Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường xổ số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

Nghiên cứu - Trao đổi 10:37 | 09/10/2026
Từ ngày 1/7/2025, 3 tỉnh Đắk Nông, Bình Thuận và Lâm Đồng hợp nhất thành tỉnh Lâm Đồng, khiến địa phương này trở thành cơ quan đại diện chủ sở hữu của 3 công ty xổ số kiến thiết nhưng lại không cùng một hệ thống thị trường, khi Lâm Đồng và Bình Thuận thuộc khu vực miền Nam, Đắk Nông ở khu vực miền Trung.

ThS. Phạm Năng Hiệp

NCS Trường Đại học Thủy lợi; Email: [email protected]

PGS, TS. Đỗ Văn Quang

TS. Bùi Anh Tú

Email: [email protected]

Trường Đại học Thủy lợi

Tóm tắt

Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh ngày 1/7/2025, Lâm Đồng là địa phương duy nhất cả nước đại diện chủ sở hữu 3 Công ty xổ số kiến thiết thuộc 2 khu vực thị trường, trong khi chủ trương mỗi tỉnh một công ty đòi hỏi phải hợp nhất các đơn vị này. Nghiên cứu lượng hóa ảnh hưởng của 7 nhóm nhân tố tới phát triển thị trường xổ số nhằm xác lập thứ tự ưu tiên chính sách. Khung nhân tố được dẫn xuất từ cấu trúc thị trường, hệ thống công cụ quản lý và hệ tiêu chí đánh giá, đo bằng 32 biến quan sát trên thang Likert. Dữ liệu gồm 379 quan sát tại tiểu vùng duyên hải Nam Trung Bộ, xử lý bằng SPSS 26.0 qua kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá, hồi quy bội và phân tích trung gian. Mô hình giải thích 53,12% biến thiên; 3 nhân tố đạt ý nghĩa thống kê là Mức độ chấp nhận của cộng đồng, Điều kiện kinh tế địa phương và Chính sách pháp luật, quản lý nhà nước. Bốn nhân tố chính sách đều ảnh hưởng gián tiếp qua kênh chấp nhận xã hội.

Từ khóa: Chính sách phát triển, hợp nhất đơn vị hành chính, Lâm Đồng, nhân tố ảnh hưởng, thị trường xổ số

Abstract

Following the administrative merger on July 1, 2025, Lam Dong became the only locality in Viet Nam representing the state ownership of three lottery companies operating in two regional markets, while the policy of one lottery company per province requires these entities to be consolidated. This study quantifies the effects of seven groups of factors on lottery market development to establish policy priorities. The analytical framework is derived from market structure, the management instrument system, and the evaluation criteria system, measured using 32 observed variables on a Likert scale. The dataset comprises 379 observations from the South Central Coast subregion and is analyzed using SPSS 26.0 through reliability testing, exploratory factor analysis, multiple regression, and mediation analysis. The model explains 53.12% of the variance, with three factors achieving statistical significance: Community acceptance, Local economic conditions, and Legal policies and state management. All four policy factors have indirect effects through the social acceptance channel.

Keywords: Development policies, administrative entity consolidation, Lam Dong, influencing factors, lottery market

GIỚI THIỆU

Tại Việt Nam, xổ số kiến thiết là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, do Nhà nước cấp phép và quản lý chặt chẽ về sản phẩm, phân phối và chế độ tài chính, vì nguồn thu là khoản thu ngân sách địa phương được hưởng 100%, ưu tiên cho giáo dục, y tế và phòng chống thiên tai. Doanh thu kinh doanh xổ số năm 2024 đạt 159.477 tỷ đồng với số nộp ngân sách 50.907 tỷ đồng (Bộ Tài chính, 2024). Hiện cả nước có 63 công ty xổ số kiến thiết địa phương phân thành 3 khu vực với mức độ phân hóa rất lớn. Ngày 19/11/2025 Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc kết luận nguyên tắc mỗi tỉnh chỉ có 1 công ty xổ số kiến thiết (Văn phòng Chính phủ, 2025). Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 (Quốc hội, 2025), từ ngày 1/7/2025, 3 tỉnh Đắk Nông, Bình Thuận và Lâm Đồng hợp nhất thành tỉnh Lâm Đồng, khiến Lâm Đồng trở thành cơ quan đại diện chủ sở hữu của 3 công ty xổ số kiến thiết. Ba doanh nghiệp nhưng không cùng một hệ thống thị trường: Lâm Đồng và Bình Thuận thuộc khu vực miền Nam, Đắk Nông ở khu vực miền Trung.

