Chuyển dịch cơ cấu lao động tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh chuyển đổi số: Thực trạng, thách thức và hàm ý chính sách
TS. Tống Thị Hạnh
Email: [email protected]
ThS. Vũ Thị Gấm, ThS. Trần Thị Thanh Hoa
Trường Đại học Sài Gòn
Tóm tắt
Sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) và kết quả khảo sát 200 người lao động tại TP. Hồ Chí Minh, nghiên cứu phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động tại Thành phố giai đoạn 2020-2025 dưới tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0. Kết quả nghiên cứu chỉ ra 3 xu hướng chính: (i) Chuyển dịch mạnh mẽ sang khu vực dịch vụ; (ii) Sự bất ổn định gia tăng trong khu vực lao động phi chính thức; (iii) Sự xuất hiện của “khoảng cách kĩ năng” đáng kể, đặc biệt ở ngoại ngữ và kĩ năng chuyên ngành. Kết quả khảo sát cho thấy, hơn một nửa người lao động lo ngại về nguy cơ bị thay thế bởi trí tuệ nhân tạo và tự động hóa. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất 3 nhóm giải pháp nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương và tận dụng cơ hội từ quá trình chuyển đổi số.
Từ khóa: Chuyển dịch cơ cấu lao động, chuyển đổi số, lao động phi chính thức, khoảng cách kĩ năng, TP. Hồ Chí Minh
Abstract
Using a combination of secondary data from the General Statistics Office (now the National Statistics Office) and survey results from 200 workers in Ho Chi Minh City, the study analyzes the current state of labor structural transformation in the city during the 2020-2025 period under the impact of the Fourth Industrial Revolution. The findings identify three key trends: (i) a strong shift toward the service sector; (ii) increasing instability within the informal labor sector; and (iii) the emergence of a significant “skills gap,” particularly in foreign languages and specialized skills. Survey results further indicate that more than half of workers are concerned about the risk of being displaced by artificial intelligence and automation. Based on these findings, the study proposes three groups of policy solutions aimed at reducing vulnerability while leveraging opportunities arising from the digital transformation process.
Keywords: Labor structural transformation, digital transformation, informal employment, skills gap, Ho Chi Minh City
ĐẶT VẤN ĐỀ
TP. Hồ Chí Minh với vai trò là đầu tàu kinh tế của cả nước, đang trải qua những chuyển biến sâu sắc về cơ cấu kinh tế và thị trường lao động dưới tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0. Quá trình tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi bản chất công việc mà còn tạo ra những yêu cầu mới về kĩ năng, đồng thời đặt ra thách thức lớn về an sinh xã hội cho lực lượng lao động, đặc biệt là nhóm lao động nhập cư và lao động phi chính thức. Mặt khác, các cam kết hội nhập quốc tế thế hệ mới đã và đang tạo ra những áp lực kép, đồng thời thúc đẩy quá trình tái cấu trúc thị trường lao động một cách mạnh mẽ.
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra xu hướng dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp và công nghiệp sang khu vực dịch vụ tại các đô thị lớn (Tổng cục Thống kê, 2024). Tuy nhiên, những phân tích về chất lượng của sự chuyển dịch, bao gồm mức độ đáp ứng kĩ năng, nhận thức về rủi ro công nghệ và tính dễ bị tổn thương của các nhóm lao động khác nhau, vẫn còn chưa được lượng hóa đầy đủ trong thực tiễn. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống đó, trả lời 2 câu hỏi chính: Thứ nhất, xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2020-2025 diễn ra như thế nào? Thứ hai, những thách thức, khoảng cách kĩ năng và nhận thức về tác động của công nghệ mà người lao động đang đối mặt là gì, và từ đó, giải pháp nào cho Thành phố để giải quyết những vấn đề này?
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu dưới góc nhìn truyển thống và hiện đại, điển hình là các nghiên cứu sau:
Lý thuyết ba khu vực do Fisher (1935) và Clark (1940) khởi xướng, cho rằng cùng với sự phát triển kinh tế, lao động sẽ có xu hướng dich chuyển từ khu vực sản xuất sơ cấp (nông, lâm, ngư nghiệp) sang khu vực thứ cấp (công nghiệp, xây dựng) và cuối cùng là khu vực tam cấp (dịch vụ). Đây là nền tảng để giải thích xu hướng dịch chuyển vĩ mô tại TP. Hồ Chí Minh.
