISA & VSS, 2024). Tỷ lệ lao động tham gia BHXH (bắt buộc và tự nguyện) đạt 42,7% năm 2024, phản ánh xu hướng tăng bao phủ an sinh ở khu vực nông thôn (ILO, 2024). Ngoài ra, tỷ lệ tiếp cận điện gần 100% và tiếp cận nước sạch cải thiện đáng kể, góp phần nâng cao vốn con người và khả năng chống chịu (World Bank, 2024).
Những hạn chế tồn tại
Thứ nhất, cơ chế phân bổ ngân sách còn mang tính bình quân, chưa dựa trên mức độ tổn thương khí hậu. Nhiều địa phương chịu rủi ro cao như ĐBSCL hay miền núi phía Bắc vẫn nhận phân bổ chủ yếu theo dân số và định mức truyền thống, thay vì theo chỉ số rủi ro khí hậu. Điều này dẫn tới tình trạng nguồn lực không tập trung đúng trọng điểm, làm giảm hiệu quả đầu tư và chậm nâng cao khả năng chống chịu.
Thứ hai, tiến độ giải ngân đầu tư công chưa ổn định, hạn chế tác động lan tỏa của chính sách. Nhiều dự án hạ tầng thiết yếu ở nông thôn chậm tiến độ do vướng thủ tục, năng lực lập - quản lý dự án hạn chế và thiếu mặt bằng. Việc giải ngân chậm không chỉ làm tăng chi phí đầu tư mà còn kéo dài thời gian người dân tiếp cận các công trình chống chịu khí hậu và dịch vụ công cơ bản.
Thứ ba, hạ tầng nông thôn vẫn lạc hậu và thiếu tích hợp công nghệ số. Nhiều tuyến đường, hệ thống thủy lợi, cấp nước và công trình phòng chống thiên tai chưa đáp ứng yêu cầu ứng phó thời tiết cực đoan. Việc thiếu đầu tư vào các hệ thống cảnh báo sớm, giám sát môi trường, bản đồ số rủi ro khiến khả năng dự báo - ứng phó của địa phương còn thấp, trái với khuyến nghị của OECD về “số hóa hạ tầng nông thôn để tăng khả năng chống chịu khí hậu”.
Thứ tư, chi tiêu cho thích ứng khí hậu còn thấp so với quy mô rủi ro. Mặc dù thiên tai gây thiệt hại tương đương 1,2% GDP/năm, chi thích ứng mới chiếm khoảng 10 - 15% chi nông nghiệp - nông thôn. Mức đầu tư hạn chế này khiến nhiều địa phương thiếu nguồn lực để hoàn thiện đê điều, hồ chứa, công trình chống sạt lở hoặc triển khai các mô hình sinh kế thích ứng khí hậu.
Thứ năm, quá trình chuyển hướng từ “phục hồi sau thiên tai” sang “phòng ngừa – chống chịu” diễn ra chậm. Dù nhu cầu cấp thiết, ngân sách trung hạn vẫn nặng về đầu tư truyền thống, chưa ưu tiên đủ cho bảo hiểm nông nghiệp, nông nghiệp thông minh với khí hậu (CSA) hay hạ tầng dự báo sớm. Điều này khiến chi tiêu công chưa theo kịp tốc độ gia tăng của rủi ro khí hậu, làm giảm hiệu quả dài hạn và tính bền vững của phát triển nông thôn.
KHUYẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP
Chi tiêu công đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển nông thôn bền vững và tăng cường khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Tuy đạt được nhiều kết quả về hạ tầng, giảm nghèo và cải thiện dịch vụ công, nhưng hệ thống chi tiêu vẫn bộc lộ hạn chế về phân bổ nguồn lực, giải ngân, mức đầu tư cho thích ứng khí hậu và hiện đại hóa hạ tầng. Trong giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra là tái cấu trúc chi tiêu công theo hướng dựa trên rủi ro, tăng hiệu quả đầu tư, đẩy mạnh số hóa và ưu tiên năng lực chống chịu dài hạn cho khu vực nông thôn. Theo đó, các giải pháp đề xuất cụ thể gồm:
Một là, cải cách mạnh cơ chế phân bổ ngân sách theo rủi ro khí hậu, thay thế phân bổ bình quân bằng phân bổ dựa trên mức độ tổn thương, mật độ dân cư nông thôn và năng lực hạ tầng địa phương. Cách tiếp cận này phù hợp Nghị quyết 19-NQ/TW và Chiến lược BĐKH 2050, giúp ưu tiên nguồn lực cho các vùng chịu tác động nặng nề như ĐBSCL, duyên hải miền Trung và miền núi phía Bắc.