Các nghiên cứu về xổ số ở Việt Nam đến nay chủ yếu phân tích về hiệu quả tài chính của một doanh nghiệp, quản lý nhà nước ở cấp quốc gia hoặc khảo sát hành vi người tham gia. Hiện chưa có công trình nào lượng hóa nhân tố ảnh hưởng ở cấp tỉnh trong điều kiện một địa phương quản lý đồng thời nhiều doanh nghiệp thuộc các khu vực thị trường khác nhau. Nghiên cứu này xây dựng và kiểm định khung 7 nhân tố, lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố để xác lập thứ tự ưu tiên và đề xuất khuyến nghị cho Tỉnh.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Kinh tế học xổ số được đặt nền móng bởi Friedman và Savage (1948) với cách giải thích vì sao một cá nhân có thể đồng thời mua bảo hiểm và mua vé số. Clotfelter và Cook (1990) chỉ ra bản chất của xổ số nhà nước như một hình thức thu ngân sách ẩn sau vỏ bọc giải trí; Garrett và Sobel (2004) cùng Kearney (2005) cho thấy doanh thu chịu chi phối của đặc tính sản phẩm và hành vi tiêu dùng; Beckert và Lutter (2013) lý giải vì sao nhóm thu nhập thấp tham gia nhiều hơn. Cơ sở cho nghiên cứu ở cấp tỉnh đến từ Lý thuyết điều tiết của Stigler (1971), Baldwin và cộng sự (2012) trong thị trường mà cung được ấn định bằng quyết định hành chính, chất lượng thể chế đảm nhận vai trò mà cạnh tranh đảm nhận ở thị trường tự do.

Nếu lấy doanh thu làm thước đo, mô hình sẽ trả lời câu hỏi làm thế nào bán được nhiều vé hơn, trong khi câu hỏi chính sách thực sự là làm thế nào để thị trường hợp pháp vận hành lành mạnh hơn. Phát triển là nâng cao chất lượng thể chế và hiệu quả quản trị thị trường hợp pháp và đo biến phụ thuộc bằng 4 khía cạnh gồm: quy mô thị trường hợp pháp; độ bao phủ của hệ thống phân phối; hiệu quả kinh doanh cùng đóng góp ngân sách và tính bền vững.

Khung nhân tố được tự xây dựng thay vì lấy sẵn từ một mô hình có trước, vì khung vay mượn từ thị trường khác sẽ chứa những nhân tố không phù hợp với đặc thù của xổ số và bỏ sót những nhân tố mà chỉ thị trường này mới có. Bốn nguồn dẫn xuất gồm: cấu trúc thị trường, hệ thống công cụ quản lý, hệ tiêu chí đánh giá với nguyên tắc mỗi tiêu chí phải có ít nhất một nhân tố chi phối và môi trường ngoài tầm kiểm soát của chính quyền địa phương được đưa vào để tránh ước lượng chệch do bỏ sót biến. Danh sách sơ bộ được sàng lọc theo 4 tiêu chí: (i) cơ sở lý luận, (ii) đo lường được bằng thang đo nhận thức; (iii) phân biệt được về nội hàm; (iv) có ý nghĩa đối với chủ thể quản lý. Bốn nhân tố bị loại là nhân tố quốc tế, chính trị, tự nhiên và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.