Autor, Levy và Murnane (2020) đã phát triển Mô hình phân cực việc làm để giải thích tác động của công nghệ thông tin đến thị trường lao động. Mô hình chỉ ra rằng, tự động hóa có xu hướng thay thế các công việc thường xuyên ở phân khúc kĩ năng trung bình, trong khi làm gia tăng nhu cầu đối với cả lao động kĩ năng cao (công việc phi thường xuyên mang tính tư duy) và lao động kĩ năng thấp (công việc phi thường xuyên mang tính thủ công). Lý thuyết này rất hữu ích để phân tích tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 lên cấu trúc việc làm tại TP. Hồ Chí Minh.
Lý thuyết tiếp cận thể chế trong quan hệ lao động: Nghiên cứu của Do (2011) nhấn mạnh tầm quan trọng của cách tiếp cận đa chiều để hiểu sự chuyển đổi quan hệ lao động tại Việt Nam. Cách tiếp cận này xem xét sự tương tác giữa các chủ thể ở ba cấp độ: doanh nghiệp, địa phương và quốc gia, trong bối cảnh chính trị - kinh tế tổng thể. Điều này đặc biệt phù hợp để phân tích những thách thức về thể chế và thực thi chính sách lao động tại TP. Hồ Chí Minh.
Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu lao động của Lewis (1954) và Ranis-Fei (1961) giải thích sự di chuyển lao động từ khu vực năng suất thấp (nông nghiệp, phi chính thức) sang khu vực năng suất cao hơn (công nghiệp, dịch vụ) trong quá trình phát triển kinh tế.
Lý thuyết “thất nghiệp công nghệ” từ các nghiên cứu của Acemoglu và Restrepo (2020) nhấn mạnh rằng tự động hóa có thể thay thế lao động trong một số ngành, nhưng đồng thời tạo ra nhu cầu về kĩ năng mới. Khái niệm “khoảng cách kĩ năng” được sử dụng để chỉ sự không phù hợp giữa kĩ năng hiện có của người lao động và yêu cầu của thị trường lao động mới (Vũ Huyền Trang và cộng sự, 2025).
Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam gần đây cho thấy quy mô lao động phi chính thức vẫn ở mức cao (khoảng 61% tổng số lao động) và nguy cơ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế và công nghệ là rất lớn (ILO, 2023). Nghiên cứu này kế thừa những phát hiện đó và sử dụng dữ liệu sơ cấp để làm rõ hơn bức tranh vi mô tại TP. Hồ Chí Minh.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê mô tả, trong đó sử dụng dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ số liệu thống kê về cơ cấu lao động theo ngành tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2020-2025 được thu thập từ Tổng cục Thống kê và các báo cáo kinh tế - xã hội của Thành phố. Dữ liệu sơ cấp được phân tích từ một cuộc khảo sát được thực hiện từ tháng 1-3/2025 với cỡ mẫu 200 người lao động đang sinh sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh với phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp với chọn mẫu định mức theo ngành và loại hình lao động. Bảng hỏi được thiết kế gồm 4 phần: thông tin cá nhân, đặc điểm việc làm, đào tạo - kĩ năng và tác động công nghệ, thách thức và định hướng nghề nghiệp. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS với các kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích điểm trung bình và bảng chéo (cross-tabulation).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
Giai đoạn 2020-2025 chứng kiến sự chuyển dịch cơ cấu lao động rất rõ nét tại TP. Hồ Chí Minh, với tốc độ nhanh hơn so với giai đoạn trước. Số liệu tại Bảng 1 cho thấy, năm 2020, khu vực dịch vụ chiếm khoảng 2/3 lực lượng lao động; đến năm 2025, tỷ trọng này tăng lên gần 80%. Ngược lại, có sự sụt giảm mạnh của lao động trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp (từ 1,8% xuống còn 1,2%) và công nghiệp - xây dựng (từ mức 30%-35% năm 2020 xuống còn 20%-21% năm 2025). Điều này phản ánh quá trình “dịch vụ hóa” nền kinh tế của TP. Hồ Chí Minh, phù hợp với Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bảng 1: Cơ cấu lao động đang làm việc theo ngành kinh tế tại TP. Hồ Chí Minh (2020-2025)
Đơn vị: %
|
Ngành kinh tế |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 (Ước tính) |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
Nông - lâm - ngư nghiệp |
1,8 |
1,4 |
1,4 |
1,5 |
1,9 |
1,2 |
|
Công nghiệp - xây dựng |
32,5 |
28,0 |
22,1 |
21,5 |
21,0 |
20,5 |
|
Dịch vụ |
65,7 |
70,6 |
76,5 |
77,0 |
77,1 |
78,3 |
Nguồn: Tính toán từ Tổng cục Thống kê (2024; 2025a; 2025b)
Xu hướng “phi nông nghiệp hóa” này phù hợp với lý thuyết của Fisher-Clark và phản ánh đúng định hướng phát triển TP. Hồ Chí Minh thành trung tâm dịch vụ, tài chính, và kinh tế tri thức của cả nước. Đặc biệt, trong nội bộ ngành dịch vụ, sự bùng nổ của thương mại điện tử, logistics, tài chính - ngân hàng và các dịch vụ công nghệ cao đã tạo ra nhiều việc làm mới. Sự tăng trưởng này phù hợp với nhận định của Vũ Huyền Trang và cộng sự (2025) về sự xuất hiện của một mô hình lao động mới, linh hoạt hơn và dựa trên nền tảng công nghệ trong các khu công nghiệp và đô thị lớn .
