Đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến sức mạnh thị trường tại các ngân hàng thương mại Việt Nam và vai trò điều tiết của sở hữu

Nghiên cứu - Trao đổi 10:18 | 09/02/2026
Trong bối cảnh biên lãi ròng suy giảm, cạnh tranh gia tăng và yêu cầu đa dạng hóa hoạt động ngày càng rõ nét, đa dạng hóa thu nhập đã trở thành một chiến lược quan trọng của các NHTM nhằm giảm phụ thuộc vào hoạt động tín dụng truyền thống và mở rộng các nguồn thu phi lãi.

Nguyễn Đình Trung

Agribank Chi nhánh Chợ Lớn, Thành phố Hồ Chí Minh

Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết đề xuất một khuôn khổ nghiên cứu nhằm phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến sức mạnh thị trường của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài. Dựa trên các tiếp cận lý thuyết về danh mục đầu tư, sức mạnh thị trường và đại diện, nghiên cứu lập luận rằng, đa dạng hóa thu nhập có thể góp phần củng cố năng lực định giá và vị thế cạnh tranh của ngân hàng, tuy nhiên, mức độ và chiều tác động phụ thuộc đáng kể vào cấu trúc sở hữu. Trên cơ sở đó, tác giả phát triển mô hình nghiên cứu và các giả thuyết kiểm định cho các nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai về cạnh tranh ngân hàng tại các nền kinh tế mới nổi.

Từ khóa: Đa dạng hóa thu nhập, sức mạnh thị trường, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài

Summary

This paper develops a conceptual research framework to examine the impact of income diversification on the market power of Vietnamese commercial banks, while explicitly elucidating the moderating roles of state ownership and foreign ownership. Grounded in portfolio theory, market power theory, and agency theory, the study contends that income diversification can enhance banks’ pricing capability and competitive positioning; however, both the magnitude and direction of this effect are highly contingent upon ownership structure. Building on this theoretical foundation, the paper formulates a research model and a set of testable hypotheses to guide future empirical investigations into banking competition in emerging economies.

Keywords: Income diversification, market power, state ownership, foreign ownership

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh biên lãi ròng suy giảm, cạnh tranh gia tăng và yêu cầu đa dạng hóa hoạt động ngày càng rõ nét, đa dạng hóa thu nhập đã trở thành một chiến lược quan trọng của các NHTM nhằm giảm phụ thuộc vào hoạt động tín dụng truyền thống và mở rộng các nguồn thu phi lãi. Tuy nhiên, tác động của đa dạng hóa thu nhập đến sức mạnh thị trường, đặc biệt tại các nền kinh tế mới nổi có cấu trúc sở hữu ngân hàng đa dạng như Việt Nam, vẫn chưa đạt được sự đồng thuận. Một số nghiên cứu cho rằng các ngân hàng có sức mạnh thị trường cao thường khai thác hiệu quả hơn các nguồn thu phi lãi, qua đó củng cố vị thế cạnh tranh; tuy nhiên, mối quan hệ này có thể mang tính phi tuyến và thay đổi theo chu kỳ kinh tế (Nguyen và cộng sự, 2012). Ngược lại, các nghiên cứu theo tiếp cận động chỉ ra rằng cú sốc đa dạng hóa thu nhập có thể làm suy giảm sức mạnh thị trường trong ngắn hạn do áp lực cạnh tranh gia tăng, trong khi chính các ngân hàng có quyền lực thị trường lớn lại có xu hướng mở rộng mạnh hơn sang các hoạt động phi truyền thống (Zouaoui và Zoghlami, 2020). Các kết quả của Toh và cộng sự (2020), Tran và Nguyen (2023), Thanh và cộng sự (2025) tiếp tục khẳng định rằng mối quan hệ này mang tính phụ thuộc điều kiện, phản ánh vai trò của bối cảnh cạnh tranh, cấu trúc thị trường và đặc điểm ngân hàng.

