Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách địa phương tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 17:11 | 28/05/2026
Quản lý ngân sách địa phương không diễn ra trong môi trường tĩnh, mà chịu tác động bởi nhiều yếu tố mang tính hệ thống, cả từ bên trong bộ máy quản trị lẫn từ bối cảnh kinh tế - xã hội bên ngoài.

Lương Thị Thu Trang

Thanh tra Chính phủ

Email: trangltt@thanhtra.gov.vn

Tóm tắt

Quản lý ngân sách nhà nước là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý tài chính công và là công cụ quan trọng nhất để nhà nước thực hiện các nhiệm vụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế và xã hội. Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách tại Việt Nam, bao gồm: hiệu quả phân bổ và sử dụng ngân sách; mức độ minh bạch và trách nhiệm giải trình và ảnh hưởng của công nghệ số đến hoạt động quản lý ngân sách hiện tại. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản để tăng cường hiệu quả quản lý ngân sách như tăng cường trách nhiệm giải trình, đào tạo đội ngũ nhân lực hay chuyển đổi phần mềm trong quản lý ngân sách, hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu số, an ninh mạng và công nghệ mới.

Từ khóa: Quản lý ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương

Abstract

State budget management is one of the most important components of public financial management and serves as a key instrument for the State to perform macroeconomic and social regulatory functions. This study analyzes factors affecting budget management in Viet Nam, including the efficiency of budget allocation and utilization; the level of transparency and accountability; and the impact of digital technology on current budget management activities. Based on these findings, the author proposes several solutions to enhance the effectiveness of budget management, including strengthening accountability, improving human resource training, upgrading budget management software systems, and completing the legal framework for digital data, cybersecurity, and emerging technologies.

Keywords: State budget management, local budget

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quản lý ngân sách địa phương (NSĐP) cấp tỉnh là một quá trình có tính hệ thống, trong đó việc tuân thủ các nguyên tắc tài chính công đóng vai trò cốt lõi nhằm đảm bảo hiệu quả, công bằng và tính bền vững của tài khóa địa phương. Các nguyên tắc này không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật quản trị tài chính, mà còn phản ánh mức độ dân chủ, minh bạch và trách nhiệm của chính quyền địa phương trước người dân. Đồng thời, việc xác lập các mục tiêu quản lý ngân sách rõ ràng là cơ sở định hướng cho các quyết định thu - chi, kiểm soát rủi ro và phân bổ nguồn lực công hiệu quả.

Quản lý NSĐP không diễn ra trong môi trường tĩnh, mà chịu tác động bởi nhiều yếu tố mang tính hệ thống, cả từ bên trong bộ máy quản trị lẫn từ bối cảnh kinh tế - xã hội bên ngoài. Việc tăng cường hiệu quả quản lý chi NSĐP là yêu cầu cấp thiết, vừa đáp ứng kỳ vọng của người dân, vừa góp phần củng cố niềm tin xã hội đối với bộ máy nhà nước.

Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích thực trạng hoạt động quản lý NSĐP ở Việt Nam hiện nay, làm rõ những tồn tại, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách theo hướng hiện đại, minh bạch và gắn với kết quả đầu ra.

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM

Hiệu quả phân bổ và sử dụng ngân sách địa phương

Để thể chế hóa chủ trương “Địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (Quốc hội, 2025) đã quy định rõ cơ chế phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn giữa Trung ương và địa phương tại Điều 12, Điều 13, Điều 14 và các quy định khác có liên quan, tập trung vào việc nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tính chủ động, sáng tạo của chính quyền các cấp (tỉnh và xã) trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Thực trạng phân bổ và sử dụng ngân sách của địa phương có các đặc điểm sau:

Phân bổ ngân sách

Trong nhiều năm, việc phân bổ ngân sách ở các địa phương Việt Nam còn mang tính bình quân, chia đều cho các ngành, các đơn vị mà chưa dựa trên đánh giá hiệu quả đầu ra hoặc ưu tiên chiến lược phát triển dài hạn. Hệ quả là ngân sách bị dàn trải, không tạo được trọng tâm và đòn bẩy phát triển, đặc biệt trong đầu tư công. Theo Dự thảo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) từ năm 2027 đối với các địa phương phù hợp với khả năng cân đối NSNN năm 2027, kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2026-2030 (Bộ Tài chính, 2026). Ưu tiên nguồn lực để thực hiện cải cách tiền lương, thực hiện các nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa. Từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, phấn đấu giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên, góp phần cơ cấu lại NSNN, sắp xếp tổ chức bộ máy gắn với phân cấp, phân quyền, phát huy tính chủ động, tự lực, tự cường của các cấp, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng Bộ, cơ quan trung ương và địa phương.