Tuy nhiên, sự phụ thuộc ngày càng lớn vào khu vực dịch vụ cũng đặt ra thách thức về tính ổn định. Nghiên cứu của Asghar và McCaig (2024) cho thấy các cú sốc thương mại có thể dẫn đến sự dịch chuyển lao động quy mô lớn. Trong bối cảnh hiện tại, một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu hoặc sự đứt gãy chuỗi cung ứng có thể tác động mạnh đến khu vực dịch vụ, nơi tập trung đông lao động, khiến thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh trở nên dễ bị tổn thương hơn.
Chất lượng lao động trong bối cảnh mới
Mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo của TP. Hồ Chí Minh luôn dẫn đầu cả nước (đạt 88%-89% năm 2025, so với mức trung bình quốc gia về lao động có bằng cấp, chứng chỉ là 29,5%), chất lượng lao động vẫn là điểm nghẽn lớn (Bảng 2).
Bảng 2: Một số chỉ tiêu chất lượng lao động của Việt Nam và TP. Hồ Chí Minh (2020-2025)
|
Chỉ tiêu |
2020 |
2022 |
2024 |
2025 |
|---|---|---|---|---|
|
Tỷ lệ lao động qua đào tạo (TP. Hồ Chí Minh) (%) |
85,5 |
86,5 |
88,1 |
88,5 |
|
Tỷ lệ lao động có bằng, chứng chỉ (Cả nước) (%) |
27,0 |
27,5 |
28,3 |
29,5 |
|
Tỷ lệ lao động phi chính thức (Cả nước) (%) |
68,0 |
64,0 |
63,9 |
61,5 |
|
Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên (Cả nước) (%) |
7,5 |
7,5 |
7,96 |
7,3 |
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2025b; ILO, 2021
Vấn đề “khoảng cách kỹ năng” ngày càng trở nên trầm trọng, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số và tự động hóa. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng công nhân trong các khu công nghiệp phải đối mặt với yêu cầu ngày càng cao về kĩ năng và hiệu suất. Tuy nhiên, hệ thống đào tạo nghề vẫn chậm thích ứng. Khoảng 25-30% doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động có kĩ năng số và kỹ năng mềm đáp ứng yêu cầu (Dũng Hiếu, 2024). Điều này dẫn đến nghịch lý “thừa thầy, thiếu thợ” và tình trạng lao động trẻ tốt nghiệp nhưng không đáp ứng được yêu cầu công việc thực tế.
Một thách thức nữa là tỷ lệ lao động phi chính thức vẫn ở mức cao (61,5% cả nước năm 2025). Mặc dù con số này có xu hướng giảm dần, nhưng quy mô lớn của lao động phi chính thức tại TP. Hồ Chí Minh (tập trung ở các dịch vụ bán lẻ, giao hàng công nghệ, xây dựng nhỏ lẻ) cho thấy tính chất “dễ bị tổn thương” của thị trường lao động. Nghiên cứu của Nguyễn và Lin (2024) về lao động nhập cư chỉ ra rằng, dù có những chương trình an sinh mới, người lao động vẫn phải tự bảo vệ mình trước những bất trắc, trong khi các cải cách phúc lợi bị ràng buộc bởi mâu thuẫn giữa tự do hóa thị trường và các cam kết xã hội. Điều này đặc biệt đúng với đội ngũ lao động nhập cư đông đảo tại TP. Hồ Chí Minh, những người thường có ít cơ hội tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội chính thức.
Để có góc nhìn đa chiều, nhóm tác giả tiến hành khảo sát 200 người lao động trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Mẫu khảo sát có sự đa dạng về độ tuổi (65% dưới 35 tuổi) và trình độ học vấn (42% có trình độ cao đẳng/đại học). Một đặc điểm nổi bật là tỷ lệ lao động nhập cư chiếm 61%, phù hợp với bối cảnh của một siêu đô thị.