Bảng 1: Khung 7 nhân tố ảnh hưởng và cách đo lường

Nhân tố

Nội hàm đo lường

(mỗi nhân tố 4 biến quan sát)

Nhóm

Dấu kỳ vọng

X1. Chính sách pháp luật và quản lý nhà nước

Độ rõ ràng và khả thi của quy định; hiệu quả giám sát; tính kịp thời trong xử lý vi phạm

Can thiệp được

+

X2. Chính sách tài chính và phân phối lợi ích

Mức hoa hồng; tính hài hòa của cơ chế phân chia lợi ích; hỗ trợ tài chính cho đại lý

Can thiệp được

+

X3. Điều kiện kinh tế địa phương

Tăng trưởng kinh tế; thu nhập dân cư; du lịch, thương mại; sức mua trên địa bàn

Bối cảnh

+

X4. Văn hóa, xã hội và mức độ chấp nhận của cộng đồng

Thói quen mua vé số; cách nhìn nhận của xã hội; nhận thức về ý nghĩa công ích; niềm tin

Bối cảnh

+

X5. Khoa học kỹ thuật và chuyển đổi số

Ứng dụng công nghệ trong quản lý; chống vé giả; thuận tiện khi tra cứu kết quả

Can thiệp được

+

X6. Tổ chức nhân sự và kênh phân phối

Năng lực điều hành; tính hợp lý của mạng lưới đại lý; phối hợp với đại lý

Can thiệp được

+

X7. Dân số và nhân khẩu học

Quy mô và cơ cấu dân số; mật độ dân cư và đô thị hóa; khách vãng lai, khách du lịch

Bối cảnh

+

Nguồn: Nhóm tác giả xây dựng

Kết quả về nhóm can thiệp được chuyển hóa trực tiếp thành khuyến nghị chính sách, còn kết quả về nhóm bối cảnh giúp điều chỉnh kỳ vọng về mục tiêu. Bảy giả thuyết H1 đến H7 tương ứng với 7 nhân tố (Bảng 1), đều theo chiều thuận; giả thuyết H8 kiểm định sự khác biệt giữa 3 nhóm chủ thể.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường xổ số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

Nguồn: Nhóm tác giả xây dựng

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội dạng:

Y = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 + β6X6 + β7X7 + ε

Trong đó: Y là mức độ phát triển thị trường xổ số; X1 đến X7 là 7 nhóm nhân tố và ε là sai số ngẫu nhiên.

Dạng mô hình này được chọn vì hệ số beta chuẩn hóa cho phép so sánh trực tiếp mức độ ảnh hưởng giữa các nhân tố, điều kiện cần để xác lập thứ tự ưu tiên. Mỗi khái niệm được đo bằng 4 biến quan sát trên thang Likert 5 mức độ, tổng cộng 32 biến; thang đo được chuyên gia thẩm định nội dung và thử nghiệm thực địa trước khi triển khai chính thức.

Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 26.0 qua thống kê mô tả, kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá với phương pháp trích thành phần chính và phép xoay, tương quan và hồi quy bội kèm các kiểm định chẩn đoán. Năm phân tích bổ sung được thực hiện để kiểm chứng kết quả: kiểm định nhân tố đơn của Harman (Podsakoff và cộng sự, 2003); hồi quy phân khối, phân rã hệ số xác định theo phương pháp LMG (Lindeman và cộng sự, 1980); phân tích trung gian với bootstrap 5.000 lần lặp (Preacher và Hayes, 2008), và 3 kiểm định tính vững gồm sai số chuẩn vững kiểu HC3, khoảng cách Cook và ước lượng riêng theo nhóm chủ thể.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu

Khảo sát thu về 379 phiếu hợp lệ, gồm 175 khách hàng mua xổ số thường xuyên chiếm 46,2%, 130 đại lý các cấp chiếm 34,3% và 74 cán bộ, nhân viên công ty xổ số chiếm 19,5%; theo loại địa bàn, đô thị chiếm 36,9%, nông thôn 60,4% và hải đảo 2,6%. Gần 4/10 đáp viên tham gia thị trường trên 5 năm và khoảng 3/4 tiếp xúc với thị trường ít nhất hằng tuần.