Cơ cấu thu - chi ngân sách

Về thu NSNN: Năm 2025, tổng thu NSNN đạt 2650,1 nghìn tỷ đồng. Số này vượt gần 35% dự toán và cao hơn 30% so với cùng kỳ 2024. Trong đó, thu nội địa đóng góp khoảng 86% tổng thu ngân sách 2025, đạt gần 2,3 triệu tỷ đồng (Hình 1).

Hình 1: Tỷ lệ thu ngân sách nhà nước năm 2025

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách địa phương tại Việt Nam

Nguồn: Bộ Tài chính, 2025

Chi NSNN: Tổng chi ngân sách nhà nước tháng 12/2025 đạt 350,1 nghìn tỷ đồng; lũy kế năm 2025 ước đạt 2.401,5 nghìn tỷ đồng, bằng 93,2% dự toán năm và tăng 31,2% so với năm trước. Trong đó, chi thường xuyên năm 2025 ước đạt 1.553,0 nghìn tỷ đồng, bằng 97,2% dự toán năm và tăng 30,4% so với năm trước; chi đầu tư phát triển ước đạt 732,0 nghìn tỷ đồng, bằng 92,6% và tăng 38,3%; chi trả nợ lãi 109,4 nghìn tỷ đồng, bằng 99,0% và tăng 1,0%. Tỷ lệ chi thường xuyên chiếm tỷ lệ cao, thường từ 60%-65%, năm 2025 tỷ lệ chi này chiếm 64,9% chi NSNN (Bộ Tài chính, 2025b).

Định mức, quy trình và giám sát phân bổ

Việc phân bổ NSĐP hiện nay vẫn chịu ảnh hưởng lớn của hệ thống định mức và cơ chế kế hoạch hóa hành chính. Định mức chi tiêu thường được xây dựng theo kiểu “mặc định”, không thay đổi theo hiệu quả sử dụng, dẫn đến tình trạng đơn vị nào cũng được cấp phát giống nhau bất kể hiệu suất. Ngoài ra, công tác giám sát quá trình phân bổ và sử dụng ngân sách - từ phía HĐND, kiểm toán, đến cộng đồng dân cư - vẫn còn mang tính hình thức ở nhiều nơi, do thiếu thông tin, công cụ và năng lực thực chất.

Mức độ minh bạch và trách nhiệm giải trình ngân sách nhà nước

Minh bạch ngân sách của chính quyền tác động tích cực đến sự phát triển bền vững của các quốc gia, vùng lãnh thổ. Ở Việt Nam, việc công khai, minh bạch NSNN từ cấp Trung ương đến địa phương ngày càng được quan tâm. Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, Thông tư số 343/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện công khai NSNN đối với các cấp ngân sách được ban hành và Chỉ số công khai ngân sách cấp tỉnh (POBI) được xây dựng. Minh bạch và trách nhiệm giải trình là hai nguyên tắc nền tảng của quản lý tài chính công hiện đại, gắn liền với khái niệm quản trị công tốt.

Mức độ minh bạch ngân sách của chính quyền cấp tỉnh được đo lường thông qua POBI. POBI được khảo sát tại 63 tỉnh, thành phố từ năm 2017, căn cứ vào các quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 kết hợp với các quy định về công khai, minh bạch của Việt Nam. Chỉ số POBI dựa trên việc công khai các tài liệu ngân sách tỉnh trên cổng thông tin điện tử của UBND, HĐND, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư của các tỉnh, thành phố. Theo kết quả khảo sát POBI, mức độ công khai ngân sách của các tỉnh từ năm 2017 đến 2019 có nhiều cải thiện, song từ năm 2019 đến 2022 lại không có nhiều chuyển biến. Điểm trung bình của chỉ số POBI năm 2019 là 65,55/100 điểm, năm 2020 là 69,09/100 điểm, đến năm 2021 là 69,53/100 điểm, chỉ tăng 0,44 điểm so với năm 2020; điểm trung bình POBI năm 2022 là 69,42/100 điểm, giảm nhẹ so với năm 2021 (Hình 2).