Hai là, nâng cao chất lượng giải ngân đầu tư công thông qua đơn giản hóa thủ tục, tăng năng lực lập – thẩm định – giám sát dự án ở cấp địa phương, và áp dụng hệ thống quản lý đầu tư công số (digital PIM). Đấu thầu qua mạng và giám sát độc lập cần được mở rộng để rút ngắn thời gian thực hiện các dự án hạ tầng nông thôn, đặc biệt các công trình thủy lợi và chống thiên tai.
Ba là, tăng tỷ trọng chi cho thích ứng khí hậu và hạ tầng chống chịu dài hạn, hướng vào các hạng mục có hiệu quả giảm rủi ro cao như đê điều, hồ chứa, thoát nước đô thị nông thôn, công trình chống sạt lở và sinh kế bền vững. Tỷ lệ chi thích ứng hiện chỉ khoảng 10–15% nên cần được điều chỉnh tương xứng với thiệt hại thiên tai khoảng 1,2% GDP mỗi năm.
Bốn là, thúc đẩy số hóa trong quản lý rủi ro và hạ tầng nông thôn thông qua hoàn thiện hệ thống quan trắc, bản đồ số rủi ro và cảnh báo sớm. Giải pháp này phù hợp Chiến lược Tăng trưởng xanh và Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, đồng thời giúp giảm đáng kể chi phí phục hồi sau thiên tai.
Năm là, mở rộng chi tiêu công cho an sinh xã hội và sinh kế thích ứng khí hậu. Cần đẩy mạnh bảo hiểm nông nghiệp, tín dụng xanh, hỗ trợ chuyển đổi cây trồng và đào tạo nghề phi nông nghiệp nhằm giảm tổn thương của hộ nông dân. Đây là định hướng bền vững trong giảm nghèo đa chiều và nâng cao khả năng chống chịu cộng đồng.
Sáu là, thúc đẩy huy động nguồn lực ngoài ngân sách theo mô hình “đòn bẩy tài chính”, gồm PPP, tín dụng xanh, quỹ khí hậu và vốn doanh nghiệp. Chi tiêu công nên đóng vai trò mồi để kích hoạt nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt trong hạ tầng môi trường, năng lượng tái tạo và hiện đại hóa nông thôn theo hướng xanh.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2024). Báo cáo đầu tư công quốc gia giai đoạn 2016–2023.
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội & Bảo hiểm xã hội Việt Nam. (2023–2024). Các báo cáo và thông tin về an sinh xã hội, người cao tuổi và bảo hiểm xã hội.
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2024). Báo cáo tổng hợp nguồn lực phát triển nông thôn năm 2024.
4. Bộ Tài chính. (2022-2024). Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước các năm.
5. FAO. (2018). The state of food and agriculture 2018: Migration, agriculture and rural development. FAO Publishing.
6. GSO - Tổng cục Thống kê. (2024). Niên giám Thống kê Việt Nam 2023. Nhà xuất bản Thống kê.
7. IFAD. (2025). Vietnam portfolio performance review 2024 - 2025. International Fund for Agricultural Development.
8. International Fund for Agricultural Development. (n.d.). IFAD’s operations in Viet Nam. https://www.ifad.org
9. ILO. (2024). Social security coverage trends in Viet Nam: 2024 update. International Labour Organization.
10. Kim, J., & Lee, H. (2020). Rural resilience and public spending in South Korea. Journal of Rural Studies, 74, 122–134.
11. Musgrave, R. A., & Musgrave, P. B. (1989). Public finance in theory and practice (5th ed.). McGraw-Hill.
12. Nguyen, T. H. Y., & Le, H. A. (2023). Policy of mobilizing financial resources for developing new countryside in Vietnam. GPH-International Journal of Business Management, 6(10), 252–268.
13. Nguyễn, Q. T., & Trần, H. N. (2021). Hiệu quả đầu tư công trong nông nghiệp Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 285, 32–40.
14. OECD. (2020). Rural well-being: Geography of opportunities. OECD Publishing.
15. OECD. (2021). Climate-resilient public investment. OECD Publishing.
16. United Nations. (2015). Transforming our world: The 2030 agenda for sustainable development. United Nations Publishing.
| Ngày nhận bài: 22/10/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/11/2025; Ngày duyệt đăng: 12/12/2025 |
Các tin khác
Chính sách du lịch cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long: Vốn xã hội và khả năng phục hồi
Hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý vận hành công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn Việt Nam
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư
Đổi mới mô hình kinh doanh trong kỷ nguyên số: Cơ hội, thách thức và hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp Việt Nam
Chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số ở Việt Nam: Tiếp cận từ quản trị dữ liệu và quản lý rủi ro
Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam
Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang
Tác động của quản trị nguồn nhân lực xanh đến hành vi xanh tự nguyện của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