Bảng 2: Độ tin cậy, giá trị thang đo và thống kê mô tả các biến nghiên cứu (n = 379)

Thang đo

Cronbach’s Alpha

CR

AVE

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Tương quan với Y

Y. Phát triển thị trường xổ số

0,7981

0,8686

0,6231

3,830

0,510

1

X1. Chính sách pháp luật và quản lý nhà nước

0,8703

0,9114

0,7200

3,450

0,660

0,504

X2. Chính sách tài chính và phân phối lợi ích

0,8113

0,8763

0,6392

3,460

0,550

0,265

X3. Điều kiện kinh tế địa phương

0,8865

0,9216

0,7461

3,410

0,700

0,528

X4. Mức độ chấp nhận của cộng đồng

0,8514

0,8998

0,6919

3,999

0,580

0,537

X5. Khoa học kỹ thuật và chuyển đổi số

0,8406

0,8933

0,6767

3,520

0,610

0,250

X6. Tổ chức nhân sự và kênh phân phối

0,7529

0,8437

0,5745

3,830

0,491

0,239

X7. Dân số và nhân khẩu học

0,7904

0,8643

0,6143

3,220

0,490

0,301

Ngưỡng yêu cầu

> 0,70

> 0,70

> 0,50

Nguồn: Kết quả xử lý của nhóm tác giả trên SPSS 26.0

Phân tích nhân tố khám phá đối với 28 biến độc lập cho hệ số KMO 0,8514, kiểm định Bartlett có ý nghĩa ở mức 1%, 7 nhân tố được trích với giá trị lớn hơn 1 và giải thích 67,31% tổng biến thiên. Toàn bộ 28 biến quan sát đều tải đúng vào nhóm nhân tố lý thuyết, không có biến nào tải chéo, hệ số tải thấp nhất đạt 0,7246; kiểm tra giá trị phân biệt theo tiêu chuẩn Fornell và Larcker (1981) trên 56 cặp so sánh không ghi nhận vi phạm. Nhân tố đầu tiên trong kiểm định Harman chỉ giải thích 24,43% tổng phương sai, tuy vậy kiểm định này chỉ phát hiện được thiên lệch rất lớn nên chưa đủ để kết luận thiên lệch phương pháp chung đã được loại trừ. Giá trị trung bình dao động từ 3,220 đến 3,999, đều ở vùng trên trung bình nhưng chưa đạt mức cao. Ba nhân tố thuộc nhóm can thiệp được là X1, X2 và X5 chỉ đạt quanh mức 3,45 đến 3,52, thấp hơn đáng kể so với X4 và X6: các chủ thể đánh giá cao niềm tin xã hội và năng lực tổ chức của doanh nghiệp nhưng dè dặt hơn với chất lượng thể chế, cơ chế tài chính và mức độ ứng dụng công nghệ.

Bảng 3: Kết quả hồi quy tuyến tính bội và phân rã hệ số xác định (n = 379)

Biến

Hệ số B

Beta chuẩn hóa

t

p

VIF

Đóng góp vào R² (%)

Kết luận giả thuyết

Hằng số

0,6492

3,266

0,0012

X1. Pháp luật và quản lý nhà nước

0,2222

0,2874

7,450

0,0000

1,200

24,98

H1: chấp nhận

X2. Tài chính và phân phối lợi ích

0,0206

0,0222

0,580

0,5620

1,177

3,56

H2: không chấp nhận

X3. Điều kiện kinh tế địa phương

0,2408

0,3303

8,469

0,0000

1,227

28,91

H3: chấp nhận

X4. Mức độ chấp nhận của cộng đồng

0,3068

0,3486

9,077

0,0000

1,190

31,16

H4: chấp nhận

X5. Khoa học kỹ thuật và chuyển đổi số

0,0409

0,0488

1,266

0,2063

1,199

3,30

H5: không chấp nhận

X6. Tổ chức nhân sự và kênh phân phối

-0,0176

-0,0169

-0,430

0,6677

1,247

2,48

H6: không chấp nhận

X7. Dân số và nhân khẩu học

0,0678

0,0651

1,722

0,0859

1,153

5,62

H7: không chấp nhận

Nguồn: Kết quả xử lý của nhóm tác giả trên SPSS 26.0

Mô hình giải thích 53,12% biến thiên của mức độ phát triển thị trường xổ số, mức khá cao đối với mô hình dựa trên dữ liệu nhận thức. Ba nhân tố đạt ý nghĩa ở mức 1% theo thứ tự ảnh hưởng giảm dần là Mức độ chấp nhận của cộng đồng, Điều kiện kinh tế địa phương và Chính sách pháp luật, quản lý nhà nước; 3 nhân tố này cộng lại chiếm 85,05% khả năng giải thích của mô hình. Toàn bộ giả định của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển đều được thỏa mãn, với VIF cao nhất 1,247, Durbin-Watson 2,0600, Jarque-Bera p = 0,8578, Breusch-Pagan p = 0,7778 và RESET p = 0,7795.