Hình 2: Điểm trung bình khảo sát POBI qua các năm từ 2017 đến 2022

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách địa phương tại Việt Nam

Nguồn: POBI (2017-2022)

Ảnh hưởng của công nghệ thông tin trong quản lý thu - chi ngân sách nhà nước

Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Các mạng công nghiệp 4.0 (Bộ Chính trị, 2019) với nội dung cốt lõi là thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số và tiên phong thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trong các cơ quan Chính phủ bảo đảm thống nhất, kết nối liên thông và đồng bộ, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thu thập, quản lý dữ liệu và giao dịch trên nền tảng internet ở các cơ quan nhà nước.

Cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, Bộ Tài chính đã chủ động, tích cực xây dựng hệ sinh thái tài chính số toàn diện, hiện đại trên mọi lĩnh vực. Quyết định số 1484/QĐ-BTC ban hành Kế hoạch Chuyển đổi số của Bộ Tài chính đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Bộ Tài Chính, 2022) đã đề ra các nhiệm vụ và giải pháp: (i) Triển khai nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu ngành Tài chính (FDXP) đảm bảo kết nối các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trong nội bộ, kết nối với Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP); (ii) Phát triển các ứng dụng, dịch vụ chuyên ngành phục vụ nội bộ và kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin trong và ngoài bộ, ngành, địa phương theo nhu cầu; và (iii) Ứng dụng mạnh mẽ, hiệu quả các công nghệ số mới trong xây dựng, triển khai các ứng dụng, dịch vụ và tự động hóa, thông minh hóa, tối ưu hóa các quy trình xử lý công việc trong các lĩnh vực như chứng khoán, dự trữ, thuế, hải quan, kho bạc và các ứng dụng phục vụ công tác chỉ đạo điều hành.

Về thuế điện tử: Tính đến tháng 10/2025, có 994.230 doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử, đạt tỷ lệ 99,38% trên tổng số hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Ngành thuế cũng đã kết nối với 57 ngân hàng thương mại để triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử. Đến nay, 993.401 doanh nghiệp đã đăng ký tham gia, đạt tỷ lệ 99,29% (Lục Giang, 2025).

Về hải quan điện tử và cơ chế một cửa quốc gia: Dưới sự chỉ đạo tập trung từ Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và tạo thuận lợi thương mại, Việt Nam đang triển khai Cổng thông tin một cửa quốc gia. Theo đó, 100% thủ tục hải quan cơ bản được số hóa, tỷ lệ DN tham gia hệ thống đạt khoảng 99,65%. Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) đã tích hợp trên 250 thủ tục hành chính của 13 bộ, ngành; cơ quan Hải quan đã trao đổi chính thức thông tin chứng nhận xuất xứ mẫu D điện tử với 9 nước ASEAN thông qua Cơ chế một cửa ASEAN. Mỗi năm có hơn 4 triệu giao dịch được thực hiện qua NSW. Ngoài ra, thủ tục cho tàu thuyền xuất nhập cảnh tại các cảng biển trên toàn quốc và tàu bay xuất nhập cảnh tại các sân bay quốc tế đều được thực hiện qua Cơ chế này (Nụ Bùi, 2025).

Về kho bạc số - Dịch vụ công trực tuyến kho bạc nhà nước: Kho bạc Nhà nước đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, coi đây là động lực quan trọng để hiện đại hóa các hoạt động nghiệp vụ. Các dự án công nghệ thông tin được triển khai đồng bộ theo Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2030 và Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin giai đoạn 2021-2025. Trong đó, nổi bật là việc nâng cấp hệ thống dịch vụ công trực tuyến, bổ sung Cổng trao đổi dữ liệu qua internet với các nhà cung cấp dịch vụ điện, nước, viễn thông và triển khai diện rộng trên toàn quốc. Kho bạc Nhà nước cũng đã hoàn thành thí điểm quy trình kiểm soát, thanh toán và chi trả cho cá nhân qua tài khoản; xây dựng và triển khai kết nối liên thông chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ĐTKB-GD (chương trình quản lý, kiểm soát chi đầu tư) sang TABMIS (hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc) và hệ thống thanh toán điện tử với ngân hàng.