Một hướng tiếp cận ngày càng được nhấn mạnh nhằm lý giải sự không đồng nhất trên là xem xét vai trò của cấu trúc sở hữu. Về mặt lý thuyết, ngân hàng có sở hữu nhà nước thường hoạt động trong khuôn khổ mục tiêu kép (chính sách - lợi nhuận), chịu cơ chế bổ nhiệm và giám sát đặc thù, dẫn đến động cơ quản trị và kỷ luật thị trường khác biệt so với ngân hàng tư nhân (Jensen và Meckling, 1976; La Porta và cộng sự, 2002). Trong bối cảnh này, đa dạng hóa thu nhập có thể được hỗ trợ bởi lợi thế nguồn lực và uy tín nhà nước, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nguy cơ phát sinh “hiệu ứng sống an nhàn”, làm suy giảm động lực cạnh tranh và hiệu quả khai thác quyền lực thị trường. Bằng chứng tại Việt Nam cho thấy tác động của đa dạng hóa thu nhập khác biệt rõ rệt giữa các nhóm sở hữu, hàm ý rằng sở hữu nhà nước có thể đóng vai trò điều tiết mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và các kết quả mang tính thị trường (Vuong và Nguyen, 2020; Luu và cộng sự, 2020).

Cùng với đó, sở hữu nước ngoài cũng được xem là một yếu tố cấu trúc quan trọng có khả năng điều kiện hóa tác động của đa dạng hóa thu nhập. Các lập luận lý thuyết nhấn mạnh lợi thế toàn cầu của sở hữu nước ngoài thông qua cải thiện quản trị, chuyển giao công nghệ và chuẩn mực quản trị rủi ro, nhưng đồng thời cũng chỉ ra các “bất lợi của doanh nghiệp nước ngoài” liên quan đến thông tin, thể chế và chi phí điều phối. Thực nghiệm cho thấy ngân hàng nước ngoài có thể chuyển hóa sức mạnh thị trường thành kết quả hoạt động theo cách khác so với ngân hàng nội địa (Toh và Jia, 2021); tại Việt Nam, sở hữu nước ngoài tương tác đáng kể với cạnh tranh và chiến lược hoạt động của ngân hàng (Duong và cộng sự, 2023; Le-Bao, 2024). Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu hiện nay mới tập trung vào hiệu quả, rủi ro hay tăng trưởng tín dụng, trong khi bằng chứng trực tiếp về vai trò điều tiết của sở hữu nước ngoài trong mối quan hệ đa dạng hóa thu nhập - sức mạnh thị trường vẫn còn hạn chế.

Trong bối cảnh Việt Nam, hệ thống ngân hàng đã trải qua giai đoạn tái cơ cấu sâu, đồng thời đối diện với yêu cầu giảm phụ thuộc vào thu nhập lãi và cạnh tranh dịch vụ - số hóa ngày càng gia tăng. Điều này làm nổi bật câu hỏi: đa dạng hóa thu nhập giúp củng cố hay làm suy yếu sức mạnh thị trường của NHTM; cấu trúc sở hữu sẽ khuếch đại hay làm suy yếu tác động đó như thế nào?

Xuất phát từ những khoảng trống trên, bài viết này này xây dựng một mô hình nghiên cứu khái niệm phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến sức mạnh thị trường của NHTM Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài. Nghiên cứu kỳ vọng góp phần (i) làm rõ tính phụ thuộc điều kiện và sự không nhất quán trong văn liệu hiện hữu, (ii) mở rộng khung giải thích thông qua việc tích hợp cấu trúc sở hữu như biến điều tiết, và (iii) tạo nền tảng khoa học cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo về cạnh tranh và sức mạnh thị trường trong lĩnh vực ngân hàng tại các nền kinh tế mới nổi.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Khái niệm

Đa dạng hóa thu nhập

Theo góc độ chiến lược, đa dạng hóa thu nhập là quá trình điều chỉnh cơ cấu nguồn thu theo hướng giảm phụ thuộc vào thu nhập lãi và mở rộng các nguồn thu ngoài lãi nhằm thích ứng với biên lãi ròng suy giảm và cạnh tranh gia tăng (Ashraf và Nazir, 2025). Theo góc độ danh mục - cấu trúc, đa dạng hóa thu nhập phản ánh mức độ phân bổ và phân tán giữa các dòng thu nhập lãi và phi lãi, trong đó việc kết hợp các nguồn thu không tương quan hoàn hảo giúp ổn định thu nhập và giảm rủi ro biến động lợi nhuận (Markowitz, 1952; Stiroh, 2004).