Bảng 3: Thực trạng hợp đồng lao động và bảo hiểm xã hội (N=200)
|
Chỉ tiêu |
Tần số (Người) |
Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|
|
Có hợp đồng lao động và tham gia BHXH |
112 |
56,0 |
|
Không hợp đồng lao động /Không BHXH |
88 |
44,0 |
Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả, 2025.
Đáng lưu ý là kết quả từ Bảng 3 cho thấy, tỷ lệ lao động không có hợp đồng lao động hoặc không tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) lên tới 44%. Nhóm lao động phi chính thức này tập trung chủ yếu ở khu vực hộ kinh doanh cá thể (21%) và lao động thời vụ.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự phân hóa thu nhập rõ rệt: trong khi 46,4% lao động chính thức có thu nhập trên 15 triệu đồng/tháng, tỷ lệ này ở nhóm lao động phi chính thức chỉ là 18,2%. Ngược lại, 43,2% lao động phi chính thức có thu nhập dưới 7 triệu đồng/tháng - một con số cho thấy sự bất ổn định và rủi ro cao. Kết quả này khẳng định luận điểm về “tính dễ bị tổn thương kép” của lao động phi chính thức: vừa thiếu an sinh, vừa có thu nhập thấp.
Kết quả tự đánh giá kĩ năng (Bảng 4) cho thấy điểm mạnh của người lao động nằm ở kĩ năng mềm (làm việc nhóm và giao tiếp, Mean = 3,98/5). Tuy nhiên, “khoảng cách kĩ năng” được xác định rõ ở 2 lĩnh vực: ngoại ngữ (Mean = 2,65) và kĩ năng sử dụng phần mềm chuyên ngành (Mean = 3,15). Đây là những kĩ năng nền tảng để tham gia vào các chuỗi giá trị hiện đại và các vị trí việc làm chất lượng cao, thu nhập lớn.
Bảng 4: Điểm tự đánh giá trung bình các kĩ năng (Thang điểm 5)
|
Kĩ năng |
Điểm trung bình (Mean) |
Độ lệch chuẩn (Std.Dev) |
|---|---|---|
|
Kĩ năng làm việc nhóm và giao tiếp |
3,98 |
0,65 |
|
Kĩ năng thích ứng với công nghệ mới |
3,55 |
0,82 |
|
Kĩ năng sử dụng máy tính văn phòng |
3,42 |
0,98 |
|
Kĩ năng sử dụng phần mềm chuyên ngành |
3,15 |
1,12 |
|
Kĩ năng ngoại ngữ (Tiếng Anh) |
2,65 |
1,05 |
Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả, 2025
Về tác động của công nghệ, phần lớn người lao động (85%) đồng ý rằng công nghệ đòi hỏi họ phải thường xuyên học hỏi và cập nhật kiến thức. Đáng chú ý, hơn một nửa số người được hỏi (52%) bày tỏ sự lo ngại về việc bị thay thế bởi máy móc hoặc AI trong tương lai. Tỷ lệ lo ngại này cao hơn đáng kể ở nhóm lao động trong lĩnh vực sản xuất và nhóm có trình độ học vấn thấp. Một điểm đáng quan tâm khác là sự mất cân đối trong đầu tư đào tạo: trong khi 85% lao động nhận thấy áp lực phải học, chỉ 45% cho rằng doanh nghiệp nơi họ làm việc thường xuyên đầu tư công nghệ và đào tạo nhân viên sử dụng.
Kết quả khảo sát cho thấy “thu nhập thấp” vẫn là khó khăn lớn nhất (35%), tiếp đến là “áp lực công việc cao” (22%). Điểm đáng lưu ý là “kĩ năng không đáp ứng kịp yêu cầu công việc” đã vươn lên trở thành khó khăn lớn thứ ba với 18%, phản ánh sự cấp bách của vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số.