Về quản lý chi tiêu công và đầu công qua TABMIS, e-GP: Theo Thông tư số 132/2025/TT-BTC ngày 24/12/2025 (Bộ Tài chính, 2025a) Hướng dẫn tổ chức vận hành, khai thác Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS), căn cứ quyết định giao, bổ sung, điều chỉnh hoặc ứng trước dự toán của cấp có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước sẽ phê duyệt bút toán dự toán trên TABMIS của các đơn vị dự toán cấp I đã tham gia trực tiếp TABMIS. Đối với các đơn vị chưa tham gia trực tiếp, Kho bạc thực hiện nhập và phê duyệt bút toán dự toán phân bổ từ cấp 1 đến cấp trung gian, cấp 4. Thời hạn nhập và phê duyệt dự toán không quá 3 ngày làm việc. Thời hạn phê duyệt dự toán do các đơn vị khác nhập không quá 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản giao, bổ sung hoặc điều chỉnh dự toán và các đơn vị hoàn tất công việc trên hệ thống.

Đối với ngân sách cấp tỉnh, Kho bạc Nhà nước khu vực sẽ phê duyệt bút toán dự toán trên TABMIS của các đơn vị dự toán cấp I đã tham gia trực tiếp, đồng thời nhập và phê duyệt bút toán phân bổ từ cấp 1 đến cấp trung gian (nếu có) và cấp 4 đối với các đơn vị chưa tham gia trực tiếp. Thời hạn nhập và phê duyệt dự toán không quá 3 ngày làm việc; thời hạn phê duyệt dự toán do các đơn vị khác nhập không quá 1 ngày kể từ ngày nhận văn bản giao, bổ sung hoặc điều chỉnh dự toán. Nếu phát hiện chênh lệch dự toán, Kho bạc khu vực thông báo ngay cho đơn vị dự toán cấp I hoặc Sở Tài chính trong vòng một ngày làm việc để kịp thời xử lý.

Đối với ngân sách xã, Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch sẽ thực hiện nhập, phê duyệt phân bổ, điều chỉnh dự toán và Lệnh chi tiền thuộc ngân sách xã trong trường hợp xã chưa tổ chức nhập. Nếu UBND xã phân bổ dự toán cho các đơn vị dự toán cấp I trực thuộc để phân bổ tiếp, Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch sẽ nhập và phê duyệt dự toán từ cấp 0 đến cấp 4, bao gồm cả phân bổ cấp trung gian nếu có. Trong trường hợp UBND xã phân bổ trực tiếp dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách, Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch sẽ nhập và phê duyệt dự toán từ cấp 0 đến cấp 4, đồng thời nhập và phê duyệt Lệnh chi tiền trên TABMIS.

HẠN CHẾ TRONG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM

Thứ nhất, việc phân công quản lý ngân sách còn hiện tượng chồng chéo thẩm quyền giữa các cấp chính quyền vẫn còn tồn tại. Việc lập, xét duyệt và quyết định dự toán ngân sách ở cấp dưới còn phụ thuộc vào cấp trên, làm giảm tính chủ động của chính quyền địa phương, đồng thời khiến quy trình lập và tổng hợp ngân sách trở nên rườm rà, thiếu hiệu quả. Tình trạng thiếu rõ ràng trong phân định trách nhiệm cũng ảnh hưởng đến khả năng giải trình và đánh giá hiệu quả chi tiêu công.

Thứ hai, năng lực quản lý tài chính công ở cấp địa phương còn hạn chế. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, các địa phương xã, phường đã được bổ sung đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn về quản lý ngân sách. Tuy nhiên, đội ngũ nhân sự vẫn còn thiếu các kỹ năng như kỹ năng lập kế hoạch tài chính, phân tích đầu tư, sử dụng công cụ hiện đại và quản lý ngân sách theo kết quả. Việc lập dự toán ngân sách ở một số địa phương còn mang tính hình thức, thiếu căn cứ thực tiễn, dẫn đến tình trạng điều chỉnh nhiều lần trong năm. Phân bổ ngân sách dàn trải, đầu tư công chưa dựa trên thứ tự ưu tiên chiến lược.