Sức mạnh thị trường

Theo cách tiếp cận vi mô - hành vi định giá, sức mạnh thị trường được hiểu là khả năng ngân hàng định giá cao hơn chi phí biên và duy trì biên chênh lệch giá - chi phí một cách có hệ thống, phản ánh quyền lực chi phối giá và điều kiện giao dịch (Lerner, 1934; Igan và cộng sự, 2021). Theo cách tiếp cận cấu trúc - cạnh tranh, sức mạnh thị trường gắn với mức độ tập trung và cường độ cạnh tranh của thị trường, trong đó thị trường càng tập trung hoặc cạnh tranh càng yếu thì khả năng chi phối giá của ngân hàng càng lớn (Claessens và Laeven, 2004). Hai cách tiếp cận này thống nhất ở điểm coi sức mạnh thị trường là năng lực định giá vượt mức cạnh tranh, nhưng khác nhau ở cách đo lường và cơ chế giải thích trong bối cảnh thị trường ngân hàng chịu nhiều ràng buộc điều tiết.

Cấu trúc sở hữu

Cấu trúc sở hữu thường được hiểu là sự phân bổ quyền sở hữu và quyền kiểm soát giữa các nhóm chủ thể nắm giữ vốn, qua đó định hình động cơ hành vi, cơ chế giám sát và chi phí đại diện trong hoạt động ngân hàng (Jensen và Meckling, 1976). Theo cách tiếp cận quyền kiểm soát, cấu trúc sở hữu không chỉ phản ánh tỷ lệ nắm giữ vốn mà còn thể hiện mức độ chi phối các quyết định chiến lược và hành vi rủi ro của ngân hàng, bao gồm khả năng xuất hiện độ lệch giữa quyền kiểm soát và quyền hưởng lợi (La Porta và cộng sự, 1999). Trong bối cảnh ngân hàng, cấu trúc sở hữu thường được phân loại theo nhóm chủ sở hữu chi phối, nổi bật là sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài, vốn có khả năng tác động khác biệt đến kỷ luật quản trị, mức độ giám sát và định hướng chiến lược của ngân hàng (La Porta và cộng sự, 2002).

Tổng quan nghiên cứu

Đa dạng hóa thu nhập và sức mạnh thị trường

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và sức mạnh thị trường của NHTM được ghi nhận là phụ thuộc bối cảnh nhưng có xu hướng hỗ trợ lẫn nhau trong dài hạn. Các nghiên cứu tại ASEAN và khu vực Trung Đông - Bắc Phi (MENA) cho thấy ngân hàng có sức mạnh thị trường lớn thường khai thác hiệu quả hơn các hoạt động phi truyền thống, trong khi đa dạng hóa thu nhập cũng đóng vai trò như một “vùng đệm” giúp ngân hàng duy trì vị thế thị trường khi cạnh tranh gia tăng hoặc trong giai đoạn khủng hoảng (Nguyen và cộng sự, 2012; Zouaoui và Zoghlami, 2020; Toh và cộng sự, 2020). Bằng chứng từ Việt Nam và các nền kinh tế mới nổi tiếp tục khẳng định rằng, mặc dù tác động có thể mang tính phi tuyến hoặc động, đa dạng hóa thu nhập nhìn chung giúp ổn định nguồn thu, mở rộng danh mục dịch vụ và giảm áp lực cạnh tranh về giá, qua đó củng cố năng lực định giá và sức mạnh thị trường của ngân hàng (Tran và cộng sự, 2023; Thanh và cộng sự, 2025). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:

H1: Đa dạng hóa thu nhập có tác động tích cực đến Sức mạnh thị trường của NHTM.

Sở hữu nhà nước, đa dạng hóa thu nhập và sức mạnh thị trường

Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam và các nền kinh tế mới nổi cho thấy, ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao thường hoạt động trong cơ chế mục tiêu kép và chịu kỷ luật thị trường yếu hơn, khiến chiến lược đa dạng hóa thu nhập có thể đi kèm mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn hoặc hiệu quả khai thác kém hơn, từ đó làm suy yếu khả năng chuyển hóa đa dạng hóa thành lợi thế cạnh tranh và quyền lực thị trường (Vuong và Nguyen, 2020; Luu và cộng sự, 2020). Các bằng chứng quốc tế cũng nhất quán khi chỉ ra rằng cấu trúc sở hữu nhà nước có thể làm thay đổi động cơ quản trị, chi phí đại diện và hành vi cạnh tranh, qua đó khuếch đại hoặc làm suy yếu tác động của đa dạng hóa thu nhập lên các kết quả thị trường của ngân hàng (Alouane và cộng sự, 2022; Hsieh và cộng sự, 2023; Xiong và cộng sự, 2024). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:

H2: Sở hữu nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa Đa dạng hóa thu nhập và Sức mạnh thị trường của NHTM, theo hướng tỷ lệ sở hữu nhà nước càng cao thì tác động tích cực của Đa dạng hóa thu nhập lên Sức mạnh thị trường càng yếu.

Sở hữu nước ngoài, đa dạng hóa thu nhập và sức mạnh thị trường

Các nghiên cứu quốc tế và tại Việt Nam cho thấy sự hiện diện của nhà đầu tư nước ngoài thường gắn với cải thiện quản trị, chuyển giao công nghệ và tăng cường kỷ luật thị trường, qua đó giúp ngân hàng khai thác hiệu quả hơn các nguồn thu phi lãi và nâng cao năng lực cạnh tranh (Toh và Jia, 2021; Boulanouar và cộng sự, 2021; Luu và cộng sự, 2020). Mặc dù lợi thế của sở hữu nước ngoài không mang tính tất yếu và phụ thuộc vào bối cảnh thể chế cũng như đặc điểm ngân hàng, nhiều bằng chứng cho thấy trong điều kiện phù hợp, sở hữu nước ngoài có thể giúp ngân hàng chuyển hóa đa dạng hóa thu nhập thành lợi thế định giá và vị thế thị trường bền vững hơn (Duong và cộng sự, 2023; Le-Bao, 2024). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:

H3: Sở hữu nước ngoài điều tiết mối quan hệ giữa Đa dạng hóa thu nhập và Sức mạnh thị trường của NHTM, theo hướng tỷ lệ sở hữu nước ngoài càng cao thì tác động tích cực của Đa dạng hóa thu nhập lên Sức mạnh thị trường càng mạnh.

Từ các giả thuyết trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu sau:

Mô hình tác động trực tiếp:

MPit = β0 + β1DIVit + X’itγ + εit

Mô hình có điều tiết sở hữu nhà nước:

MPit = β0 + β1DIVit + β2SOEit + β3(DIVit x SOEit ) + X’itγ + εit

Mô hình có điều tiết sở hữu nước ngoài:

MPit = β0 + β1DIVit + β2FOEit + β3(DIVit x FOEit ) + X’itγ + εit

Trong đó:

- i là ký hiệu ngân hàng và t là ký hiệu thời gian (năm/quý);

- MPit là biến phụ thuộc đại diện sức mạnh thị trường của ngân hàng i tại thời điểm t;

- DIVit là biến giải thích chính đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập;

- SOEit là mức sở hữu nhà nước (biến điều tiết);

- FOEit là mức sở hữu nước ngoài (biến điều tiết);

- X’it là vector các biến kiểm soát ở cấp ngân hàng và/hoặc cấp vĩ mô (biến kiểm soát bao gồm: qui mô ngân hàng, vốn hóa, rủi ro tín dụng, hiệu quả chi phí, cơ cấu tín dụng, tăng trưởng kinh tế, lạm phát);

- γ là vector hệ số tương ứng; εit là sai số ngẫu nhiên.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết sử dụng cách tiếp cận định lượng ở mức độ khái niệm - thiết kế mô hình, chưa tiến hành phân tích dữ liệu thực nghiệm. Trên cơ sở tổng quan lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm trước đây, nghiên cứu đề xuất một mô hình nghiên cứu khái niệm nhằm phân tích mối quan hệ giữa Đa dạng hóa thu nhập và Sức mạnh thị trường của NHTM, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của cấu trúc sở hữu, bao gồm Sở hữu nhà nước và Sở hữu nước ngoài.

Về mặt đo lường dự kiến, Sức mạnh thị trường được xác định là biến phụ thuộc và được khuyến nghị đo lường thông qua chỉ số Lerner điều chỉnh, phản ánh năng lực định giá của ngân hàng. Đa dạng hóa thu nhập đóng vai trò là biến độc lập chính, được khái niệm hóa dựa trên mức độ phân tán nguồn thu giữa thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi. Sở hữu nhà nước và Sở hữu nước ngoài được đưa vào mô hình với vai trò biến điều tiết, nhằm phản ánh sự khác biệt về động cơ quản trị, kỷ luật thị trường và khả năng khai thác chiến lược đa dạng hóa giữa các nhóm ngân hàng.

Bên cạnh các biến cốt lõi, mô hình nghiên cứu cũng đề xuất kiểm soát các đặc điểm ngân hàng (như quy mô, mức độ vốn hóa, chất lượng tài sản) và điều kiện kinh tế vĩ mô (tăng trưởng kinh tế, lạm phát) nhằm đảm bảo khung phân tích đầy đủ và hạn chế sai lệch tiềm ẩn. Trên cơ sở đó, bài viết hình thành hệ thống giả thuyết nghiên cứu và khung mô hình tổng hợp, tạo nền tảng cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo kiểm định bằng dữ liệu bảng ngân hàng Việt Nam trong tương lai.

THẢO LUẬN

Bài viết đề xuất một khuôn khổ khái niệm nhằm giải thích tác động của Đa dạng hóa thu nhập (DIV) đến Sức mạnh thị trường (MP) của NHTM, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của cấu trúc sở hữu, bao gồm Sở hữu nhà nước (SOE) và Sở hữu nước ngoài (FOE). Trên cơ sở lý thuyết danh mục, hành vi định giá và đại diện, DIV được xem là chiến lược tái cấu trúc nguồn thu có khả năng ổn định hóa thu nhập và mở rộng không gian định giá, qua đó tiềm năng củng cố MP. Tuy nhiên, tổng quan văn liệu cho thấy mối quan hệ DIV-MP không nhất quán và phụ thuộc mạnh vào bối cảnh, đặc điểm ngân hàng và cấu trúc thị trường.

Đóng góp trọng tâm của bài viết là nhấn mạnh vai trò điều kiện hóa của sở hữu trong cơ chế truyền dẫn từ DIV sang MP. Với SOE, khác biệt về mục tiêu, cơ chế khuyến khích và kỷ luật thị trường gợi ý rằng sở hữu nhà nước có thể làm suy yếu khả năng DIV chuyển hóa thành MP. Ngược lại, FOE có thể khuếch đại hiệu quả khai thác DIV thông qua kênh quản trị, công nghệ và chuẩn mực vận hành, dù tác động này vẫn phụ thuộc điều kiện thể chế và mức độ “bất lợi người ngoài”. Do đó, cấu trúc sở hữu là yếu tố then chốt để lý giải khác biệt kết quả giữa các ngân hàng khi theo đuổi chiến lược đa dạng hóa.

Vì bài viết mới dừng ở mức xây dựng mô hình, các hàm ý được hiểu theo hướng định hướng: (i) DIV không phải chiến lược “một kích cỡ cho tất cả”, và (ii) hiệu quả cạnh tranh của DIV cần được đánh giá đồng thời với đặc điểm sở hữu và cơ chế quản trị.

KẾT LUẬN

Bài viết phát triển một mô hình nghiên cứu khái niệm về tác động của Đa dạng hóa thu nhập đến Sức mạnh thị trường của NHTM Việt Nam, với vai trò điều tiết của Sở hữu nhà nước và Sở hữu nước ngoài. Mô hình cho thấy quan hệ DIV-MP mang tính phụ thuộc điều kiện, trong đó SOE có xu hướng làm suy yếu, còn FOE có khả năng làm tăng mức độ DIV chuyển hóa thành MP.

Đóng góp của nghiên cứu nằm ở việc (i) làm rõ mâu thuẫn trong văn liệu về DIV-MP, (ii) mở rộng khung giải thích bằng cách đưa cấu trúc sở hữu vào như biến điều tiết, và (iii) đề xuất hướng đo lường và thiết kế mô hình phù hợp cho bối cảnh ngân hàng Việt Nam và các nền kinh tế mới nổi. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu tiếp theo có thể tiến hành kiểm định thực nghiệm với dữ liệu bảng động, xem xét phi tuyến và dị biệt theo nhóm sở hữu để kiểm tra độ vững của các lập luận lý thuyết được đề xuất trong bài viết này.