Hồi quy phân khối cho thấy 3 nhân tố bối cảnh riêng chúng đã đạt hệ số xác định 0,4633, chiếm hơn 8/10 khả năng giải thích của mô hình đầy đủ. Sau khi kiểm soát toàn bộ bối cảnh, việc thêm 4 nhân tố chính sách vẫn làm tăng hệ số xác định thêm 0,0766 với F thay đổi 15,438 và p < 0,001. Khoảng 7,66% biến thiên là phần chính sách tác động độc lập với bối cảnh, con số nhìn thì nhỏ nhưng trên nền một thị trường có doanh thu trên 14.400 tỷ đồng mỗi năm (Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Lâm Đồng, 2026) thì rất đáng kể và đó là phần duy nhất mà chính quyền chủ động điều chỉnh được.

Việc 3 nhân tố chính sách không đạt ý nghĩa trực tiếp dẫn tới giả định về một cơ chế gián tiếp, được kiểm định bằng phân tích trung gian với X4 là biến trung gian. Đây là phân tích khám phá hậu nghiệm và dữ liệu cắt ngang không thiết lập được trình tự thời gian giữa các biến, nên kết quả không chứng minh được quan hệ nhân quả.

Bảng 4: Kết quả phân tích trung gian qua nhân tố mức độ chấp nhận của cộng đồng

Nhân tố

Đường a

Đường b

Hiệu ứng tổng c

Hiệu ứng trực tiếp c'

Hiệu ứng gián tiếp a×b

Khoảng tin cậy 95% bootstrap

Tỷ lệ

trung gian (%)

X1. Pháp luật và quản lý nhà nước

0,2300

0,3825

0,3896

0,3016

0,0880

[0,0517; 0,1271]

22,6

X2. Tài chính và phân phối lợi ích

0,2166

0,4431

0,2461

0,1501

0,0960

[0,0499; 0,1441]

39,0

X5. Kỹ thuật và chuyển đổi số

0,1796

0,4468

0,2091

0,1288

0,0802

[0,0383; 0,1252]

38,4

X6. Tổ chức và kênh phân phối

0,2343

0,4483

0,2483

0,1433

0,1050

[0,0489; 0,1621]

42,3

Nguồn: Kết quả xử lý của nhóm tác giả

Bảng 4 cho thấy, cả 4 nhân tố chính sách đều có hiệu ứng gián tiếp đạt ý nghĩa thống kê, với khoảng tin cậy bootstrap nằm hoàn toàn về phía dương. Tỷ lệ trung gian cao nhất lại thuộc về 3 nhân tố không có tác động trực tiếp, trong khi X1 chỉ có 22,6% đi qua kênh trung gian: nhân tố nào càng ít tác động trực tiếp thì càng phụ thuộc vào kênh chấp nhận xã hội để phát huy ảnh hưởng.

Về giả thuyết H8, phân tích phương sai không phát hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa ba nhóm chủ thể ở bất kỳ biến nào, kể cả sau hiệu chỉnh Holm; tuy vậy việc không bác bỏ giả thuyết gốc chỉ có nghĩa là dữ liệu chưa cung cấp đủ bằng chứng về sự khác biệt. 3 kiểm định tính vững đều xác nhận kết quả: sai số chuẩn vững kiểu HC3 không làm thay đổi kết luận về bất kỳ hệ số nào; loại 16 quan sát vượt ngưỡng khoảng cách Cook cho hệ số xác định hiệu chỉnh 0,6102, cao hơn mức 0,5312 của mẫu đầy đủ; và ước lượng riêng theo nhóm chủ thể cho hệ số xác định hiệu chỉnh dao động hẹp từ 0,503 đến 0,552.

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết hợp mức độ ảnh hưởng đo bằng hệ số beta chuẩn hóa với mức độ thực hiện đo bằng giá trị trung bình đánh giá cho phép định vị các nhân tố trên ma trận ưu tiên chính sách tại Hình 2.

Hình 2: Ma trận ưu tiên chính sách: mức độ ảnh hưởng và mức độ thực hiện

Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường xổ số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

*Ghi chú: Điểm tô đậm là nhân tố có ý nghĩa thống kê ở mức 5%.

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Phát hiện trung tâm là vị trí dẫn đầu của Mức độ chấp nhận của cộng đồng, nhân tố vừa có hệ số ảnh hưởng lớn nhất vừa đóng góp 31,16% khả năng giải thích của mô hình, nhất quán với lập luận của Beckert và Lutter (2013) về vai trò của chuẩn mực xã hội. Đây cũng là nhân tố có giá trị trung bình cao nhất, nghĩa là thị trường đang sở hữu một tài sản vô hình cần gìn giữ. Hàm ý trực tiếp là mọi diễn biến làm suy giảm niềm tin, từ chậm trả thưởng, thiếu minh bạch trong sử dụng nguồn thu cho tới bất định kéo dài về tổ chức doanh nghiệp, đều gây tổn thất lớn hơn lợi ích ngắn hạn thu được.

Điều kiện kinh tế địa phương xếp thứ hai về mức độ ảnh hưởng nhưng lại có giá trị trung bình thấp thứ hai, cho thấy thị trường xổ số của tiểu vùng phụ thuộc đáng kể vào chu kỳ kinh tế, du lịch và sức mua, phù hợp với kết quả thực nghiệm của Garrett và Sobel (2004) cùng Kearney (2005). Hệ quả cho hoạch định chính sách là không nên đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu làm trọng tâm, nhất là khi tỷ lệ tiêu thụ vé của Công ty Xổ số kiến thiết Lâm Đồng đã đạt bình quân 99,99% trong năm 2025, tức dư địa tăng trưởng thông qua nâng cao hiệu quả tiêu thụ về cơ bản đã cạn (Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Lâm Đồng, 2026).

Chính sách pháp luật và quản lý nhà nước là nhân tố quan trọng nhất trong số những nhân tố mà chính quyền can thiệp trực tiếp được, với tỷ trọng 24,98% trong khả năng giải thích của mô hình, ủng hộ lập luận rằng chất lượng thể chế thay thế vai trò của cạnh tranh trong thị trường mà cung được ấn định bằng quyết định hành chính (Stigler, 1971; Baldwin và cộng sự, 2012). Với giá trị trung bình chỉ 3,450, đây đồng thời là dư địa cải thiện lớn nhất: ảnh hưởng mạnh, mức thực hiện thấp và nằm trong thẩm quyền địa phương khiến hoàn thiện thể chế là can thiệp có hiệu quả biên cao nhất. Phân tích ở cấp biến quan sát chỉ ra chính xác nội dung cần cải thiện: phát biểu về sự rõ ràng và dễ thực hiện của khung pháp lý có giá trị trung bình 3,369, thấp nhất trong nhóm can thiệp được. Điểm yếu không nằm ở việc thiếu quy định mà ở tính rõ ràng và khả thi của quy định đối với người thực hiện.

Phát hiện về cơ chế trung gian làm thay đổi cách đọc toàn bộ kết quả hồi quy. Nếu chỉ dựa vào (Bảng 3), người đọc có thể kết luận rằng cải thiện cơ chế tài chính, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực tổ chức là những việc không cần ưu tiên. Tuy nhiên, ảnh hưởng của chúng được truyền qua Mức độ chấp nhận của cộng đồng và bị hấp thụ vào hệ số của nhân tố đó khi cả 4 cùng có mặt trong mô hình. Ba nhóm giải pháp này không trực tiếp làm thị trường phát triển, mà làm cho các chủ thể tin tưởng hơn vào tính khách quan và chính danh của hoạt động và chính niềm tin đó mới chuyển hóa thành kết quả thị trường.

Ba hạn chế cần ghi nhận: (i) dữ liệu sơ cấp chỉ thu tại 1 trong 3 tiểu vùng nên không suy rộng thống kê cho toàn Tỉnh; (ii) thiết kế cắt ngang chỉ cho phép kết luận về mối liên hệ chứ không về quan hệ nhân quả; (iii) toàn bộ biến được đo trên cùng một phiếu bởi cùng một người trả lời nên khả năng tồn tại thiên lệch phương pháp chung ở mức vừa phải không thể loại trừ.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

Khung 7 nhân tố dẫn xuất từ cấu trúc thị trường, hệ thống công cụ quản lý và hệ tiêu chí đánh giá của chính lĩnh vực xổ số vận hành tốt trên dữ liệu thực tế, với mô hình giải thích 53,12% biến thiên. Ba nhân tố có liên hệ chặt nhất với kết quả thị trường là Mức độ chấp nhận của cộng đồng, Điều kiện kinh tế địa phương và Chất lượng thể chế, cộng lại chiếm 85,05% khả năng giải thích; 4 nhân tố chính sách đều ảnh hưởng gián tiếp qua mức độ chấp nhận của cộng đồng.

Từ kết quả trên, nghiên cứu khuyến nghị cần ưu tiên cao nhất dành cho hoàn thiện thể chế, vì đây là nhân tố vừa có ảnh hưởng lớn, vừa ở mức đang thực hiện thấp, vừa nằm trong thẩm quyền địa phương. Trọng tâm không phải ban hành thêm văn bản mà làm cho quy định hiện có trở nên rõ ràng, dễ áp dụng và có cơ chế kiểm chứng kết quả. Tỉnh nên ban hành một đề án phát triển thị trường xổ số làm khung chính sách thống nhất cho cả 3 tiểu vùng, kèm quy chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan Tài chính, Thuế, Công an và chính quyền cơ sở, đồng thời phân định rõ đầu mối tham mưu quản lý nhà nước với đầu mối thực hiện quyền chủ sở hữu để xử lý xung đột vai trò ở cấp tỉnh.

Nhóm khuyến nghị thứ hai hướng tới gìn giữ tài sản niềm tin. Biện pháp ít tốn kém nhưng hiệu quả cao là công bố báo cáo thường niên về giá trị công của nguồn thu xổ số, nêu cụ thể từng trường học, trạm y tế hay công trình phòng chống thiên tai được đầu tư từ nguồn này thay vì chỉ công bố con số tổng hợp, song song với bảo đảm không gián đoạn quy trình quay số mở thưởng và trả thưởng trong quá trình chuyển đổi tổ chức. Từ phát hiện về cơ chế trung gian, các giải pháp về cơ chế tài chính đại lý, quản trị bằng dữ liệu và chuẩn hóa quan hệ với kênh phân phối cần được giữ nguyên, nhưng tiêu chí đánh giá phải chuyển từ mức tăng doanh thu sang mức độ củng cố niềm tin.

Tài liệu tham khảo:

1. Baldwin, R., Cave, M., & Lodge, M. (2012). Understanding regulation: Theory, strategy, and practice (2nd ed.). Oxford University Press.

2. Beckert, J., & Lutter, M. (2013). Why the poor play the lottery: Sociological approaches to explaining class-based lottery play. Sociology, 47(6), 115-1170.

3. Bộ Tài chính (2024). Báo cáo về hoạt động kinh doanh xổ số gửi các đại biểu Quốc hội phục vụ phiên chất vấn tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 18/3/2024.

4. Clotfelter, C. T., & Cook, P. J. (1990). On the economics of state lotteries. Journal of Economic Perspectives, 4(4), 105-119.

5. Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Lâm Đồng (2026). Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026.

6. Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981). Evaluating structural equation models with unobservable variables and measurement error. Journal of Marketing Research, 18(1), 39-50.

7. Friedman, M., & Savage, L. J. (1948). The utility analysis of choices involving risk. Journal of Political Economy, 56(4), 279-304.

8. Garrett, T. A., & Sobel, R. S. (2004). State lottery revenue: The importance of game characteristics. Public Finance Review, 32(3), 313-330.

9. Kearney, M. S. (2005). State lotteries and consumer behavior. Journal of Public Economics, 89(11-12), 2269-2299.

10. Lindeman, R. H., Merenda, P. F., & Gold, R. Z. (1980). Introduction to bivariate and multivariate analysis. Scott Foresman.

11. Podsakoff, P. M., MacKenzie, S. B., Lee, J. Y., & Podsakoff, N. P. (2003). Common method biases in behavioral research: A critical review of the literature and recommended remedies. Journal of Applied Psychology, 88(5), 879-903.

12. Preacher, K. J., & Hayes, A. F. (2008). Asymptotic and resampling strategies for assessing and comparing indirect effects in multiple mediator models. Behavior Research Methods, 40(3), 879-891.

13. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.

14. Stigler, G. J. (1971). The theory of economic regulation. The Bell Journal of Economics and Management Science, 2(1), 3-21.

15. Văn phòng Chính phủ (2025). Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc tại cuộc họp ngày 19/11/2025 về phương án sắp xếp doanh nghiệp kinh doanh xổ số tại Việt Nam.

Ngày nhận: 5/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 4/10/2026; Ngày duyệt đăng: 8/10/2026

Các tin khác

Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam

Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng mạng xã hội đã làm thay đổi đáng kể cách doanh nghiệp tiếp cận, tương tác và xây dựng mối quan hệ với khách hàng
Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất

Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất

Công nghệ số có thể hỗ trợ tăng trưởng xanh bằng cách tối ưu hóa sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và cải thiện khả năng giám sát môi trường. Tuy nhiên, tác động môi trường phát sinh trong toàn bộ vòng đời của công nghệ và hạ tầng số, từ khai thác nguyên liệu đến xử lý chất thải điện tử.
Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam

Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam

Dự báo giá là một trong những thách thức quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bán lẻ, bởi những giao dịch điện tử ngày càng có quy mô lớn.
Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam

Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam

Trong hệ thống quản trị tài chính doanh nghiệp, tiền lương không chỉ là công cụ duy trì nguồn nhân lực mà còn là một khoản chi phí trọng yếu ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo

Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo

Đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa đặc biệt đối với doanh nghiệp lữ hành, nơi chất lượng dịch vụ phụ thuộc trực tiếp vào năng lực xử lý nghiệp vụ và tình huống của người lao động.
Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay

Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay

Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, người dân Trà Quế (Đà Nẵng) đã chuyển từ nghề chài lưới sang làm nông dân và khai sinh ra nghề trồng rau nổi tiếng. Bề dày lịch sử và sự độc đáo của nghề trồng rau đã giúp làng rau Trà Quế nổi tiếng không chỉ trong Thành phố, khu vực mà trên cả nước.
Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử

Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử

Trong bối cảnh các sàn thương mại điện tử ngày càng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để cá nhân hóa đề xuất sản phẩm, người tiêu dùng dễ bị tác động bởi các gợi ý phù hợp với sở thích, nhu cầu và lịch sử mua sắm.
Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Biến đổi khí hậu toàn cầu và nguy cơ cạn kiệt nguồn năng lượng truyền thống đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển bền vững trong thế kỷ XXI. Để hướng tới mục tiêu trung hòa carbon, giảm cường độ năng lượng, tức nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trên một đơn vị đầu ra kinh tế đã trở thành chiến lược cốt lõi của nhiều quốc gia.
Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay

Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay

Phát triển du lịch hiện nay phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng liên kết giữa các ngành, địa phương và chủ thể kinh tế. Đối với du lịch sinh thái, yêu cầu này càng rõ do tài nguyên tự nhiên, môi trường và văn hóa bản địa vừa là nguồn lực khai thác, vừa cần được bảo vệ để bảo đảm phát triển bền vững.
Xu hướng công nghệ lượng tử và hoạt động ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế, cơ hội - thách thức và khuyến nghị đối với ngành ngân hàng Việt Nam

Xu hướng công nghệ lượng tử và hoạt động ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế, cơ hội - thách thức và khuyến nghị đối với ngành ngân hàng Việt Nam

Ngành ngân hàng Việt Nam có mức độ số hóa ngày càng cao, kéo theo yêu cầu lớn về bảo đảm an toàn dữ liệu và hạ tầng mật mã