Thứ ba, việc thiếu các công cụ hỗ trợ như dashboard quản trị, phân tích dữ liệu tài chính công, giám sát đầu tư công… khiến quá trình quản lý tài chính địa phương gặp nhiều hạn chế trong thời kỳ chuyển đổi số.

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH

Một là, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình ngân sách của các địa phương. Minh bạch và trách nhiệm giải trình là 2 trụ cột quan trọng trong quản trị công hiện đại, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách và củng cố niềm tin của người dân đối với chính quyền. Do vậy, cần xây dựng cơ chế công khai NSĐP một cách định kỳ, với hình thức trình bày dễ hiểu, dễ tiếp cận thông qua cổng thông tin điện tử và các báo cáo dân chủ hóa ngân sách. Người đứng đầu các đơn vị hành chính phải chịu trách nhiệm giải trình trước cơ quan dân cử và công chúng về các quyết định tài chính của mình. Bên cạnh đó, cần tổ chức bồi dưỡng kỹ năng công khai, đối thoại và giải trình cho đội ngũ cán bộ, công chức; đưa tiêu chí minh bạch, giải trình vào nội dung đánh giá kết quả công tác, thi đua - khen thưởng cuối năm.

Hai là, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhân lực làm công tác quản lý NSNN tại các địa phương đặc biệt ứng dụng công nghệ số, thực hiện chuyển đổi TABMIS sang Hệ thống thông tin ngân sách và kế toán nhà nước số (VDBAS). Theo kế hoạch, VDBAS được thiết kế trên nền tảng công nghệ hiện đại, kiến trúc mở, linh hoạt và có khả năng tích hợp cao. Hệ thống này bao gồm các mô đun: Phân hệ sổ cái kế toán nhà nước; phân hệ dịch vụ công trực tuyến; phân hệ quản lý thu và thanh toán; phân hệ kho dữ liệu.

Ba là, hoàn thiện hành lang pháp lý về dữ liệu số, an ninh mạng và công nghệ mới. Việc triển khai công nghệ số trong tài chính công đòi hỏi một khung pháp lý rõ ràng và đồng bộ để đảm bảo an toàn, minh bạch và hiệu quả. Do đó, cần xây dựng và hoàn thiện luật và quy định quản trị dữ liệu tài chính công bao gồm: phân loại, lưu trữ, chia sẻ, bảo mật và quyền tiếp cận dữ liệu.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

2. Bộ Tài chính (2016). Thông tư số 343/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 hướng dẫn thực hiện công khai NSNN đối với các cấp ngân sách.

3. Bộ Tài Chính (2022). Quyết định số 1484/QĐ-BTC ngày 27/7/2022 ban hành Kế hoạch Chuyển đổi số của Bộ Tài chính đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

4. Bộ Tài chính (2025a). Thông tư số 132/2025/TT-BTC ngày 24/12/2025 hướng dẫn tổ chức vận hành, khai thác Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS).

5. Bộ Tài chính (2025b). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.

6. Bộ Tài chính (2026). Công văn số 2245/BTC-NSNN ngày 26/2/2026 xin ý kiến về hồ sơ trình chính phủ về các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN áp dụng từ năm 2027.

7. Lục Giang (2025). 994.230 doanh nghiệp sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử. https://laodong.vn/kinh-doanh/994230-doanh-nghiep-su-dung-dich-vu-khai-thue-dien-tu-1593647.ldo

8. Nụ Bùi (2025). Hải quan nỗ lực không ngừng trong chuyển đổi, số hóa thủ tục. https://thuehaiquan.tapchikinhtetaichinh.vn/hai-quan-no-luc-khong-ngung-trong-chuyen-doi-so-hoa-thu-tuc-135604.html

9. POBI (2017-2022). Chỉ số công khai ngân sách tỉnh - Đo lường mức độ công khai thông tin NSĐP các năm, từ năm 2017 đến năm 2022.

10. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Số 72/2025/QH15, ngày 16/6/2025.

11. Quốc hội (2015). Luật Ngân sách nhà nước. Số 83/2015/QH1, ngày 25/6/2025.

Ngày nhận bài: 15/03/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 23/5/2026; Ngày duyệt đăng: 27/5/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua các sản phẩm Oishi của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua các sản phẩm Oishi của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Thị trường thực phẩm ăn nhẹ tại Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực nhờ sự phục hồi của nền kinh tế, sự gia tăng thu nhập và xu hướng tiêu dùng các sản phẩm tiện lợi
Bao trùm tài chính số và khả năng chống chịu tài chính của hộ gia đình: Vai trò của tiết kiệm chính thức và bằng chứng từ Global Findex

Bao trùm tài chính số và khả năng chống chịu tài chính của hộ gia đình: Vai trò của tiết kiệm chính thức và bằng chứng từ Global Findex

Nghiên cứu phân tích tác động của bao trùm tài chính số (Digital Financial Inclusion, DFI) đến năng lực dự phòng tài chính và vai trò trung gian của tiết kiệm chính thức ở cấp độ quốc gia. Kết quả cho thấy, các kiểm định độ vững xác nhận rằng tác động của DFI đến khả năng chống chịu tài chính chủ yếu được truyền dẫn thông qua việc thúc đẩy tiết kiệm chính thức.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Nghiên cứu xây dựng mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Việc phát triển mô hình không chỉ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về sự hài lòng công việc mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản trị trong việc hoạch định chính sách, cải thiện môi trường làm việc... từ đó tăng cường hiệu quả hoạt động và hỗ trợ sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh ngày càng gay gắt, đổi mới sáng tạo trở thành một trong những động lực quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững. Đổi mới sáng tạo không chỉ giới hạn ở việc tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới mà còn bao gồm đổi mới quy trình, đổi mới quản trị, đổi mới mô hình kinh doanh và ứng dụng công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch trong đó cộng đồng địa phương giữ vai trò trung tâm trong quá trình tổ chức, quản lý, khai thác và hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Theo Ban Thư ký ASEAN (2016), du lịch cộng đồng là hoạt động du lịch do cộng đồng sở hữu, vận hành và được quản lý hoặc điều phối ở cấp cộng đồng, qua đó góp phần nâng cao phúc lợi cộng đồng, hỗ trợ sinh kế bền vững, bảo vệ các truyền thống văn hóa - xã hội cũng như tài nguyên thiên nhiên và văn hóa địa phương.
Nghiên cứu so sánh chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung Quốc, Hàn Quốc và gợi ý cho Việt Nam

Nghiên cứu so sánh chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung Quốc, Hàn Quốc và gợi ý cho Việt Nam

Trong cấu trúc kinh tế hiện đại, doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò là động lực cốt lõi thúc đẩy việc làm và tăng trưởng.
Đa dạng hóa thị trường và đối tác kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn

Đa dạng hóa thị trường và đối tác kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đa dạng hóa thị trường và đối tác kinh tế đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng đối với nhiều quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam
Cá nhân hoá hành trình khách hàng dựa trên AI tác động đến lòng trung thành thương hiệu - Vai trò trung gian của niềm tin thương hiệu

Cá nhân hoá hành trình khách hàng dựa trên AI tác động đến lòng trung thành thương hiệu - Vai trò trung gian của niềm tin thương hiệu

Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) đang định hình lại cách doanh nghiệp cá nhân hóa hành trình khách hàng, từ đề xuất sản phẩm đến giao tiếp và trải nghiệm mua sắm đa kênh
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng kế toán tinh gọn tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng kế toán tinh gọn tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh áp lực cạnh tranh gay gắt từ quá trình hội nhập, các doanh nghiệp sản xuất hiện nay đang ưu tiên áp dụng mô hình sản xuất tinh gọn nhằm tối ưu hóa quy trình vận hành và triệt tiêu các lãng phí phát sinh (Womack & Jones, 1996). Để phát huy hiệu quả toàn diện của mô hình này, hệ thống kế toán truyền thống cần thực hiện bước chuyển đổi sang kế toán tinh gọn.
Giải pháp nâng cao sự hài lòng của cư dân về dịch vụ quản lý vận hành tại các chung cư trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Giải pháp nâng cao sự hài lòng của cư dân về dịch vụ quản lý vận hành tại các chung cư trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ quản lý vận hành chung cư bao gồm nhiều hoạt động như quản lý tiện ích, bảo trì - sửa chữa, vệ sinh, an ninh và tổ chức các tiện ích phục vụ đời sống cư dân. Các yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm sinh sống và mức độ hài lòng của cư dân.