Tài liệu tham khảo:

1. Alouane, N., Kahloul, I., & Grira, J. (2022). The trilogy of ownership, income diversification, and performance nexus: empirical evidence from Tunisian banks. Finance Research Letters, 45, 102180.

2. Ashraf, Y., & Nazir, M. S. (2025). Income diversification and bank performance: an evidence from emerging economy of Pakistan. Journal of Economic and Administrative Sciences, 41(5), 1947-1961.

3. Boulanouar, Z., Alqahtani, F., & Hamdi, B. (2021). Bank ownership, institutional quality and financial stability: evidence from the GCC region. Pacific-Basin finance journal, 66, 101510. DOI: 10.1016/j.pacfin.2021.101510.

4. Claessens, S., & Laeven, L. (2004). What drives bank competition? Some international evidence. Journal of money, credit and banking, 563-583.

5. Duong, K. D., Nguyen, N. N. T., Tran, P. M. D., & Pham, H. (2023). How Foreign Ownership and Competition Affect the Credit Growth of Commercial Banks: Evidence from A Transitional Economy. ABAC Journal, 43(4), 241-257. DOI: 10.59865/ABACJ.2023.48

6. Hsieh, M. F., Lee, C. C., & Shen, M. F. (2023). Ownership structure, diversification, and bank performance: International evidence. Emerging Markets Finance and Trade, 59(1), 90-112.

7. Igan, D., Pería, M. S. M., Pierri, N., & Presbitero, A. (2021). When they go low, we go high? Measuring bank market power in a low-for-long environment. International Monetary Fund.

8. Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure. In Corporate governance (pp. 77-132). Gower.

9. La Porta, R., Lopez‐de‐Silanes, F., & Shleifer, A. (1999). Corporate ownership around the world. The journal of finance, 54(2), 471-517.

10. La Porta, R., Lopez‐de‐Silanes, F., & Shleifer, A. (2002). Government ownership of banks. The journal of finance, 57(1), 265-301.

11. Le-Bao, T. (2024). Diversification Strategy and Bank Efficiency of Vietnamese Commercial Banks: Does Foreign Ownership and Bank Experience Matter?. Southeast Asian journal of Economics, 12(3), 37-70.

12. Lerner, A. P. (1934). The concept of monopoly and the measurement of monopoly power. The review of economic studies, 1(3), 157-175. https://doi.org/10.2307/2967480

13. Luu, H. N., Nguyen, L. Q. T., Vu, Q. H., & Tuan, L. Q. (2020). Income diversification and financial performance of commercial banks in Vietnam: do experience and ownership structure matter?. Review of Behavioral Finance, 12(3), 185-199.

14. Markowitz, H. (1952). Modern portfolio theory. Journal of Finance, 7(11), 77-91.

15. Nguyen, M., Skully, M., & Perera, S. (2012). Bank market power and revenue diversification: Evidence from selected ASEAN countries. Journal of Asian Economics, 23(6), 688-700. DOI: 10.1016/j.asieco.2012.08.004

16. Stiroh, K. J. (2004). Diversification in banking: Is noninterest income the answer? Journal of Money, Credit and Banking, 36(5), 853-882. https://doi.org/10.1353/mcb.2004.0076

17. Thanh, T. H., Hong, P. L., Do, H. T., & Diem, H. T. (2025). Relationship between market power and income diversification of Vietnamese commercial banks. Asian Economic and Financial Review, 15(4), 496. DOI: 10.55493/5002.v15i4.5352

18. Toh, M. Y., & Jia, D. (2021). Do foreign ownership and home-host country distance matter? Evidence on the impact of bank market power on liquidity creation in a selected Southeast Asian country. Research in International Business and Finance, 56, 101350. DOI: 10.1016/j.ribaf.2020.101350

19. Toh, M. Y., Gan, C., & Li, Z. (2020). Bank diversification, competition and liquidity creation: Evidence from Malaysian banks. The Singapore Economic Review, 65(04), 1127-1156. DOI: 10.1142/S0217590819500103

20. Tran, V. T., & Nguyen, H. (2023). Liquidity Creation, Bank Competition and Revenue Diversification. The Quarterly Journal of Finance, 13(03), 2350007. DOI: 10.1142/S2010139223500076

21. Vuong, G. T. H., & Nguyen, M. H. (2020). Revenue diversification and banking risk: Does the state ownership matter? Evidence from an emerging market. Annals of Financial Economics, 15(04), 2050019.

22. Xiong, X., Chen, M., & Chen, C. (2024). Corporate governance matters: How do reduced state-owned shares lower firms’ market power in a developing country?. International Review of Economics & Finance, 93, 211-224.

23. Zouaoui, H., & Zoghlami, F. (2020). On the income diversification and bank market power nexus in the MENA countries: Evidence from a GMM panel-VAR approach. Research in International Business and Finance, 52, 101186. DOI: 10.1016/j.ribaf.2020.101186

Ngày nhận bài: 7/12/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/2/2026; Ngày duyệt đăng: 8/2/2026

Các tin khác

​​​​​​​Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024

​​​​​​​Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024

Việc có một cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ rõ ràng, nghiêm ngặt kết hợp cùng hạ tầng truyền thống số phát triển được kỳ vọng sẽ tạo ra điểm sáng cho đổi mới sáng tạo và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia ASEAN+3 (gồm 10 nước thuộc ASEAN cùng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc).
Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức

Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức

Hiệu quả chuyển đổi số tại các DNNVV không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn gắn chặt với năng lực lãnh đạo, cấu trúc tổ chức và khả năng phối hợp nguồn lực. Nghiên cứu làm rõ vai trò của quản trị đồng tâm và khả năng học tập tổ chức trong việc nâng cao hiệu quả chuyển đổi số của doanh nghiệp.
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Với tiềm năng phát triển, dân số đông và vị trí địa lý thuận lợi, TP. Hồ Chí Minh là nơi tập trung số lượng doanh nghiệp logistics lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 70% trong tổng số khoảng 4.000 doanh nghiệp logistics tại Việt Nam và đóng vai trò là cửa ngõ giao thương chính của khu vực phía Nam.
Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Trong những năm gần đây, công bố thông tin về quản trị doanh nghiệp trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng của hệ thống thông tin mà nhà đầu tư sử dụng để đánh giá chất lượng doanh nghiệp.
Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh

Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh

Những yêu cầu ngày càng khắt khe từ xã hội đòi hỏi công tác quản trị nguồn nhân lực không thể dừng lại ở hoạt động tuyển dụng và đào tạo, mà cần được tiếp cận theo hướng chiến lược, trong đó tạo động lực làm việc giữ vai trò trung tâm.
Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Là địa phương có vị trí chiến lược ở vùng Đông Bắc, Quảng Ninh hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển với hệ thống biển, đảo, cảng biển, cửa khẩu quốc tế, khu kinh tế ven biển và Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
​​​​​​​Mất cân bằng giới tính khi sinh và tác động đến phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

​​​​​​​Mất cân bằng giới tính khi sinh và tác động đến phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Mất cân bằng giới tính khi sinh thường được xem như một chỉ tiêu dân số, trong khi các tác động của nó có thể lan sang thị trường lao động, tích lũy vốn con người, cấu trúc gia đình và hệ thống an sinh.
Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai

Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai

Tại Việt Nam, mức độ áp dụng kế toán quản trị chưa đồng đều. Nhiều doanh nghiệp vẫn tập trung vào lập dự toán, phân tích chi phí và kiểm soát tài chính, trong khi kế toán trách nhiệm và kế toán quản trị chiến lược chưa được triển khai phổ biến.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính của khách hàng cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính của khách hàng cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh

Việc sử dụng Fintech của khách hàng cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như lòng tin, rủi ro nhận thức, thói quen, ảnh hưởng xã hội và điều kiện hỗ trợ. Nghiên cứu làm rõ mức độ tác động của các yếu tố này, qua đó đề xuất hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy việc sử dụng dịch vụ tài chính số.
Chính sách quản lý đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Nghệ An: Thực tiễn và giải pháp

Chính sách quản lý đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Nghệ An: Thực tiễn và giải pháp

Nghệ An là địa phương có địa bàn rộng, thị trường lao động phân hóa giữa đô thị, đồng bằng, ven biển và miền núi; đồng thời đang tăng tốc thu hút đầu tư. Quá trình dịch chuyển lao động và mở rộng cầu nhân lực kỹ thuật đang tạo áp lực lớn lên hệ thống giáo dục nghề nghiệp.