Về định hướng nghề nghiệp trong 2 năm tới, chỉ có 40% dự định tiếp tục công việc hiện tại, 28% có kế hoạch tìm việc mới cùng ngành, và đặc biệt 22% sẵn sàng học kĩ năng mới để chuyển sang ngành nghề khác. Con số này cho thấy sự chủ động thích ứng của lực lượng lao động, nhưng đồng thời cũng là thách thức nếu không có các chương trình đào tạo lại bài bản từ chính quyền và doanh nghiệp.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Kết hợp phân tích dữ liệu thứ cấp và kết quả khảo sát cho thấy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2020-2025 chỉ ra 3 vấn đề lớn. Một là, xu hướng chuyển dịch rõ rệt trong cơ cấu lao động TP. Hồ Chí Minh, cụ thể là có sự dịch chuyển mạnh mẽ sang khu vực dịch vụ, phản ánh sự thay đổi căn bản của nền kinh tế. Hai là, tính dễ bị tổn thương cao từ khu vực lao động phi chính thức (44% mẫu khảo sát), người lao động đang đối mặt với tình trạng “yếu thế kép” - vừa thiếu an sinh xã hội, vừa có thu nhập thấp và ít cơ hội tiếp cận đào tạo. Ba là, khoảng cách kĩ năng và tâm lý lo ngại. Người lao động đang thiếu hụt nghiêm trọng kĩ năng ngoại ngữ và kĩ năng chuyên ngành. Hơn một nửa số lao động lo ngại về nguy cơ bị thay thế bởi công nghệ, trong khi hệ thống đào tạo tại doanh nghiệp chưa đáp ứng đủ nhu cầu.
Từ những phát hiện trên, nhóm tác giả đề xuất 3 nhóm hàm ý chính sách cho chính quyền TP. Hồ Chí Minh:
Thứ nhất, mở rộng hệ thống an sinh và bảo vệ lao động phi chính thức: Cần có các chính sách hỗ trợ BHXH tự nguyện, kết nối việc làm và đào tạo kĩ năng đặc thù cho nhóm lao động này, đặc biệt là lao động nhập cư.
Thứ hai, thiết kế các chương trình đào tạo lại tập trung vào “lỗ hổng kĩ năng”: Ưu tiên đào tạo ngoại ngữ và kĩ năng chuyên ngành số. Khuyến khích mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong đào tạo, nơi doanh nghiệp cam kết đầu tư đào tạo và chính quyền hỗ trợ chi phí.
Thứ ba, tăng cường truyền thông và hệ thống cảnh báo sớm: Cung cấp thông tin minh bạch về xu hướng công nghệ, ngành nghề có nguy cơ cao bị tác động và các cơ hội việc làm mới, giúp người lao động chủ động định hướng nghề nghiệp, biến sự chuyển dịch thụ động thành chủ động.
(*) Lời cảm ơn: Bài báo này là sản phẩm của đề tài nghiên cứu mã số CS.2025.B2.030 được tài trợ bởi Trường Đại học Sài Gòn
Tài liệu tham khảo:
1. Acemoglu, D., & Restrepo, P. (2020). Robots and jobs: Evidence from US labor markets. Journal of Political Economy, 128(6), 2188-2244.
2. Asghar, R., & McCaig, B. (2024). Trade, structural change and labour market transitions in Vietnam. Structural Transformation and Economic Growth (STEG) WP093.
3. Autor, D. H., Levy, F., & Murnane, R. J. (2020). The skill content of recent technological change: An empirical exploration. Quarterly Journal of Economics, 118(4), 1279-1333.
4. Clark C. (1940). The Conditions of Economic Progress. McMillan & Co., London.
5. Dũng Hiếu (2024). Challenges from labor quality. https://en.vneconomy.vn
6. Do, C. Q. (2011). Understanding Industrial Relations Transformation in Vietnam: A multi-dimensional approach (Doctoral dissertation). The University of Sydney.
7. Fisher R. A. (1935). The Mathematical Distributions Used in the Common Tests of Significance, Econometrica, 3(4), 353-365.
8. ILO (2023). World Employment and Social Outlook: Trends 2023. Geneva: International Labour Office.
9. Lewis, W. A. (1954). Economic development with unlimited supplies of labour. The Manchester School, 22(2), 139-191.
10. Ranis, G., & Fei, J. C. (1961). A theory of economic development. The American Economic Review, 51(4), 533-565.
11. Tổng cục Thống kê (2024). Niên giám thống kê TP. Hồ Chí Minh 2023. Nxb Thống kê.
12. Tổng cục Thống kê (2025a). Báo cáo tình hình lao động việc làm quý IV và năm 2024.
13. Tổng cục Thống kê (2025b). Dự báo nguồn nhân lực TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030.
14. Vũ Huyền Trang, Nguyễn Thị Minh & Lê Hoàng Anh (2025). Khoảng cách kỹ năng trong bối cảnh chuyển đổi số: Nghiên cứu tại các doanh nghiệp TP.HCM. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 312, 45-58.
| Ngày nhận bài: 5/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/4/2026; Ngày duyệt đăng: 27/4/2026 |
Các tin khác
Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai